CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1. Nhân lực “Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực. Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng con người, mức sống, thu nhập, chế dộ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế.
Thể lực con người còn phụ thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính… Trí lực chỉ suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách…của từng con người”. 7] “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động”. Nguồn nhân lực Khái niệm về nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế phát triển từ những năm giữa thế kỷ thứ XX, với ý nghĩa là nguồn lực của con người, thể hiện lại một sự nhìn nhận vai trò yếu tố con người trong quá trình phát triển.
nội hàm nguồn nhân lực không chỉ bao hàm những người trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động, cũng không chỉ bao hàm về mặt chất lượng mà còn chứa đựng các hàm ý rộng hơn. 12] Có nhiều khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực. Sau đây là một số khái niệm nguồn nhân lực ở phạm vi vĩ mô của nền kinh tế: Luan van 12 “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”. 12] “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai.
Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội”. 13] “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người, nhóm người, tổ chức, địa phương, vùng, quốc gia. Tính thống nhất đó được thể hiện ở quá trình biến nguồn lực con người thành vốn con người đáp ứng yêu cầu phát triển”. [11, tr 9] Tuy nhiên, luận văn nghiên cứu về công tác đào tạo nguồn nhân lực trong khách sạn - một doanh nghiệp - do đó xét đến một số khái niệm nguồn nhân lực trong doanh nghiệp như sau: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó”.
7] “Nguồn nhân lực của tổ chức bao gồm tất cả mọi người thực hiện các hoạt động của tổ chức”. 11] “Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp do chính bản chất của con người”. 1] Luan van 13 “Nguồn nhân lực của một tổ chức là tất cả những ai làm việc trong tổ chức, từ thủ trưởng cao nhất đến nhân viên bình thường nhất, thấp nhất, làm việc tay chân, đơn giản.
Đó cũng có thể là người đang chờ đợi để có thể vào làm việc cho tổ chức, tức là nguồn dự trữ của tổ chức”. 3] Luận văn đứng trên quan điểm của Giáo trình Quản trị nguồn nhân lực của Đại học Đà Nẵng: “Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo và những sự tận tâm nỗ lực hay bất cứ đặc điểm nào khác của người lao động. Đào tạo nguồn nhân lực Đào tạo nguồn nhân lực là một hoạt động trong quản trị nguồn nhân lực. Cho đến nay cũng có nhiều khái niệm khác nhau về đào tạo nguồn nhân lực: “Đào tạo là bất cứ nỗ lực nào để cải thiện kết quả của nhân viên, dựa trên công việc hiện nay họ đang nắm giữ, hoặc công việc nào có liên quan”.
63] “Đào tạo (hay còn gọi là đào tạo kỹ năng) là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn”. 153] Luận văn đứng trên quan điểm của PGS. Võ Xuân Tiến (Trường Đại học Đà Nẵng): “Đào tạo là hoạt động làm cho con người trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định.
Là quá trình học tập để làm cho người lao động có thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ”. MỤC ĐÍCH, VAI TRÒ, Ý NGHĨA CỦA ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC Mục đích của đào tạo nguồn nhân lực Mục đích của đào tạo là nhằm sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp cho người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp của mình và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn, với thái độ tốt hơn, cũng như nâng cao khả năng thích ứng của họ với các công việc trong tương lai. Những mục đích cơ bản: • Xây dựng và thực hiện một kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực và toàn doanh nghiệp bằng những hoạt động đào tạo có tổ chức của những nhóm khác nhau, thực hiện phân tích, đánh giá nhu cầu đào tạo của những người lao động ở mọi trình độ. • Chuẩn bị chuyên gia để quản lý, điều khiển và đánh giá những chương trình đào tạo.
• Xây dựng một phương án nghề nghiệp và một kế hoạch đào tạo từng thời kỳ nhất định phù hợ với tiềm năng của công ty, sắp xếp theo thứ tự của nghề chủ yếu. • Nghiên cứu về nhân lực, chuẩn bị như những số liệu về cơ cấu lao động và các lĩnh vực có liên quan. • Tạo thuận tiện cho thông tin nội bộ giữa các bộ phận quản lý và người lao động, thông tin ngược chiều liên quan đến nội bộ, đến động cơ của người lao động. Có nhiều lý do để nói rằng công tác đào tạo là quan trọng và cần được quan tâm đúng mức trong các tổ chức.
Trong đó có ba lý do chủ yếu là: Luan van 15 • Để đáp ứng yêu cầu của công việc tổ chức hay nói cách khác là để đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển tổ chức. • Để đáp ứng nhu cầu học tập, phát triển của người lao động. • Đào tạo là giải pháp có tính chiến lược tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Vai trò của đào tạo nguồn nhân lực • Đối với nền kinh tế xã hội - Đào tạo nguồn nhân lực có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia.
Đào tạo là cơ sở thế mạnh, là nguồn gốc thành công của các nước đang phát triển mạnh trên thế giới như Anh, Pháp, Nhật…Sự đào tạo nguồn nhân lực của các doanh nghiệp cũng chính là yếu tố tích cực thúc đẩy nền kinh tế phát triển. • Đối với doanh nghiệp - Nâng cao năng suất lao động, hiệu quả thực hiện công việc, - Nâng cao chất lượng của thực hiện công việc. - Giảm bớt sự giám sát vì người lao động được đào tạo là người có khả năng tự giám sát. - Nâng cao tính ổn định và năng lực của tổ chức.
- Duy trì và nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực. - Tạo điều kiện cho áp dụng tiến bộ kỹ thuật và quản lý vào doanh nghiệp. - Tạo ra được lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. • Đối với người lao động - Tạo ra được sự gắn bó giữa người lao động với doanh nghiệp.
- Tạo ra tính chuyên nghiệp của người lao động. - Tạo ra sự thích ứng giữa người lao động và công việc hiện tại. - Đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng phát triển của người lao động. Luan van 16 - Tạo cho người lao động có cách nhìn, cách tư duy mới trong công việc của họ, là cơ sở để phát huy tính sáng tạo của người lao động trong công việc.
Ý nghĩa của đào tạo nguồn nhân lực Đào tạo nguồn nhân lực có ý nghĩa rất quan trọng đối với các doanh nghiệp. Nó là động lực, chìa khóa mang lại lợi ích cho cả doanh nghiệp và người lao động. Vì thế, việc tổ chức đào tạo một cách có khoa học trong doanh nghiệp làm cho yếu tố con người, yếu tố then chốt trong kinh doanh được cải thiện, nâng cao về mợi mặt, tạo ra sản phẩm chất lượng cao và người tiêu dùng hài lòng, cảm thấy thoải mái, dễ chịu. Hơn thế nữa, làm tốt công tác còn tạo ra bầu không khí làm việc tốt đẹp trong doanh nghiệp.
TIẾN TRÌNH ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 1. Xác định mục tiêu đào tạo Xác định mục tiêu đào tạo là xác định cái đích đến, tiêu chuẩn cần đạt, tức là phải xác định mục đích, yêu cầu của sản phẩm khi quá trình đào tạo kết thúc. Đây là cơ sở để định hướng các nỗ lực đào tạo. Các mục tiêu này là cơ sở để xác định các chương trình, nội dung đào tạo, các hình thức tiến hành, thời gian và đối tượng tham gia các khóa đào tạo.
Đồng thời trong mục tiêu đào tạo cũng phải xác định học viên phải tiếp thu học hỏi được gì về các loại và mức độ của phản ứng, kiến thức, kỹ xảo, hành vi của nhân viên trong công việc và kết quả sau đào tạo. Việc xác định mục tiêu đào tạo sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động đào tạo nguồn nhân lực và là cơ sở để đánh giá trình độ chuyên môn của người lao động trong mỗi doanh nghiệp.