Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm liên quan 1. Nhân lực Nhân lực là nguồn lực xuất phát từ trong chính bản thân của từng cá nhân con người. Nhân lực bao gồm thể lực, trí lực và tâm lực.
Nguồn lực này ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của con người. Khi nguồn lực này đủ lớn, nó sẽ đáp ứng các điều kiện để con người có thể tham gia vào lao động, sản xuất. Chính vì điều đó, nhân lực tạo ra sự khác biệt so với các nguồn lực khác trong DN (nguồn vốn, công nghệ kỹ thuật, máy móc…). Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển.
Do đó, nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp là nguồn lực, là khả năng của mỗi con người bao gồm: thể lực, trí lực, khả năng của các giác quan, khả năng tiềm tàng về trí lực, bao gồm cả tư tưởng, quan điểm, đạo đức, nhân cách, tác phong, niềm tin, lý tưởng… của con người [19, tr. Những khả năng này được sử dụng vào quá trình hoạt động của con người, sinh ra công có ích, tạo ra của cải vật chất, các giá trị phục vụ cho con người. Từ khái niệm trên, trong đào tạo cần chú ý một số vấn đề sau: Sức mạnh hay nhân lực của mỗi cá thể con người là rất khác nhau ngay cả khi được giáo dục đào tạo trong cùng một môi trường như nhau, được bố trí làm cùng một công việc và trong những điều kiện như nhau.
Vì vậy, đòi hỏi tổ chức phải biết được mặt mạnh, mặt yếu, những sở trường, sở đoản, hoàn cảnh, điều kiện cá nhân của từng nhân viên để bố trí sử dụng sao cho thật hợp lý và phù hợp với khả năng mỗi người theo phương châm: đúng người, đúng việc, đúng lúc và đúng chỗ. Chủ động tạo ra môi trường làm việc để phát huy sở trường, khắc phục và hạn chế sở đoản của nhân viên. Trong đào tạo phải biết đánh giá từng nhân viên dưới quyền xem họ còn thiếu kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, phẩm chất, đạo đức nào để rồi tiến hành đào tạo, bồi dưỡng bổ sung kiến thức, kỹ năng, phẩm chất đó để nhân viên có thể đáp ứng được vị trí, công việc được phân công. 8 Khả năng của từng con người thay đổi theo không gian, thời gian, có người thay đổi, tiến bộ nhanh, có người chậm vì vậy phải thường xuyên đánh giá để biết được họ đã hội đủ các yếu tố tâm lực, thể lực, trí lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chưa để tiến hành đào tạo đối với từng người.
Khả năng tiềm tàng về trí lực là vô tận, Do đó, các tổ chức cần quan tâm đến việc phát hiện, tạo điều kiện thuận lợi để nhân viên phát triển tài năng, phát huy tính sáng tạo, cống hiến hết mình cho DN. Phải kết hợp giữa việc sử dụng với nâng cao chất lượng NNL, quy hoạch, bố trí, sắp xếp hợp lý, khoa học tạo điều kiện cho nhân viên nâng cao trình độ học vấn tay nghề, thích ứng với sự đòi hỏi của công việc và nhu cầu học tập của cá nhân của nhân viên. Cần chon ra những đối tượng có các khả năng, năng khiếu đặc biệt để quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng để phát triển. Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Theo nghĩa rộng, NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển.
Do đó, nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Các công trình nghiên cứu và thực tế phát triển của các nước đều đã khẳng định vai trò có tính chất quyết định của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã hội nói chung, đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay. Sự khẳng định này được trải qua thời gian kiểm nghiệm, đúc kết kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn.
Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: Số lượng (hay quy mô) nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực. Số lượng nguồn nhân lực thể hiện thông qua chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực. Về chất lượng, nguồn nhân lực được xem xét trên các mặt: sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực, phẩm chất, đạo đức…(hay còn gợi là Thể lực- Trí lực và tâm lực) Trong đó chất lượng nguồn nhân lực giữ vai trò quyết định sự 9 tồn tại của một DN [1, tr. Nếu xét về về góc độ sử dụng nguồn nhân lực người ta có thể chia thành NNL xã hội và NNL của tổ chức hay DN.
- “NNL xã hội bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và mong muốn có việc làm” [5, tr. Với quan điểm này thì được hiểu là những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng không muốn có việc làm thì không được xếp vào nguồn nhân lực xã hội. - “NNL của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” [4, tr. Khái niệm này chưa nêu rõ sức mạnh tiềm ẩn của nguồn nhân lực trong một tổ chức nếu họ được động viên, phối hợp tốt với nhau.
Xét một cách đầy đủ, nguồn nhân lực không chỉ là sức mạnh của những con người đang làm việc trong một tổ chức một cách thuần túy mà sức mạnh của nguồn nhân lực này còn thể hiện ở sức mạnh tập thể, sự đoàn két gắn bó giữa họ sẽ tạo nên sự cộng hưởng lớn hơn so với từng cá thể hợp thành, và nếu xét ở từng cá nhân đơn lẻ thì nguồn lực này còn thể hiện ở sức mạnh tinh thần hay còn gọi là tâm lực, bao gồm: Tư tưởng, đạo đức, phẩm chất, ý chí, niềm tin, sự quyết tâm, nỗ lực… của từng con người. Đây là yếu tố mà chỉ con người mới có, khiến con người trở lên mạnh mẽ hơn, có thể huy động toàn bộ thể lực, trí lực thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ cao hơn nữa, đó cũng là sự khác biệt giữa sức lao động và nhân lực mà lâu nay ít được nhắc đến khi nói về nguồn nhân lực. Từ các định nghĩa trên, theo tác giả luận văn, NNL trong DN được hiểu là tất cả các cá nhân đang làm việc trong DN, ở bất cứ vị trí, công việc nào, có tham gia vào giải quyết các công việc của DN. Nó bao gồm toàn bộ những người thuộc biên chế, hay người ngoài biên chế được huy động vào để giải quyết các công việc theo nhu cầu phát triển của tổ chức mang tính ổn định và lâu dài.
Đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Đào tạo nguồn nhân lực được hiểu là các hoạt động nhằm giúp người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những 10 hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn [4, tr. Đào tạo nguồn nhân lực trong DN là để cải thiện kết quả làm việc dựa trên công việc hiện tại mà họ đang nắm giữ hoặc công việc mà họ sẽ được phân công. Mục đích là nhằm thay đổi, nâng cao về trình độ, kiến thức, kĩ năng, quan điểm hoặc thái độ cụ thể thông qua các chương trình, các khóa học tập bồi dưỡng… Kết quả của quá trình đào tạo NNL sẽ nâng cao chất lượng, phát triển NNL đó.
Đào tạo NNL là cần thiết cho sự thành công của tổ chức và sự phát triển chức năng của con người. Việc đào tạo NNL không chỉ được thực hiện bên trong một tổ chức, mà còn bao gồm một loạt những hoạt động khác được thực hiện từ bên ngoài như: học việc, học nghề và hành nghề. Những mục tiêu của doanh nghiệp hướng đến trong đào tạo nguồn nhân lực bao gồm: động viên khuyến khích mọi thành viên tăng cường đóng góp cho tổ chức; thu hút và sử dụng tốt những người có đủ năng lực, trình độ; để từ đó đạt được giá trị lớn nhất thong qua những sản phẩm của người lao động làm ra để bù lại những chi phí đào tạo. Mặt khác, người lao động qua quá trình đào tạo cũng mong muốn được cung cấp những thông tin về đào tạo có liên quan đến mình; ổn định để phát triển; có cơ hội tiến bộ, thăng tiến trong công việc; có vị trí công việc thuận lợi để cống hiến nhiều hơn.
Như vậy, đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp nhằm sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của doanh nghiệp thông qua việc giúp cho người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp của mình và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách tự giác, với thái độ tốt hơn, cũng như nâng cao khả năng thích ứng của họ với các công việc trong tương lai. Mặt khác, nó giúp nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, tạo lòng tin và sự gắn kết của người lao động với doanh nghiệp cũng như đem lại cho doanh nghiệp những khoản doanh thu, lợi nhuận lớn và sự phát triển bền vững 1. Nội dung công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Các hoạt động đào tạo không diễn ra riêng biệt mà chúng liên quan tới nhau và bị ảnh hưởng bởi các chức năng khác nhau của đào tạo NNL, đặc biệt là đánh giá thực hiện công việc và quan hệ lao động. 11 Đào tạo nguồn nhân lực là cả một quá trình liên tục không ngừng và theo một tiến trình khoa học, được tiến hành thông qua các hoạt động hay nội dung sau [4, tr.