Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Kể từ sau công cuộc Đổi mới năm 1986, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao, gắn liền với sự hình thành và mở rộng của hệ thống các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) và các đặc khu kinh tế trên phạm vi cả nước. Các khu công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gia tăng kim ngạch xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, đồng thời tạo việc làm cho hàng triệu lao động. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực tại các khu công nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế. Trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng nghề của phần lớn người lao động chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu khắt khe của doanh nghiệp, đặc biệt ở các công đoạn sản xuất phức tạp và đòi hỏi công nghệ cao. Công tác đào tạo nghề cho người lao động còn bộc lộ nhiều bất cập, tốc độ cải thiện chất lượng lao động diễn ra chậm và không đồng đều giữa các vùng miền. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế bền vững.

Đề tài "Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho người lao động tại các khu công nghiệp ở Việt Nam" được tác giả Đào Gia Linh thực hiện dưới dạng chuyên đề thực tập tốt nghiệp ngành Quản lý công (Khoa Khoa học Quản lý, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân), dưới sự hướng dẫn của TS. Đinh Viết Hoàng và quá trình thực tập 12 tuần tại Viện Khoa học Môi trường và Xã hội.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm các nội dung cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề cho người lao động tại các khu công nghiệp.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động đào tạo nghề và công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho người lao động tại các khu công nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2012 – 6/2022; chỉ ra các thành tựu, hạn chế, khó khăn, thách thức và nguyên nhân của những tồn tại.
  3. Đề xuất các giải pháp và kiến nghị cụ thể đối với Nhà nước, cơ quan quản lý và các doanh nghiệp trong khu công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đào tạo nghề.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động đào tạo nghề cho người lao động và thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho người lao động tại các khu công nghiệp ở Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào đào tạo nghề và quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lực lượng lao động trong nước làm việc tại các khu công nghiệp.
  • Phạm vi không gian: Thực hiện trên phạm vi toàn quốc, trong đó tập trung phân tích số liệu khảo sát tại các khu công nghiệp thuộc 5 địa phương trọng điểm: Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Đà Nẵng, Bình Dương và Đồng Nai.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu và nghiên cứu các vấn đề thực tiễn từ năm 2012 đến hết tháng 6/2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý luận của khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và khái niệm học thuật chuẩn mực:

  • Khái niệm Khu công nghiệp: Được trích xuất theo Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ và định nghĩa của Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO).
  • Khái niệm Lao động: Theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019.
  • Khái niệm Đào tạo và Đào tạo nghề: Căn cứ theo Quy chế đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức của Bộ Tư pháp và các quy định giáo dục nghề nghiệp hiện hành.
  • Khái niệm Quản lý nhà nước về đào tạo nghề: Hoạt động thực thi quyền lực của các cơ quan nhà nước, sử dụng công cụ pháp luật và chính sách để điều chỉnh các hoạt động đào tạo nghề nhằm nâng cao chất lượng lao động, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng bao gồm:

  • Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Vụ Quản lý các khu kinh tế), Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (Cục Việc làm, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Thanh tra Bộ, Vụ Tài chính Hành chính sự nghiệp) và Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương.
  • Phương pháp kế thừa và phân tích dữ liệu khảo sát từ Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước mã số KX.45/16-20 ("Quản lý các vấn đề xã hội tại các khu công nghiệp ở Việt Nam", thực hiện năm 2019 với mẫu khảo sát 1.850 người lao động, 100 doanh nghiệp và 250 cán bộ quản lý).
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê mô tả và phương pháp so sánh đối chiếu số liệu theo chuỗi thời gian và không gian địa lý.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan về quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho người lao động tại khu công nghiệp ở Việt Nam

Chương I tập trung làm rõ các khái niệm cơ bản, vai trò của khu công nghiệp đối với nền kinh tế và tổng hợp bài học kinh nghiệm từ hai quốc gia châu Á:

  • Vai trò của khu công nghiệp: KCN tạo việc làm, thúc đẩy chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhờ chia sẻ hạ tầng, hạn chế ô nhiễm môi trường nội đô do vị trí cách xa thành phố lớn và tăng cường liên kết kinh tế vùng.
  • Kinh nghiệm của Nhật Bản: Phát triển nguồn nhân lực dựa trên Luật Thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực và Luật Thúc đẩy học tập suốt đời. Nhật Bản kết hợp 3 chính sách lớn: phân cấp cho chính quyền cấp tỉnh thiết lập cơ chế học tập; khuyến khích doanh nghiệp tư nhân liên kết với cộng đồng; huy động sự tham gia của Bộ Thương mại Quốc tế và Công nghiệp. Doanh nghiệp bắt buộc cam kết tạo cơ hội nâng cao tay nghề và được đánh giá theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi. Nhật Bản duy trì hệ thống thi tay nghề quy mô lớn như Thi kỹ năng nghề quốc gia, Thi kỹ năng nghề quốc tế, Giải thưởng Grand Prix.
  • Kinh nghiệm của Hàn Quốc: Xây dựng khung trình độ chuyên môn quốc gia từ năm 1974, thành lập cơ quan kiểm định KTQTA năm 1976 và sau đó chuyển giao sang cơ quan Quản lý và Đào tạo nghề Hàn Quốc trực thuộc Bộ Lao động và Việc làm năm 1981. Hệ thống do Ủy ban chuyên trách 32 thành viên điều hành, phân định rõ chứng chỉ quốc gia (542 nghề kỹ thuật, 162 nghề chuyên nghiệp) và chứng chỉ tư nhân (100 nghề được công nhận, 21.513 nghề đăng ký, 130 nghề trong doanh nghiệp). Tổ chức HRD và Phòng Thương mại và Công nghiệp Hàn Quốc (KCCI) tổ chức đánh giá cho khoảng 4 triệu lượt lao động mỗi năm, gắn liền quyền lợi chứng chỉ với tuyển dụng, trả lương và thăng tiến.

Chương II: Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo cho lao động tại khu công nghiệp ở Việt Nam

Chương II phản ánh toàn diện bức tranh thực tiễn thông qua các số liệu thống kê và khảo sát chuyên sâu:

1. Tình hình phát triển KCN và sử dụng lao động

Tính đến hết năm 2021, Việt Nam có 397 KCN được thành lập tại 61/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với tổng diện tích gần 123 nghìn ha (352 KCN ngoài khu kinh tế, 37 KCN trong khu kinh tế ven biển, 8 KCN trong khu kinh tế cửa khẩu). Đến tháng 6/2022, Chính phủ thành lập thêm 9 KCN mới với diện tích 2.472 ha. Tính đến tháng 10/2021, các KCN đã thu hút 10.996 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 230,2 tỷ USD và 10.211 dự án trong nước (DDI) với tổng vốn 2,54 triệu tỷ đồng.

Năm Tổng số KCN Số KCN hoạt động Số KCN đang xây dựng cơ bản Diện tích đất tự nhiên (nghìn ha) Tỷ lệ lấp đầy (%)
2019 330 258 72 97,0 74,3
2020 369 284 85 114,0 70,2
2021 397 291 106 122,5 70,9

Nguồn: Tổng hợp số liệu của Vụ Quản lý các khu kinh tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Theo số liệu của Cục Việc làm năm 2018, có 48.769 doanh nghiệp hoạt động tại các KCN, KCX, KCNC (chiếm 7,7% tổng số doanh nghiệp cả nước) sử dụng 4.932 lao động được khảo sát (trong đó doanh nghiệp ngoài nhà nước có 22.875 người, FDI có 23.441 người và nhà nước có 3.986 người).

2. Chất lượng và trình độ đào tạo của người lao động

Theo kết quả khảo sát 1.850 lao động từ Đề tài KX.45/16-20 (năm 2019):

  • Trình độ học vấn: Tốt nghiệp THPT chiếm 63,3% (1.171 người); tốt nghiệp THCS chiếm 24,1% (445 người); tốt nghiệp tiểu học chiếm 4,2% (71 người); đại học và sau đại học chiếm 4,0% (89 người). Tỷ lệ lao động phổ thông còn rất cao tại các địa phương: Vĩnh Phúc (82,5%), Đà Nẵng (78,1%), Bắc Ninh (68,3%), Đồng Nai (61,5%), Bình Dương (52,9%).
  • Trình độ chuyên môn, tay nghề: Lao động phổ thông chưa qua đào tạo chiếm tới 68,6%. Tỷ lệ lao động có chứng chỉ sơ cấp nghề chỉ đạt 3,1%, trung cấp nghề đạt 8,6%, cao đẳng nghề đạt 8,4% và các loại hình khác chiếm 11,4%.
  • Mạng lưới đào tạo: Đến năm 2020, cả nước có 1.911 cơ sở giáo dục nghề nghiệp (408 trường cao đẳng, 446 trường trung cấp, 1.057 trung tâm giáo dục nghề nghiệp). Giai đoạn 2016 - 2020 đã tuyển sinh 11,1 triệu người và tốt nghiệp 10,2 triệu người (trong đó cao đẳng và trung cấp tốt nghiệp 1,99 triệu người; sơ cấp và chương trình khác tốt nghiệp 8,21 triệu người). Một số cơ sở đào tạo gắn với doanh nghiệp KCN được hình thành như Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore (KCN VSIP Bình Dương), Cao đẳng nghề kỹ thuật công nghệ Dung Quất, Cao đẳng nghề Chu Lai - Trường Hải.
  • Hoạt động đào tạo lại: 92,7% doanh nghiệp và 70,5% người lao động khẳng định có tham gia đào tạo lại tay nghề. Tuy nhiên, chỉ có 9,11% doanh nghiệp hợp tác với các trường đào tạo nghề và chỉ gần 5% doanh nghiệp tiếp nhận học viên thực tập cuối khóa.

3. Thực trạng mô hình và công cụ quản lý nhà nước

  • Mô hình quản lý: Kết hợp quản lý theo ngành dọc (Bộ LĐTB&XH chỉ đạo chuyên môn; Ban Quản lý KCN trực thuộc UBND tỉnh trực tiếp tiếp nhận báo cáo lao động, hợp đồng thực tập), quản lý theo ngành ngang (phối hợp giữa Bộ LĐTB&XH, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội vụ) và phân cấp - phân quyền giữa Trung ương với địa phương.
TT Khó khăn, thách thức trong mô hình quản lý và tổ chức thực thi công vụ Tỷ lệ cán bộ đánh giá (%)
1 Khó khăn về quy trình, trình tự thực hiện thủ tục hành chính trong hoạt động quản lý 63,8
2 Khó khăn do việc phân công, phân cấp, phân quyền trong giải quyết thủ tục hành chính chưa rõ ràng, hợp lý 61,3
3 Khó khăn do quy chế phối hợp trong giải quyết thủ tục hành chính chưa hiệu quả 68,1

Nguồn: Số liệu khảo sát 250 cán bộ của Đề tài KX.45/16-20 năm 2019

  • Chính sách pháp luật: Hệ thống thể chế từng bước hoàn thiện với Hiến pháp 2013, Bộ luật Lao động 2019, Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014, Luật Việc làm 2013, Nghị định 145/2020/NĐ-CP, Nghị định 82/2018/NĐ-CP. Dù vậy, việc chuẩn hóa kỹ năng còn chậm khi chỉ mới có 84/191 nghề xây dựng đủ ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm và bài thi thực hành; thiếu nền tảng CNTT thống nhất quản lý cấp chứng chỉ quốc gia; chế tài xử lý người lao động tự ý bỏ việc sau đào tạo hoặc buộc doanh nghiệp sử dụng lao động qua đào tạo còn lỏng lẻo.
  • Tổ chức bộ máy và nhân lực: Đội ngũ công chức quản lý lao động có trình độ đại học chiếm 51,4%, sau đại học chiếm 44,6%, cao đẳng chiếm 2,6% và trung cấp chiếm 1,4%. Đội ngũ cán bộ công đoàn phần lớn làm việc kiêm nhiệm, chỉ có 641 người hưởng lương chuyên trách từ công đoàn.
  • Nguồn lực tài chính: Chi ngân sách nhà nước (NSNN) cho giáo dục, đào tạo và dạy nghề năm 2020 tăng gấp 1,41 lần so với năm 2015, chiếm khoảng 60% tổng nguồn tài chính dạy nghề. Dự toán ngân sách giao cho cơ quan quản lý nhà nước của Bộ LĐTB&XH năm 2020 và 2021 là 149.210 triệu đồng và 149.460 triệu đồng. Tuy nhiên, 77,4% cán bộ được hỏi đánh giá nguồn lực tài chính hiện nay là chưa phù hợp với nhu cầu thực tế.
  • Tuyên truyền và thanh tra: Có 80,7% doanh nghiệp xác nhận cơ quan nhà nước có tuyên truyền chính sách; 81% lao động biết đến chính sách việc làm (trong đó 77,7% tiếp cận được). Về công tác thanh tra:
Tiêu chí Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021
Số cuộc thanh tra 7.067 - -
Số kiến nghị 43.810 - -
Số quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.497 320 424
Tổng số tiền xử phạt (tỷ đồng) 47,37 8,2 -
Tổng số tiền kiến nghị đình chỉ, thu hồi sai chính sách (tỷ đồng) 161,894 175,0 -

Nguồn: Số liệu của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

Lực lượng thanh tra viên lao động còn rất mỏng, mới chỉ đáp ứng khoảng 40% tiêu chí của ILO (cả nước cần 800 – 1.000 thanh tra viên), dẫn đến việc mỗi năm chỉ thanh tra được khoảng 3,4% tổng số doanh nghiệp trên địa bàn.

Chương III: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý vấn đề xã hội về lao động tại các khu công nghiệp ở Việt Nam

Trên cơ sở phân tích thực trạng, chương III đưa ra các nhóm giải pháp có tính định hướng:

  • Đối với doanh nghiệp và khu công nghiệp: Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức; tăng cường bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ quản lý KCN; doanh nghiệp cần chủ động ký kết hợp đồng đào tạo, tiếp nhận thực tập sinh và hợp tác xây dựng chương trình giảng dạy với các cơ sở đào tạo nghề uy tín.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước:
    1. Hoàn thiện khung khổ pháp lý: Xác định rõ doanh nghiệp và người sử dụng lao động là chủ thể bắt buộc của hoạt động đào tạo nghề trong Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014 và Bộ luật Lao động 2019; bổ sung chế tài xử phạt đối với hành vi không báo cáo kết quả đào tạo nghề về Sở LĐTB&XH; quy định rõ ràng trách nhiệm bồi hoàn và cam kết làm việc của người lao động sau khi được doanh nghiệp tài trợ đào tạo.
    2. Tăng cường cơ chế phối hợp: Xây dựng quy chế phối hợp liên ngành giữa UBND cấp tỉnh, Ban Quản lý KCN, Sở LĐTB&XH và cơ sở dạy nghề; bố trí ngân sách địa phương hỗ trợ kinh phí học nghề cho lao động KCN.
    3. Hiện đại hóa công cụ quản lý: Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu và thu thập thông tin thị trường lao động thường xuyên; gắn hoạch định chính sách với công tác dự báo nhu cầu nhân lực; đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quản lý, cấp chứng chỉ và báo cáo lao động.
    4. Đổi mới truyền thông và thanh tra: Đa dạng hóa hình thức tuyên truyền pháp luật trên không gian mạng và phương tiện thông tin đại chúng; nâng cao năng lực chuyên môn và số lượng thanh tra viên lao động; thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát hậu thanh tra để đôn đốc việc khắc phục vi phạm tại doanh nghiệp.

Kết quả và đóng góp

  • Tổng hợp hệ thống dữ liệu thực chứng: Đề tài đã hệ thống hóa các chỉ tiêu định lượng cụ thể về quy mô phát triển khu công nghiệp (397 KCN), thực trạng cơ cấu học vấn (63,3% THPT, 68,6% lao động phổ thông) và mức độ gắn kết giữa doanh nghiệp với cơ sở giáo dục nghề nghiệp (chỉ 9,11% doanh nghiệp có hợp tác đào tạo).
  • Chỉ ra các điểm nghẽn quản lý: Phân tích rõ các bất cập trong phân cấp hành chính, sự thiếu hụt nghiêm trọng của đội ngũ thanh tra viên lao động (chỉ đạt 40% chuẩn ILO), tình trạng thiếu vắng ngân hàng đề thi chuẩn hóa nghề quốc gia (mới đạt 84/191 nghề) và sự lỏng lẻo trong quy định ràng buộc trách nhiệm sau đào tạo giữa người lao động và doanh nghiệp.
  • Đề xuất giải pháp bám sát thực tiễn: Khóa luận đưa ra các kiến nghị mang tính quản lý công rõ nét, tập trung vào hoàn thiện thể chế luật pháp, phân cấp quản lý cho Ban Quản lý KCN, số hóa cơ sở dữ liệu lao động và tăng cường liên kết 3 bên (Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát sâu của đề tài chủ yếu tập trung vào dữ liệu thứ cấp tại 5 địa phương (Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Đà Nẵng, Bình Dương, Đồng Nai) và chỉ giới hạn đối với đối tượng lao động trong nước. Đề tài chưa đi sâu phân tích đối tượng lao động nước ngoài làm việc trong các khu công nghiệp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế quản lý nhà nước đối với các mô hình KCN mới (như KCN sinh thái, KCN hỗ trợ theo Nghị định 82/2018/NĐ-CP); nghiên cứu sâu hơn về tác động của chuyển đổi số và tự động hóa đến nhu cầu đào tạo lại tay nghề cho công nhân KCN trong bối cảnh công nghiệp 4.0.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lý công, Quản lý nhà nước, Kinh tế lao động và Quản trị nhân lực khi thực hiện đề tài về chính sách lao động, việc làm.
  • Nội dung giá trị: Các chương phân tích về mô hình phân cấp quản lý ngành dọc - ngành ngang, số liệu thực trạng thanh tra lao động và các bảng số liệu trích xuất từ Đề tài cấp Nhà nước KX.45/16-20 là những tư liệu thực chứng có giá trị tham khảo cao.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ lao động phổ thông chưa qua đào tạo tại các khu công nghiệp theo kết quả khảo sát là bao nhiêu?
Theo kết quả khảo sát 1.850 lao động từ Đề tài KX.45/16-20 được trích dẫn trong văn bản, tỷ lệ lao động phổ thông chiếm tới 68,6%; lao động có trình độ sơ cấp nghề chỉ chiếm 3,1%, trung cấp nghề chiếm 8,6% và cao đẳng nghề chiếm 8,4%.

2. Tỷ lệ doanh nghiệp trong khu công nghiệp tham gia hợp tác với cơ sở dạy nghề đạt mức nào?
Theo báo cáo của Cục Việc làm được nêu trong đề tài, chỉ có 9,11% số doanh nghiệp tham gia hợp tác với các trường/cơ sở đào tạo nghề và chỉ gần 5% số doanh nghiệp tiếp nhận học viên đến thực tập cuối khóa.

3. Khó khăn lớn nhất trong mô hình quản lý và tổ chức thực thi công vụ tại KCN là gì?
Theo khảo sát 250 cán bộ quản lý, khó khăn lớn nhất là quy chế phối hợp trong giải quyết thủ tục hành chính chưa hiệu quả (chiếm 68,1%), tiếp theo là khó khăn về quy trình, trình tự thực hiện thủ tục hành chính (63,8%) và phân công, phân cấp, phân quyền chưa rõ ràng (61,3%).

4. Thực trạng lực lượng thanh tra viên lao động tại Việt Nam đáp ứng được bao nhiêu phần trăm nhu cầu?
Số lượng thanh tra viên lao động thực tế mới chỉ đạt khoảng 40% yêu cầu theo tiêu chí của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO cần 800 - 1.000 người), khiến mỗi năm cơ quan chức năng chỉ tiến hành thanh tra được khoảng 3,4% tổng số doanh nghiệp trên địa bàn.

Kết luận

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp của tác giả Đào Gia Linh đã phác thảo bức tranh toàn diện về thực trạng đào tạo nghề và công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động tại các khu công nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2012 – 2022. Bằng việc kết hợp lý luận quản lý công với các dữ liệu khảo sát thực tế, công trình đã làm rõ những rào cản về cơ cấu tay nghề, phân cấp quản lý, cơ chế thanh tra và mối liên kết lỏng lẻo giữa doanh nghiệp với cơ sở đào tạo. Hệ thống các giải pháp được đề xuất cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn thiết thực nhằm hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực khu công nghiệp trong giai đoạn mới.