Chương I: Tổng quan về quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho người lao động tại các khu công nghiệp ở Việt Nam Chương II: Thực trạng về quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho người lao động tại các khu công nghiệp ở Việt Nam Chương III: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho người lao động tại các khu công nghiệp ở Việt Nam CHUONG I: TONG QUAN VE QUAN LÝ NHÀ NƯỚC VE ĐÀO TẠO NGHE CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TAI KHU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM 1. Một số khái niệm về khu công nghiệp và quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho người lao động tại khu công nghiệp 1. Khu công nghiệp Theo khoản 1 Điều 2 Nghị định 82/2018/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ, khu công nghiệp được định nghĩa như sau: “KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục do Chính phủ quy định. Khu công nghiệp gồm nhiều loại hình khác nhau, bao gồm: Khu chế xuất, khu công nghiệp hỗ trợ, khu công nghiệp sinh thai”.
Còn theo Tổ chức công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO): “KCN là khu có hàng rào ngăn cách với bên ngoài, chịu sự quản lý riêng, tập trung tat cả các doanh nghiệp hoạt động theo bat kỳ cơ chế nào, miễn là phù hợp với các quy định quy hoạch về vị trí và ngành nghề, một phan đất nằm trong KCN có thể dành cho khu chế xuất ”. Từ hai khái niệm trên, chúng ta có thé hiểu, KCN là khu vực tích hợp về kinh doanh và sản xuất. Các KCN đều có ranh giới ngăn cách với khu vực bên ngoài. Các doanh nghiệp trong KCN chuyên sản xuất hàng công nghiệp, thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp và được hưởng lợi từ các dịch vụ cơ sở hạ tầng.
Lao động Theo Luật Lao động 2019: “Lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thoả thuận, được trả lương và chiu sự quan lý, điều hành, giảm sát của người sử dụng lao động”. Đào tạo Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Quy chế dao tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức do Bộ Tư pháp ban hành: “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thông những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học”. Đào tạo nghề cho người lao động Đào tạo nghề cho NLD được hiểu là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho NLD dé người học sau khi được đào tạo có thê hành nghề. Quản lý Quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thé quản lý lên đối tượng quản lý dé điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính 6n định và phát triển của đối tượng quan lý theo những mục tiêu đã định.
Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho người lao động Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho người lao động là hoạt động thực thi quyền lực của các cơ quan nhà nước, sử dụng pháp luật và chính sách dé điều chỉnh toàn bộ hoạt động đào tạo nghề đối với NLD nhằm đảm bảo trật tự, kỷ cương, hiệu lực, hiệu quả của hoạt động đào tạo nghé, thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng NLD, đáp ứng yêu cau phát triển kinh tế - xã hội. Vai trò của các khu công nghiệp đối với nền kinh tế Từ khi mới ra đời, KCN đã đóng vai trò vô cùng quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế, cũng như của toàn xã hội. Một lợi ích dé nhận thấy nhất là các KCN đã tạo thêm nhiều cơ hội dé NLD có việc làm, góp phần không nhỏ làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, cũng như làm phát triển kinh tế của địa phương. Sức hút của các KCN đã dẫn đến dòng dịch chuyền lao động từ nông thôn đến các KCN ngày càng tăng.
NLD sẵn sang rời bỏ khu vực sản xuất nông thôn dé tham gia vào khu vực sản xuất công nghiệp, từ đó, tạo ra các khu vực dân cư có mật độ cao với nhiều nhu cầu dịch vụ như học tập, ăn, ở, đi lại,. Hơn nữa, các KCN đã làm thúc day quá trình đổi mới và hoàn thiện môi trường kinh doanh, cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp khi làm giảm thiểu đáng kể chi phí và tăng năng suất lao động. Điều này được thê hiện rat rõ nét và có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Như chúng ta đã biết, đa phần các doanh nghiệp tại Việt Nam là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì vậy, họ thường chưa đủ khả năng, tiềm lực dé có thé tự cung câp nguôn lực nhăm khiên cho quá trình vận hành trở nên hiệu quả và đem lại lợi nhuận cao.
Do đó, khi ở trong một KCN, họ có thể tận dụng nguồn lực của chính KCN đó, cũng như từ các tổ chức khác dé hạn chế chi phí một cách tối đa mà vẫn đem lại năng suất cao. Không chỉ vậy, các KCN còn có ý nghĩa quan trọng giúp giải quyết các vấn đề về môi trường khi chúng thường được xây dựng xa các thành phố lớn. Nếu xây dựng các nhà máy trong hoặc xung quanh các thành phố sẽ gây ra các tac động rat tiêu cực như khiến không khí và môi trường nội đô, vốn đã ô nhiễm, lại cảng thêm trầm trọng. Cuối cùng, các khu công nghiệp giúp các địa phương có điều kiện thuận lợi dé phat huy thế mạnh đặc thù của minh, đồng thời sự liên kết, hỗ trợ phát triển sản xuất trong địa phận khu công nghiệp đó, cũng như của vùng, miền và trên cả nước.
Kinh nghiệm quốc tế về hoạt động đào tạo người lao động 1. Kinh nghiệm của Nhật Bản Từ hàng thập ky nay, trên cơ sở Luật thúc day phát triển nguồn nhân lực và Luật thúc day học tập suốt đời, Nhật Bản đã xây dựng và phát triển hệ thống đánh giá, công nhận trình độ kỹ năng nghề của người lao động. Những hoạt động này đã đem lại cho Nhật Bản nhiều bước đột phá dé từ đó nâng cao chất lượng, hiệu quả lao động và chuẩn hoá nguồn nhân lực quốc gia. Trong Luật thúc đây học tập suốt đời gồm 3 chính sách lớn: Khuyến khích các tỉnh thiết lập cấu trúc từ trên xuống để xây dựng chương trình, kế hoạch và cung cấp cơ hội học tập suốt đời riêng cho địa phương dựa trên chương trình quốc gia đảm bảo phân cấp và phù hợp với điều kiện của từng địa phương: Khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân hợp tác trong việc phát triển xã hội học tập suốt đời thông qua kết nối với cộng đồng và các khu vực phi lợi nhuận; Thúc đây sự tham gia của Bộ Thương mại Quốc tế và Công nghiệp trong việc hỗ trợ học tập suốt đời, qua đó khuyến khích các chương trình và chính sách của ngành công nghiệp tư nhân triển khai chương trình học tập suốt đời tại doanh nghiệp.
Trong khi đó, Luật thúc đây phát triển nguồn nhân lực lại quy định hoạt động công nhận, đánh giá cấp chứng chi kỹ năng nghề quốc gia. Theo Luật này, các DN và NSDLD tham gia vào hoạt động đào tạo nghé, phát triển kỹ năng va năng lực hành nghề, đánh giá và công nghệ kỹ năng nghề cho NLD thông qua nhiều giải pháp và các cơ hội khác nhau. DN và NSDLĐ bắt buộc phải cam kết rằng khi làm việc tại DN, NLĐ sẽ có cơ hội phát triển và nâng cao khả năng nghề băng cách tham gia các loại hình đào tạo nghề nghiệp phù hợp. Sau khi được DN đào tạo bang hình thức tự đào tạo hoặc kết hợp với các cơ sở đảo tạo nghề khác, NLD sẽ được DN va NSDLĐ đánh giá kỹ năng nghề.
Đặc biệt, các DN hoặc cơ sở đào tạo tham gia dao tạo phải đáp ứng tiêu chuẩn về chương trình dao tạo theo quy định của Bộ Y tế, Bộ Lao động và Phúc lợi Nhật Bản. Không chỉ dừng lại ở hoạt động đào tạo của các DN, Nhật Bản còn tô chức nhiều cuộc thi kỹ năng nghề như “Thi kỹ năng nghề quốc gia”, “Thi kỹ năng nghề quốc tế”, “Thi kỹ năng nghề cho người khuyết tật”, “Giải thưởng Grand Prix dành cho người lao động được cấp chứng chỉ bậc 1 (lao động trình độ cao)”, “Cuộc thi tay nghề giữa lao động đã được cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia”, “Cuộc thi kỹ năng lao động trẻ”, “Giải thưởng kỹ thuật viên xuất sắc”, “Giải thưởng liên quan đến phát triển năng lực nghề” do Bộ Y tế và Bộ Lao động và Phúc lợi Nhật Ban cấp. Nhờ những cuộc thi này, NLD Nhật Bản không ngừng được phát trién, hoàn thiện kỹ năng và kiến thức dé có thé đáp ứng với vị trí và yêu cầu việc làm. Kinh nghiệm của Hàn Quốc Năm 1974, chính phủ Hàn Quốc đã ban hàng Đạo luật quy định khung về trình độ chuyên môn quốc gia và Nghị định hướng dẫn thực thi luật này.
Đến năm 1976, cơ quan ở Trung ương (Korea Technical Qualification Testing Agency) KTQTA trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ Han Quốc đã được Chính phủ thành lập để đảm nhận nhiệm vụ tổ chức thực thi, đánh gia, công nhận trình độ cho hai đối tượng là kỹ sư và thợ thủ công. Với sự sửa đổi Đạo luật này tháng 12/1981, trách nhiệm mà KTQTA đảm nhận được chuyền sang cơ quan Quản lý và Dao tạo nghề Hàn Quốc (Korea Vocational Training & Management Agency) thuộc Bộ Lao động và Việc làm Hàn Quốc. Ngay sau đó, Bộ Lao động và Việc làm Hàn Quốc đã thành lập Ủy ban chuyên trách về hệ thống chứng chỉ chuyên môn nêu trên. Uỷ ban này gồm 32 thành viên là các quan chức cấp cao của 21 bộ ngành, 10 chuyên gia.
Trong đó, Thứ trưởng Bộ Lao động và Việc làm được bầu làm Chủ tịch của Uỷ ban này. Bộ Lao động và Việc làm Hàn Quôc phôi hợp với các Bộ, ngành liên quan chịu trách nhiệm toàn bộ về quản lý hệ thống chứng chỉ chuyên môn quốc gia; lên kế hoạch thực thi đánh giá kỹ thuật nghề quốc gia, quản lý, giám sát thực thi pháp luật liên quan tới hệ thong chứng chỉ kỹ thuật nghề quốc gia; ban hành hoặc bãi bỏ các loại chứng chỉ kỹ thuật nghề quốc gia, các yêu cầu đối với môn thi lý thuyết và ứng dụng; quyết định các chuẩn; nghiên cứu dé cải thiện hệ thống chứng chi, chính sách ưu đãi đối với NLD có chứng chỉ kỹ thuật nghề quốc gia.