Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. KHÁI NIỆM, VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã Con người luôn là nhân tố quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của bất cứ tổ chức nào, bởi chỉ có thông qua con người, tổ chức mới có thể đạt được mục tiêu của mình. Con người trong cơ quan nhà nước càng có vai trò quan trọng hơn, đây là lực lượng lao động đặc biệt trong xã hội, là nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của mọi công việc trong quản lý nhà nước, là lực lượng đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nền hành chính quốc gia.
Vì vậy lúc sinh thời Bác Hồ luôn quan tâm tới đến công tác cán bộ đặc biệt là công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCC. Ngay từ những ngày đầu kiến thiết đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 76/SL, ngày 20/5/19590 về quy chế công chức. Sau đó có một số văn bản quy phạm pháp luật quy định về CBCC đã được nhà nước ban hành như Nghị định 169/HĐBT ngày 25 tháng 5 năm 1991, Pháp lệnh CBCC năm 1998. Tuy nhiên đến trước thời điểm năm 2003 thì vẫn chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào điều chỉnh đối tượng CBCC cấp xã, một lực lượng đông đảo trong hệ thống chính trị, điều đó đã ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả hoạt động của cấp xã.
Để khắc phục hạn chế trên thì Pháp lệnh CBCC năm 2003 sửa đổi bổ sung một số điều Pháp lệnh CBCC năm 1998 đã sửa đổi, bổ sung khái niệm CBCC và đưa đối tượng CBCC cấp xã vào phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh này. Theo quy định tại điều 1 của Pháp lệnh CBCC sửa đổi bổ sung năm 2003 thì đối tượng z là CBCC đã được mở rộng đến tận cấp xã. Lần đầu tiên những người làm việc ở cấp xã (trong thường trực Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND), tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội và 07 chức danh làm công tác chuyên môn) đã được đề cập đến trong Pháp lệnh và gọi chung là CBCC cấp xã. Trong Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh CBCC mới chỉ dừng lại ở việc quy định chung về CBCC.
Để cụ thể hóa Pháp lệnh, ngày 10 tháng 10 năm 2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định 114/NĐ-CP về CBCC xã, phường, thị trấn. Nghị định này quy định về chức danh, tiêu chuẩn, nghĩa vụ quyền lợi, những việc không được làm, chế độ chính sách và quản lý CBCC xã, phường, thị trấn (gọi chung là CBCC cấp xã). Theo Luật CBCC và Nghị định số 92/2009/NĐ-CP quy định khái niệm CBCC cấp xã như sau: Cán bộ cấp xã là công dân Việt Nam được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ, trong thường trực HĐND, UBND, người đứng đầu các tổ chức chính trị - xã hội trong biên chế hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Gồm: - Bí thư, phó bí thư Đảng ủy - Chủ tịch, phó chủ tịch Hội đồng nhân dân - Chủ tịch, phó chủ tịch Ủy ban nhân dân - Chủ tịch Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam - Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh - Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam - Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam - Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam [29].
z Đối với cán bộ chuyên trách cấp xã được chia làm hai nhóm: - Nhóm thứ nhất: Cán bộ làm việc trong các cơ quan nhà nước (HĐND, UBND) do cử tri bầu theo quy định của pháp luật về bầu cử để thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo vị trí, tính chất công việc. - Nhóm thứ hai: Cán bộ làm việc trong tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội do các thành viên của tổ chức đó bầu theo điều lệ của tổ chức để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà tổ chức giao. Như vậy cả hai nhóm cán bộ này đều chủ yếu hình thành bằng con đường bầu cử nhưng cách thức bầu, tính chất công việc hoàn toàn khác nhau. Vì vậy, trong hoạt động ĐTBD kiến thức pháp luật phải chú ý tới dấu hiệu đặc thù đó để có nội dung, phương pháp phù hợp với tính chất công việc việc của mỗi nhóm.
Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Gồm: - Trưởng công an - Chỉ huy trưởng quân sự - Văn phòng - Thống kê - Địa chính - Xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - Nông nghiệp và môi trường (đối với xã) - Tài chính - Kế toán - Tư pháp - Hộ tịch - Văn hóa - Xã hội [29]. Số lượng của CBCC cấp xã được bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã, trong đó gồm cả CBCC điều động, biệt phái, luân chuyển về cấp xã. Cụ thể: z - Xã loại 1: không quá 25 người - Xã loại 2: không quá 23 người - Xã loại 3: không quá 21 người [14].
Vị trí, vai trò của cán bộ, công chức cấp xã Theo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001) thì cấp xã là một trong bốn cấp đơn vị hành chính của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Về cấu trúc thì cấp xã bao gồm có các cơ quan nhà nước như HĐND và UBND ngoài ra ở cấp xã còn có cơ quan, tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam đó là Đảng ủy cấp xã và các tổ chức chính trị - xã hội. Theo quy định của pháp luật thì cấp xã là một cấp đơn vị hành chính có tổ chức bộ máy đơn giản nhất nhưng cũng là cấp gần dân nhất, trực tiếp giải quyết những yêu cầu để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, là nơi nối liền Đảng, Nhà nước, các tổ chức trong hệ thống chính trị của đất nước với nhân dân, đảm bảo thực hiện thắng lợi mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Vì vậy, sự vững mạnh về mọi mặt của cấp xã sẽ là điều kiện đảm bảo cho hoạt đồng bình thường, ổn định của cả hệ thống chính trị.
Điều đó đã được Bác Hồ khẳng định: Cấp xã là cấp gần gũi với dân nhất, là nền tảng của hành chính, cấp xã làm được thì mọi việc đều xong xuôi. Như vậy vai trò của cấp xã đã được nhìn nhận từ rất lâu, điều đó chứng tỏ tầm quan trọng của đội ngũ CBCC cấp xã, nó quyết định hiệu quả, chất lượng làm việc của chính quyền cấp xã. Hoạt động của cấp xã được tiến hành bởi đội ngũ CBCC. Họ là người trực tiếp thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong phạm vi địa giới hành chính, trực tiếp giải quyết theo thẩm quyền các yêu cầu của nhân dân, lắng nghe những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân.
CBCC cấp xã cũng là người thường xuyên tiếp xúc với nhân dân để triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối z của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và đưa những quy định đó vào thực tiễn cuộc sống tạo ra sự ổn định về mọi mặt kinh tế, văn hóa - xã hội, hành chính - chính trị, an ninh - quốc phòng. Thông qua hoạt động của CBCC cấp xã sẽ đánh giá được chất lượng hoạt động của tổ chức Đảng, của cơ quan nhà nước, đánh giá được tính phù hợp, khách quan của các chính sách, pháp luật. Từ đó để kịp thời sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh và xử lý trong trường hợp cần thiết. CBCC cấp xã còn là những "tuyên truyền viên" pháp luật góp phần nâng cao trình độ dân trí, ý thức pháp luật của nhân dân tạo điều kiện cho người dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.
Đây là một trong những yêu cầu cơ bản khi xây dựng nhà nước pháp quyền. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho cán bộ, công chức cấp xã Đào tạo, bồi dưỡng là hoạt động quan trọng trong công tác quản lý, phát triển nguồn nhân lực của các cơ quan nhà nước, tổ chức nhằm xây dựng và phát triển một đội ngũ CBCC chuyên nghiệp, thành thạo về chuyên môn, vững vàng về năng lực quản lý. ĐTBD CBCC phải dựa trên cơ sở xác định nhu cầu ĐTBD của từng vị trí công tác, năng lực thực hiện công việc của CBCC.
Theo Từ điển tiếng Việt, đào tạo được hiểu là việc "làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định" [46, tr. Theo đó: Đào tạo theo một nghĩa chung nhất được hiểu là quá trình tác động đến con người làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho họ z thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào phát triển xã hội [30]. Như vậy đào tạo kiến thức pháp luật cho CBCC cấp xã chính là quá trình tác động đến đối tượng làm cho họ có trình độ, năng lực thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật. Cũng theo Từ điển tiếng Việt bồi dưỡng là việc "làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất" [46, tr.
Còn theo Nghị định 18/2010/NĐ-CP về đào tạo bồi dưỡng công chức thì bồi dưỡng được hiểu là "hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc" [13]. Như vậy bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho CBCC cấp xã là làm tăng thêm lượng kiến thức pháp luật để giải quyết các công việc trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình một cách có hiệu quả nhất. Bồi dưỡng được thực hiện thông qua hình thức chính thống đó là lớp học, ngoài ra còn được thực hiện thông qua nhiều hình thức khác, nhưng mục đích cuối cùng đều hướng tới việc nâng cao kiến thức pháp luật, kỹ năng giải quyết, vận dụng pháp luật trong thực tiễn nhằm thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của CBCC cấp xã.