Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CHẤP HÀNH VIÊN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ I. Khái niệm, đặc điểm về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự. Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng. Khái niệm về đào tạo.
Đào tạo là quá trình truyền thụ tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học từ đó tạo ra một đội ngũ có kiến thức bằng cấp cơ bản tương ứng với các nghạch, bậc và trình độ chuyên môn được đào tạo (Trích nội dung Quyết định số 273/QĐ-BTP năm 2008) Đào tạo được hiểu là một quá trình hoạt động có tổ chức và mục đích hình thành và phát triển hệ thống các tri thức, kỹ xảo,…để hoàn thiện một cá nhân, với mục tiêu để cho họ có thể thực hiện công việc một cách có năng suất và hiệu quả. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, đào tạo là: Quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho con người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống, nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội. Duy trì và phát triển nền văn minh loài người, về cơ bản đào tạo là giảng dạy và học tập ở nhà trường gắn với việc giáo dục đạo đức và nhân cách. Theo Đại Từ điển tiếng Việt: “Đào tạo là dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp: Đào tạo thành người có tri thức, đào tạo chuyên môn nghiệp vụ”.
Theo các văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam “đào tạo” như Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về ĐT,BD cán bộ, công chức đã đưa ra cách hiểu về ĐTBD:“Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học” 15 Luan van Từ các quan niệm trên trong phạm vi nghiên cứu của luận văn “đào tạo” có thể được hiểu là quá trình trang bị kiến thức nghề nghiệp chuyên môn và kinh nghiệm cho một chủ thể để họ có thể thực hiện công việc một cách độc lập trong một điều kiện nhất định. Đào tạo là một quá trình hoạt động có tổ chức và mục đích nhằm trang bị những kiến thức, kỹ năng một cách có hệ thống nhằm làm hình thành và những tri thức thông qua giảng dạy, học tập, rèn luyện của chủ thể. Đào tạo có thể được thực hiện ở các cơ sở đào tạo như: Trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, Trường dạy nghề…. Đào tạo cũng có thể được thực hiện qua việc tự rèn luyện, hoặc có thể được thực hiện thông qua.
Đào tạo còn có được hiểu l một quá trình truyền thụ những kiến thức mới, cơ bản một cách có hệ thống để chủ thể được đào tạo qua đó có kiến thức, trình độ nghiệp vụ chuyên môn cao hơn. Ví dụ: Đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho CHVTHADS (đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ). Trong nội dung luận văn này đào tạo được hiểu là: Đào tạo là quá trình trang bị tri thức và kỹ năngmột cách toàn diện cho con người qua sự học tập và rèn luyện tích cực, chủ động của người đó. Khái niệm về bồi dưỡng.
Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật nâng cao kiến thức kỹ năng làm việc bổ sung các quy định mới trong lĩnh vực công tác hoặc các lĩnh vực khác có liên quan cho cán bộ, công chức hoặc người được bồi dưỡng, việc bồi dưỡng mang tính chất ngắn hạn hoặc bổ sung thêm các kiến thức, các quy định mới ở một giai đoạn một thời gian cụ thể. Bên cạnh đó theo Đại từ điển tiếng Việt: bồi dưỡng là làm khoẻ thêm, mạnh thêm. Làm cho tốt hơn, giỏi hơn. Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về ĐTBD cán bộ, công chức, viên chức định nghĩa bồi dưỡng, “bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc”.
Như vậy, bồi dưỡng là công việc thường được thực hiện sau đào tạo hoặc trong quá trình đào tạo, với mục đích bổ sung kiến thức hoặc trang bị thêm những kiến 16 Luan van thức mới cho một bộ phận một hệ thống đã được thông qua việc đào tạo về chuyên nghành và đang thực hiện nhiệm vụ được giao liên quan đến các kiến thức cần được cập nhật tại các chương trình bồi dưỡng đòi hỏi việc bồi dưỡng phải mang tính chất linh động phù hợp đáp ứng kịp thời yêu cầu về mặt thời gian chất lượng trọng tâm trong công tác bồi dưỡng tạo sự gắn kết giữa người được bồi dưỡng và kiến thức được bồi dưỡng từ đó trang bị cho họ có đủ điều kiện, phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Kết quả của các khoá bồi dưỡng là người học nhận được những chứng chỉ kết quả khóa bồi dưỡng. Qua những luận giải ở trên, có thể đưa ra khái niệm: Bồi dưỡng là việc bổ sung kiến thức cho người đang thực hiện những công việc trong những lĩnh vực nhất định với mục đích cho họ có được kỹ năng và trình độ cao hơn để đáp ứng tốt hơn các yêu cầu, tiêu chuẩn của công việc. Theo quy định mới của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2019 thì khái niệm công chức được hiểu là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng chấp hành viên thi hành án dân sự Theo quy định của Đảng và nhà nước cũng như cụ thể hóa tại Luật thi hành án dân sự (Điều 17 Luật thi hành án dân sự sủa đổi, bổ sung năm 2014) 17 Luan van Chấp hành viên thi hành án dân sự trước hết là công chức. Đồng thời cũng là người được nhà nước giao nhiệm vụ thi hành những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật giữ vai trò trung tâm trong các hoạt động thi hành án dân sự. Theo Từ điển Luật học thì: Chấp hành viên thi hành án dân sự là công chức ngành tư pháp. Người được Nhà nước giao trách nhiệm tổ chức thi hành bản án, quyết định về dân sự của Toà án Việt Nam và bản án, quyết định về dân sự của Toà án nước ngoài đã được Toà án Việt Nam công nhận [2].
Theo quy định tại Điều 17 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014 thì: Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định của TA đã có hiệu lực pháp luật đồng thời quy định Chấp hành viên có ba ngạch là Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp. Tuy nhiên, Chấp hành viên là chức danh gì và có đặc thù ra sao thì hiện nay đang có nhiều ý kiến khác nhau. Liên quan đến vấn đề này, đa số ý kiến cho rằng, Chấp hành viên là chức danh tư pháp, được pháp luật quy định nhiều nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng (tương tự như chức danh Kiểm sát viên và Thẩm phán). Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng Chấp hành viên là công chức hành chính - tư pháp vì xuất phát từ đặc thù của hoạt động thi hành án là hoạt động mang tính chất hành chính - tư pháp.
Về vấn đề này qua nghiên cứu cho thấy, Chấp hành viên là một chức danh tư pháp, được pháp luật quy định nhiều nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng. Bởi vì, khác với hoạt động của các cơ quan hành chính, hoạt động của cơ quan thi hành án phần lớn thông qua vai trò hoạt động của các cá nhân những người được Nhà nước giao trách nhiệm thi hành các bản án, quyết định của Toà án là Chấp hành viên. Mỗi quyết định của CHV có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của các bên có liên quan, đồng thời liên quan trực tiếp đến hiệu lực của bản án, quyết định nhân danh Nhà nước của Toà án. Ngoài sự vô tư, khách quan của CHV, một trong những yêu cầu không thể thiếu đó là khi thực thi nhiệm vụ, CHV độc lập, tuân theo bản án, 18 Luan van quyết định của Toà án và theo quy định của PL.
Tính độc lập được hiểu là trong quá trình thi hành án, dựa vào niềm tin nội tâm của mình, CHV chỉ tuân theo PL và bản án, quyết định của Toà án, chịu trách nhiệm trước PL và được PL bảo vệ. Các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, công dân… nếu không được PL cho phép, không được can thiệp làm cho việc thi hành án không đúng với nội dung bản án, quyết định của Toà án hoặc làm chậm tiến độ thi hành án, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của các bên có liên quan. Báo cáo số 164/BC-UBTVQH12 ngày 22/10/2008 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 12 về việc giải trình tiếp thu, chỉnh lý Dự thảo Luật Thi hành án dân sự cũng cho rằng: “Chấp hành viên là một chức danh tư pháp gắn với việc thực hiện nghiệp vụ chuyên môn về thi hành án dân sự, việc bổ nhiệm không theo nhiệm kỳ sẽ tạo ra sự yên tâm để Chấp hành viên làm tốt công tác thi hành án, điều này cũng không làm hạn chế đến việc xử lý kỷ luật nếu Chấp hành viên có vi phạm, hoặc miễn nhiệm nếu không đủ năng lực, điều kiện làm Chấp hành viên. Vì vậy, dự thảo Luật đã được chỉnh lý theo hướng quy định việc bổ nhiệm Chấp hành viên thông qua thi tuyển và không có nhiệm kỳ là phù hợp với định hướng của Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ chính trị: “Nghiên cứu thực hiện cơ chế thi tuyển để chọn người bổ nhiệm vào các chức danh tư pháp.