đặt vấn đề “tính là gần nhau, tập là xa nhau” [28, XVII, tr.2] của Khổng Tử qua tranh luận ta thấy có bốn loại quan niệm: Thứ nhất: Bản tính của con người là thiện, đại biểu cho quan niệm này là Mạnh Tử. 14 z Thứ hai: Bản tính con người là ác, đại biểu cho quan niệm này là Tuân Tử. Thứ ba: Bản tính của con người không thiện, không ác, đại biểu cho quan niệm này là Cáo Tử. Thứ tư: Bản tính con người có cả thiện và cả ác.
Đây là quan niệm của các nhà Nho từ thời Hán về sau. Dù có nhiều quan niệm khác nhau nhưng họ nhất trí khẳng định cái tính ấy có thể thay đổi, biến đổi do hoàn cảnh. Khổng Tử cho rằng do “tập” mà làm cho tính ban đầu của con người thay đổi. Cáo Tử cho rằng tính có thay đổi là do tu dưỡng học tập của con người.
Mạnh Tử cho rằng “tính thiện” có thể biến thành “tính ác” do con người không biết “tồn tâm thiện”. Tuân Tử cho rằng tính có thể thay đổi do sự tu dưỡng, học tập của con người. Đổng Trọng Thư cho rằng con người có tính thiện hay tính ác do sự giáo dục, học tập đạo đức của con người. Như vậy, theo quan điểm của Nho giáo, có “tính do trời phú” [10, I, tr.139] mà cứ buông lơi, thả lỏng trong cuộc sống thì tính không thể tránh được tình trạng biến chất theo muôn vàn cái “tập” và bị kéo theo lầm đường lạc lối.
Trong hoàn cảnh ấy con người trở thành vô đạo, cuộc sống sẽ đi đến cả nước vô đạo rồi làm cho thiên hạ vô đạo. Quan điểm của Khổng Tử về “tính cùng gần, tập cùng xa” là điểm xuất phát, là cơ sở để nêu lên sự cần thiết lập đạo cho con người. Đạo của con người, đó là con đường để con người trở thành người. Chu Dịch, Thuyết quái truyện viết: “Lập đạo của người là nhân và nghĩa”, người với người có rất nhiều mối quan hệ.
Trung Dung đã khái quát “đạo của con người gồm năm mối quan hệ: Vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em, bè bạn” [10, XX, tr. Con người phải xuất phát từ năm mối quan hệ đó, rồi từ đó mới yêu quý rộng ra người khác. 15 z Nhân nghĩa với tính cách là đạo của con người không thể hiểu thông thường. Nhân là lòng thương người, nghĩa là dạ thủy chung và bất nhân là ác, bất nghĩa là bạc.
Hiểu theo cách đó, nhân nghĩa không đủ để là hai yếu tố cơ bản quyết định lớn nhất của đạo làm người. Vì thế, nhân nghĩa theo cách nói trong Kinh Dịch thì mọi đức của con người đều do nhân nghĩa mà ra, giống như muôn vật, muôn loài trên trời, dưới đất đều do âm dương, nhu cương mà ra. Nhân và nghĩa là hai yếu tố đối nhau. Đổng Trọng Thư thời nhà Hán đã giải thích câu nói của Kinh Dịch rằng: Nhân là để yêu người, nghĩa là để chính mình cho nên lấy nhân mà nói là nói người, lấy nghĩa mà nói là mình, phép tắc của nhân là yêu người, phép tắc của nghĩa là chính mình.
Nhân tạo người, nghĩa tạo ta. Đạo của con người có ý nghĩa rất lớn đối với tính của con người. Trung Dung viết: “Trời mệnh cho gọi là tính, kèm cặp, dẫn dắt tính là đạo, tu dưỡng đạo gọi là giáo” [10, I, tr. Tình trạng xã hội Đông Chu nhiều người không giữ được tính trời phú đã biến chất do muôn vàn cái tập cho nên con người, xã hội Đông Chu là “vô đạo”.
Lý tưởng của Nho giáo là làm cho mọi người, mọi nước và thiên hạ hữu đạo. Đạo của con người phù hợp với tính phú của con người do trời phú, do con người sáng lập nên có chức năng dẫn dắt tính của con người, không để tính ác của con người do “tập” làm biến chất. Đạo của con người gần gũi với con người, phù hợp với tính tự nhiên của con người, mọi người trong xã hội đều có ít nhiều đạo nhân nghĩa trong bản thân mình. Còn việc mọi người có hữu đạo hay không là việc cần có sự phân biệt.
Trung Dung cho rằng “có người sinh ra mà biết, có người học mà biết, có người khó khăn, khốn khổ mà biết” [10, XX, tr. Trong ba hạng người trên, hạng thứ nhất không có, đông đảo nhất là hạng thứ hai và ba. Với hai hạng người ấy, muốn họ hữu đạo phải có sự khuyên răn, dạy bảo, có nghĩa là phải giáo. Giáo dục con người 16 z theo Nho giáo là dạy “đạo lý” để tạo ra những con người có đủ nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, trung, dũng, hiếu, đễ.
Đức của con người liên hệ mật thiết với đạo. "Đức" hay “đạo đức" trong ngôn ngữ ngày nay được hiểu đại thể là đức hạnh. Cụ thể, đó là lòng nhân ái, lòng khoan dung độ lượng, có tinh thần trung thực, có nghĩa, có khí, có ý chí. Khi ta nói giáo dục con người, chúng ta vạch ra ranh giới rõ ràng giáo dục đức dục và trí dục.
Khi đánh giá con người, chúng ta thường vạch ra ranh giới giữa đức và tài là cách làm phổ biến. Như vậy, chúng ta không quan niệm đức bao gồm tài, trí. Ngược lại, tài không phải là đức. "Đức" trong Tứ thư, Ngũ kinh không rõ ràng, rành mạch về ranh giới đức, tài, trí.
Chẳng hạn, nói tới người quân tử, người ta nêu lên Nhân, nghĩa, lễ, trí. Nói đến người phụ nữ, người ta kể chung cả công, dung, ngôn, hạnh. Như vậy, từ “đức” của Nho giáo dùng để chỉ một cái gì thể hiện phẩm chất tốt đẹp của con người trong tâm hồn, ý thức cũng như trên hình thức, dáng điệu. Suy rộng ra, người ta thường dùng từ đức để nói lên cái hay, cái tốt hoặc cái thịnh vượng trong trời đất muôn vật được nhân cách hóa.
Các nhà ngôn ngữ khi nhìn mặt từ nguyên và ngữ âm của từ đạo cho rằng: “Đức là cái do hành đạo mà được”. Nói cách khác, đức là cái “sở đắc” trong công cuộc hành đạo. Cuốn Từ Nguyên của Trung Quốc ghi rằng: “Đức là cái do hành đạo mà có được trong tâm”. Vào thời Đông Hán, triết gia Vương Bật giải thích rõ hơn: “Đạo là cái mà vật noi theo, đức là cái vật có được, do noi theo mà có” [16, tr.
Diễn đạt tư tưởng trên về mối quan hệ giữa người với người trong cuộc sống ta có thể thấy như sau: Ở trên đời, ai ai cũng sinh tồn, cũng hoạt động trong quan hệ nhất định với Trời, đất, muôn vật và những quan hệ tam cương, ngũ luân. Các quan hệ ấy phù hợp với bản tính của con người, phù hợp với đạo đức chung của trời đất sinh ra con người. Đường đi lối lại đúng 17 z đắn phải noi theo để xây dựng quan hệ làmh mạnh gọi là đạo. Noi theo đạo một cách đúng đắn trong cuộc sống thì có được đức quý báu ở trong tâm.
Con đường đi từ đạo đến đức của Nho giáo không phải là con đường bằng phẳng, dễ dàng. Vào thời Đông Chu, do thiên hạ mắc cảnh tượng vô đạo, Khổng Tử và các đệ tử của mình đã đem sức của mình ra dạy bảo thiên hạ, trau dồi rèn luyện cho đạo của thiên hạ, tức là dùng đức của mình tác động lại đạo của thiên hạ. Trên cơ sở quan niệm đạo và đức, Nho giáo đã nêu lên các mối quan hệ chặt chẽ, các đạo trong ba khuôn nhà - nước - thiên hạ. Đồng thời, Nho giáo đã xây dựng bậc thang tám bậc để đưa con người có đức sáng đi từ chỗ khởi đầu đến đỉnh cao là: Cách vật - trí tri - thành ý - chính tâm - tu thân - tề gia - trị quốc - bình thiên hạ.
Năm bậc đầu đi từ cách vật đến tu thân là hành đạo đúng đắn đối với trời đất, muôn vật và đối với bản thân mình. Ba khuôn khổ nhà, nước, thiên hạ và ba bậc thang tề - trị - bình, quan hệ người với người ràng buộc một cách chặt chẽ hơn. Bao quát các mối quan hệ, Nho giáo nêu lên 10 đức: Cha từ, con hiếu, anh lành, em đễ, chồng có nghĩa, vợ có nghĩa, trưởng có ân, ấu ngoan ngoãn, vua nhân, tôi trung. Nội dung cơ bản của đạo đức Nho giáo 1.
Luân thường Trong xã hội phong kiến, quan hệ giữa người với người được gọi là nhân luân. Các bậc vua chúa, giai cấp quý tộc và các nhà Nho trong xã hội phong kiến gọi trật tự, thứ bậc và quan hệ giữa vua và tôi, cha và con, chồng và vợ, anh em và bạn bè là ngũ luân; đồng thời họ cho rằng ngũ luân là biểu hiện của lý trời trong đời sống xã hội con người, là đạo lý vĩnh hằng, không thể biến đổi cho nên gọi là Luân thường. Trong xã hội, con người có nhiều mối quan hệ. Việc phân chia các mối quan hệ của con người, theo Nho giáo có nhiều phương diện: Từ phương diện 18 z đạo đức, Nho giáo đề cập đến mối quan hệ giữa người quân tử và tiểu nhân.
Tiểu nhân chỉ người nhỏ mọn, tầm thường. Quân tử chỉ người có tài đức, xuất chúng, có địa vị, tri thức, đạo đức và nhân cách. Sự phân biệt ban đầu giữa quân tử và tiểu nhân dựa trên sự khác nhau giữa năng lực, trình độ học vấn, phẩm chất đạo đức, nhân cách và thái độ sống. Về sau, sự phân chia gắn liền với sự phân chia đẳng cấp, danh phận và địa vị xã hội.
Từ phương diện lao động xã hội, Nho giáo bàn tới mối quan hệ giữa lao động chân tay (lao lực) và lao động trí óc (lao tâm). Nho giáo khinh miệt lao động chân tay, coi loại lao động ấy là của tiểu nhân. Khi có người nói phục Phu Tử về việc làm được nhiều nghề, Phu Tử đã giải thích vì mình lúc nhỏ do nghèo nên biết nhiều việc. Từ phương diện chính trị, Nho giáo đề cập tới các mối quan hệ thống trị và bị trị, vua và dân, quan và dân, vua và tôi.
Từ phương diện thiết chế xã hội, Nho giáo đưa ra các quan hệ trong gia đình, đó là quan hệ cha và con, chồng và vợ, anh và em, trong xã hội đó là quan hệ bằng - hữu (bạn bè), trên - dưới, thiên tử - thiên hạ. Ngoài ra, trong từng mối quan hệ đã nêu trên, Nho giáo còn nêu lên nhiều mối quan hệ con. Vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng con người trong Nho giáo vướng mắc quá nhiều trong lưới đạo cổ truyền.