PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hiện nay, thế giới đang có sự chuyển biến và thay đổi nhanh chóng từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đây là cuộc cách mạng kế tiếp với sự áp dụng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, blockchain, khai phá vũ trụ,…phục vụ cho cuộc sống của con người ngày càng tiện nghi cũng như giúp cho con người có thêm nhiều thông tin, nhận thức mới; đây cũng là một cuộc Cách mạng công nghệ mới, đặc biệt khác với các Cuộc cách mạng trước đây như: về tốc độ, tăng theo hàm lũy thừa; về phạm vi và chiều sâu, đây là cuộc Cách mạng dựa trên cách mạng số và kết hợp nhiều công nghệ, dẫn đến sự thay đổi chưa từng có tiền lệ trong mô hình kinh tế - xã hội; bao gồm sự chuyển đổi của toàn bộ hệ thống, khắp các quốc gia, các doanh nghiệp, các ngành công nghiệp và toàn xã hội. Chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là một xu thế về công nghệ trên toàn cầu, mà còn tác động vô cùng sâu rộng lên các lĩnh vực của nền kinh tế - xã hội. CĐS mở ra một cơ hội lớn cho chúng ta, đây là sự thay đổi mang tính toàn diện, đến từng doanh nghiệp, từng tổ chức, từng người dân và từng lĩnh vực.
Việc chuyển đổi số làm thay đổi thế giới, nhưng không phải là không thể điều khiển, can thiệp quá trình này. Kinh nghiệm của những lần chuyển đổi công nghệ trước đây đã cho thấy, những quốc gia đi đầu trong ứng dụng và phát triển công nghệ mới luôn là những nước thịnh vượng, phát triển nhất. CĐS tác động tới người dân, doanh nghiệp và chính quyền. Đối với người dân, CĐS sẽ thay đổi cách sống, cách làm việc và giao dịch.
Đối với doanh nghiệp, dữ liệu và công nghệ số sẽ thay đổi mô hình kinh doanh, thay đổi quy trình cung cấp sản phẩm, dịch vụ; thay đổi sản phẩm và dịch vụ. Đối với chính quyền, CĐS sẽ làm thay đổi trải nghiệm của người dùng đối với các dịch vụ nhà nước(NN) cung cấp; thay đổi các quy trình nghiệp vụ của cơ quan NN. 2 Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 bùng phát trên toàn thế giới, làm ảnh hưởng đến tất cả lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội cũng như thói quen của con người. Việc CĐS được diễn ra sẽ là cơ hội và cũng là thách thức đối với chúng ta.
Ngày 06 tháng 6 năm 2020 Thủ tướng chính Phủ đã ban hành Quyết định 749/QĐ-TTg Phê duyệt “Chương trình CĐS quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Chương trình đã xác định mục tiêu Chương trình CĐS quốc gia là phát triển 03 trụ cột chính đó là Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Chuyển đổi số là một nội dung, giải pháp chính để chủ động tham gia Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; trước mắt là để chính phủ, chính quyền, doanh nghiệp, xã hội không tụt hậu hoặc phá sản; mà có tận dụng được xu thế, công nghệ cho phát triển, hòa nhập. Chương trình Chuyển đổi số quốc gia xác định tầm nhìn đến năm 2030 là “Việt Nam trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong và thử nghiệm các mô hình mới; đổi mới căn bản, toàn diện hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phương thức sống, làm việc của người dân, phát triển môi trường số an toàn, nhân văn, rộng khắp” với mục tiêu kép là “vừa phát triển Chính phủ số, Kinh tế số, Xã hội số, vừa hình thành các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có năng lực đi ra toàn cầu”.
Nói về CĐS, Bộ trưởng bộ Thông tin và Truyền thông (BTTTT) Nguyễn Mạnh Hùng có rất nhiều bài phát biểu nói về CĐS, trong đó có một số nội dung gợi ý chuyển đổi như: “- Chuyển trọng tâm từ chính quyền sang người dân, từ tổ chức sang nhân viên, từ doanh nghiệp sang khách hàng. Chuyển đổi số tập trung mang lại giá trị cho người dùng, cho khách hàng, cho người dân. Lấy người dân làm trung tâm. Lấy người dùng, người sử dụng làm trung tâm.
- Chuyển từ chi phí sang tạo ra lợi ích và giá trị. Chuyển đổi số nói đến mang lại giá trị gì, lợi ích gì. Chuyển đổi số chú trọng đánh giá hiệu quả, giá trị tạo ra trừ đi chi phí có dương không. Giống như một dự án đầu tư.
- Chuyển từ phần mềm riêng lẻ sang nền tảng số dùng chung. Chuyển đổi số thì xuất hiện khái niệm nền tảng số. Nền tảng số là một phần cứng, một phần mềm nhiều người dùng chung trên phạm vi toàn tỉnh, toàn quốc, toàn cầu. 3 - Chuyển từ ứng dụng công nghệ sang chuyển đổi cách làm việc.
Chuyển đổi số thì chuyển đổi là danh từ, số là tính từ. Chuyển đổi cách làm là chính, là mục tiêu, công nghệ số chỉ là phương tiện thực hiện. - Chuyển từ cách làm từng phần sang làm toàn diện. Chuyển đổi số là toàn diện, mọi nơi, mọi chỗ, không còn cái gọi là nửa này nửa kia.
Chỉ có một môi trường số. Mọi việc sẽ diễn ra trên môi trường số. Công việc của mỗi người mà rời máy tính ra là không làm việc được. Và chỉ khi này thì công nghệ số mới phát huy hiệu quả.
- Chuyển trọng tâm từ giám đốc công nghệ thông tin sang người đứng đầu. Chuyển đổi số thì chuyển đổi cách làm, thay đổi cách vận hành tổ chức là chính nên người đứng đầu đóng vai trò quyết định. - Chuyển từ máy tính rêng lẻ sang điện toán đám mây. Chuyển đổi số là dùng chung trên đám mây, đầu tư một chỗ, vận hành khai thác một chỗ, dùng chung toàn tỉnh, toàn quốc.
Chuyển đối số thì không còn nhìn thấy các hệ thống máy tính ở mỗi tổ chức. - Chuyển từ đầu tư sang thuê. - Chuyển từ sản phẩm sang dịch vụ. Chuyển đổi số thì không mua sản phẩm mà là mua dịch vụ, trả tiền theo tháng, theo năm.
Là chi phí thường xuyên. Dịch vụ thì dùng bao nhiêu trả bấy nhiêu. Không phải lo nghĩ về việc nuôi sống dịch vụ. - Chuyển đổi trọng tâm từ tổ chuyên gia công nghệ sang tổ công nghệ số cộng đồng.
Chuyển đổi số chú trọng vào sử dụng, chú trọng vào người dùng biết cài đặt và sử dụng, nhất là người dân. - Chuyển từ chú trọng vào làm như thế nào sang làm cái gì. Chuyển đổi số thì nhà lãnh đạo nói muốn gì, cần làm cái gì, cần thay đổi cái gì, và sau đó là việc của nhà kỹ thuật. - Chuyển trọng tâm từ người giỏi phần mềm sang người giỏi sử dụng.
Chuyển đổi số tập trung vào người dùng. Tập trung vào việc đặt ra bài toán, vào việc sử dụng ngay từ giai đoạn phát triển ban đầu và đóng góp cho phần mềm thông minh dần lên. 4 - Chuyển từ hệ thống công nghệ thông tin sang môi trường số. Chuyển đổi số là xây dựng môi trường sống và làm việc mới.
- Chuyển từ tự động hóa sang thông minh hóa. Chuyển đổi số chú trọng việc hỗ trợ để giúp con người thông minh hơn. - Chuyển từ dữ liệu của tổ chức sang dữ liệu người dùng. Chuyển đổi số thu thập và xử lý dữ liệu người dùng sinh ra hàng ngày để tối ưu hoá hoạt động.
- Chuyển đổi từ dữ liệu có cấu trúc sang dữ liệu phi cấu trúc. Chuyển đổi số thu thập và xử lý cả dữ liệu phi cấu trúc, phân tích những dữ liệu mới này để sinh ra tri thức mới. Chuyển đổi số tập trung vào tạo ra tri thức mới, tạo ra nhiều giá trị mới.” Trong những năm qua, chính quyền tỉnh Đồng Tháp đã không ngừng nổ lực xây dựng CQĐT bằng cách ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý và vào trong tất cả các lĩnh vực đời sống đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, cải thiện đời sống người dân và đáp ứng nhu cầu thông tin giữa chính quyền, doanh nghiệp, người dân trên địa bàn tỉnh. Việc thực hiện triển khai chính quyền số (ở trung ương là chính phủ số) là một vấn đề mới, dựa trên nền tảng CQĐT đã triển khai trước đó, sẽ có nhiều tình huống phát sinh, nhiều tiêu chí phải xem xét, đánh giá.
Việc nghiên cứu đánh giá các yếu tổ ảnh hưởng đến việc triển khai Chính quyền số áp dụng phương pháp phân tích thứ bậc (Analytic Hierarchy Process – viết tắt là AHP) sẽ đánh giá, xác định được việc ưu tiên của các yếu tố ảnh hưởng, từ đó có những đề xuất phù hợp cho chính quyền tỉnh Đồng Tháp trong những năm tiếp theo. Xuất phát từ lý do trên, với kinh nghiệm thực tiễn công tác tại Sở Thông tin và Truyền thông Đồng Tháp tôi đã chọn đề tài: “Đánh giá các yếu tổ ảnh hưởng đến việc triển khai chính quyền số tại Đồng tháp bằng phương pháp AHP” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ. Các công trình nghiên cứu có liên quan (trong và ngoài nước) Các khái niệm Chính phủ số, chính quyền số chỉ mới xuất hiện gần đây, nhưng hướng đến Chính phủ số, chính quyền số đều dựa trên nền tảng CQĐT. Vì thế tác giả thực hiện tìm kiếm các công trình nghiên cứu liên quan đến việc áp dụng AHP vào xây dựng CQĐT (e-Government) 5 2.
Nghiên cứu nước ngoài: Theo Sultan, AlArfaj, & AlKutbi (2012) trong nghiên cứu về việc áp dụng phương pháp AHP cho sự thành công của chính phủ điện tử nhóm tác giả đã giới thiệu về việc nhiều chính phủ phải tiêu tốn rất nhiều tiền cho việc xây dựng CQĐT. Bằng việc áp dụng phương pháp AHP, nhóm tác giả đã xác định được kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông là vấn đề có ảnh hưởng cao nhất đến việc thành công của việc xây dựng chính phủ điện tử. Theo Janowski (2015), trong nghiên cứu về sự phát triển của chính phủ số: từ chuyển đổi hướng đến hội nhập đã giới thiệu bối cảnh các chính phủ đang liên tục thay đổi để thực hiện chuyển đổi bằng các giải pháp kỹ thuật mới để giải quyết các bài toán quản lý xã hội, kinh tế, chính trị,… Nghiên cứu chỉ ra khái niệm chính phủ số là việc phát triển chính phủ theo hướng phức tạp hơn, hội nhập, chuyên môn hóa cao hơn tương tự như quá trình tiến hóa của xã hội. Từ đó tác giả giới thiệu 04 giai đoạn thay đổi của chính phủ đó là: số hóa, CĐS, quản trị điện tử, quản trị điện tử dựa trên chính sách.