Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về sử dụng đất và quy hoạch sử dụng đất 1. Đất và sử dụng đất Đất là một hệ thống phức tạp bao gồm phần vô cơ, hữu cơ, sinh vật, nước, khí và sự vận động liên tục từ bản thân nó cũng như tác động to lớn của con người. Vận động của con người là sự phát triển.
Sự phát triển gắn liền với ô nhiễm và suy thoái môi trường đất [10]. Đất không đơn giản chỉ là lớp vỏ bề mặt của thạch quyển mà nó là sản phẩm của quá trình phong hoá lý hoá học tầng đá mẹ và sự chuyển hoá, nhào trộn của các chất khoáng và chất hữu cơ. Đất được hình thành với sự tham gia của các loài sinh vật. Sự phong hoá vật lý và hoá học giải phóng các chất khoáng từ đá mẹ, đồng thời xảy ra trong quá trình phân huỷ các sản phẩm của thực vật và sinh vật đất.
Đất có vai trò quan trọng trong phân bố sinh thái của sinh vật. Đất ở các vùng, các đới khác nhau có những đặc điểm và tính chất khác nhau về độ dày tầng đất, độ thoáng khí, độ chua, lượng nước, hàm lượng các chất khoáng,. Đất cũng là môi trường sống thuận lợi đối với đa số các loài sinh vật. Cảnh quan không có đất là cảnh quan không có sự sống [1].
Sử dụng đất (Land Use): Bao gồm toàn bộ các hoạt động can thiệp của con người đối với tài nguyên đất đai tự nhiên. Sử dụng đất là quá trình thực hiện các hoạt động kinh tế, xã hội, sản xuất, an ninh, quốc phòng,… theo các định hướng quy hoạch sử dụng đất hoặc tự phát diễn ra trên một khu vực hoặc vùng lãnh thổ và có liên quan tới các biện pháp chính sau: - Khai thác (khai thác quặng mỏ, khai thác đá, khai thác rừng tự nhiên,…). - Xây dựng (khu dân cư, đường xá giao thông và các công trình dân sinh khu đô thị, công nghiệp,…) và phân bố lại dân cư. Như vậy, sử dụng đất là hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người - đất trong tổ hợp với các nguồn tài nguyên khác và môi trường.
Căn cứ vào n 5 nhu cầu của thị trường sẽ phát hiện, quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng hợp lý nhất tài nguyên đất đai, phát huy tối đa công dụng của đất đai nhằm đạt tới lợi ích sinh thái, kinh tế - xã hội cao nhất. Mục đích của sử dụng đất là làm thế nào để nguồn tư liệu có hạn này đem lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả sinh thái, hiệu quả xã hội cao nhất, đảm bảo được lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài. Hiệu quả kinh tế được biểu hiện ở quan hệ so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra. Một phương án hay, một giải pháp quản lý, giải pháp kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao phải đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả đem lại và chi phí đầu tư.
Tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế sử dụng đất là mức tăng thêm của các kết quả sản xuất và mức tiết kiệm chi phí lao động xã hội. Hiệu quả kinh tế thể hiện bằng giá trị tổng thu nhập, tổng sản phẩm, lợi nhuận. Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xã hội (kết quả xét về mặt xã hội) và tổng chi phí bỏ ra. Các chỉ tiêu hiệu quả xã hội thể hiện mức thu hút lao động, mức độ sử dụng lao động, tạo việc làm, tăng thu nhập, trình độ dân trí, trình độ hiểu biết khoa học.
Hiệu quả môi trường sinh thái thể hiện qua các chỉ tiêu: tỷ lệ diện tích đất đai được bảo vệ và cải tạo, bị ô nhiễm hay thoái hóa, mức độ bảo vệ môi trường sinh thái trong vùng (đất - nước - không khí, động, thực vật); sự thích hợp với môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất. Cơ sở khoa học của quy hoạch sử dụng đất Quy hoạch sử dụng đất (Land Use Planning) là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất đai đầy đủ và hợp lý có hiệu quả cao thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất của quốc gia, tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường [17]. Theo Tổ chức Nông nghiệp và lương thực thế giới FAO (1993) “Quy hoạch sử dụng đất là sự đánh giá có hệ thống về tiềm năng tài nguyên đất và nước, về các mô hình sử dụng đất trong các điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội khác nhau nhằm mục đích lựa chọn và thông qua các phương thức sử dụng đất mang lại nhiều lợi ích nhất cho người sử dụng mà không phá hủy tài nguyên và môi trường, đồng thời đề xuất lựa chọn và thực hiện các biện pháp thích hợp nhất để thực hiện việc sử dụng đất như vậy”. n 6 Mục đích chung của quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ hành chính là đáp ứng nhu cầu đất đai một cách tiết kiệm, khoa học, hợp lý và có hiệu quả.
Quy hoạch sử dụng đất là việc xác định, phân bổ hợp lý quỹ đất cho các mục đích sử dụng như đất nông nghiệp, lâm nghiệp, xây dựng, giao thông, thủy lợi, đất cho phát triển khoa học kỹ thuật, văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, quốc phòng, an ninh, đất ở đô thị, nông thôn,… theo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của vùng và của quốc gia. Quy hoạch sử dụng đất thực hiện chức năng phân phối và tái phân phối quỹ đất nhằm đáp ứng nhu cầu về đất sử dụng cho các ngành, các đơn vị sử dụng đất. Nó là công cụ hữu hiệu của Nhà nước để điều chỉnh mối quan hệ đất đai, thiết lập thể chế quản lý sử dụng tài nguyên đất, góp phần ổn định phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững. Việc quy hoạch sử dụng đất bền vững cần được coi trọng đúng mức, trong đó nhất thiết phải lồng ghép yếu tố bảo vệ môi trường.
Kết hợp yếu tố môi trường vào trong quy hoạch tổng thể và quy hoạch sử dụng đất là một vấn đề còn rất mới mẻ ở Việt Nam, đến nay chưa có nhiều các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này. Yêu cầu bảo vệ môi trường trong quy hoạch sử dụng đất Để thấy được một cách đầy đủ những yêu cầu về môi trường trong quy hoạch sử dụng đất chúng ta xem xét mối quan hệ này ở cả hai khía cạnh: yêu cầu khách quan và yêu cầu chủ quan - do tính pháp lý mang lại. Yêu cầu khách quan Xét về mặt khái niệm, môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật, cụ thể gồm các thành phần như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất khác [13]. Môi trường là tập hợp tất cả các điều kiện và hiện tượng bên ngoài tác động lên cá thể.
Khí quyển, thuỷ quyển, thạch quyển tồn tại trước khi sự sống xuất hiện trên hành tinh chúng ta, nhưng chỉ khi các cơ thể sống xuất hiện mới gọi chúng là môi trường. Có nghĩa là chỉ có cơ thể sống mới có môi trường [13] Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; n 7 khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học và phát triển bền vững. Trạng thái hoặc tình trạng môi trường của một khu vực hoặc quốc gia chính là trạng thái chủ yếu của môi trường trên hai phương diện: tình trạng vật lý - sinh học và tình trạng kinh tế - xã hội. Môi trường luôn có một trạng thái nào đó và không hoàn toàn ổn định dưới tác động của tự nhiên và hoạt động sản xuất.
Các hoạt động của tự nhiên và con người tạo ra áp lực làm thay đổi trạng thái môi trường. Đất đai, bao gồm cả nguồn nước, sinh vật và hệ sinh thái là các thành phần quan trọng của môi trường, mối quan hệ này là tồn tại khách quan, tự nhiên và gắn bó hữu cơ, không thể tách rời. Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất bao gồm toàn bộ đất đai, trong đó đất đai được hiểu với nghĩa rộng, bao hàm một thửa đất đơn thuần, bên cạnh đó là những mối quan hệ hữu cơ như: - Điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thuỷ văn,. - Các nguồn tài nguyên gắn với đất: thổ nhưỡng, nước ngầm, nước mặt, khoáng sản, rừng, biển và đặc biệt là tài nguyên nhân văn.
- Môi trường và cảnh quan: môi trường đất, môi trường nước và đặc điểm cảnh quan, các hệ sinh thái. - Các đặc điểm kinh tế - xã hội và đặc điểm sử dụng đất. Quy hoạch sử dụng đất là hoạt động điều tra, nghiên cứu, đánh giá tổng hợp toàn bộ các đối tượng trên để rút ra những nhận xét, đánh giá mang tính quy luật khách quan của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tiềm năng của các nguồn tài nguyên gắn với đất phục vụ cho công tác hoạch định phương án khai thác sử dụng đất trong tương lai phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và bền vững. Quy hoạch sử dụng đất cũng bao gồm những hoạt động mang tính dự báo, bố trí quỹ đất cho các nhu cầu trong tương lai, kể cả các nhu cầu cho hoạt động phòng ngừa, ứng phó với những rủi ro, sự cố môi trường trong tương lai (trồng rừng chắn sóng, chắn cát, xây dựng đê, kè, đập,.); những hoạt động nhằm cải thiện, giữ môi n 8 trường trong lành (trồng cây, trồng rừng, xây dựng hồ chứa nước,.); sử dụng tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ đa dạng sinh học (quy hoạch bảo vệ các khu vực khoáng sản, các khu rừng đặc dụng, vườn quốc gia,.