Mở đầu cho hệ thống phân loại phải kê đến Công ước Ramsar năm 1971. Khi đó, công ước này đã phân DNN thành 22 kiểu mà không chia thành các hệ và lớp. Khi công ước được đưa vào thực tiễn và áp dụng vào các vùng và các quốc gia khác nhau, những thiếu sót trong hệ thống phân hạng đã xuất hiện. Điều này khiến Công ước phải sửa đổi bổ sung.
Năm 1994, phụ lục 2B của Công ước Ramsar đã chia ĐNN thành 3 nhóm chính đó là: 1) DNN ven biên và biến (11 loại hình); 2) ĐNN nội dia (16 loại hình); 3) DNN nhân tao (8 loại hình) (Davis, 1994 - Ramsar Convention Bureau) với tong cộng 35 loại hình. Cũng theo Ramsar Convention Bureau (1997a, b - 2nd edition), thì các loại hình DNN đã được xem xét lại và chia thành 40 kiểu khác nhau. Trong những năm gan đây, hệ thống phân loại DNN đã được xem xét, chỉnh sửa, bố sung thành 42 kiểu b) Phân loại hiện hành của Hoa Kỳ - Kiểm kê DNN quốc gia. Ở Mỹ, cách phân loại này được dựa trên tiếp cận thứ về thứ bậc giống nhau về mặt phân loại học sử dụng cho mục đích nhận dạng các loại động, thực vật.
Phân loại này tập trung vào việc mô tả các nhóm sinh thái học, qua đó sắp xếp chúng theo thứ bậc, từ đó truyền tải lên một hệ thống. Hệ thống này được trang bị cho các đơn vị thành lập bản đồ, cung cấp các thông tin hữu ích đối với các nhà quản lý tài nguyên qua đó đạt được sự đồng nhất về các khái niệm, thuật ngữ chuyên ngành. Mức rộng nhất là hệ thống: sự phức tạp của các đất ngập nước và các nơi cư trú nước sâu mà chúng cùng có ảnh hưởng của các nhân tố thuỷ lực, địa mạo, hóa học hay sinh học”. Các hạng rộng này bao gồm như sau: 1.
Các hệ thông phụ bao gồm: 1. Ven biển c) Phân loại đất ngập nước của Uy hội Sông Mê Kông (MRC) Hệ thống phân loại DNN cua MRC được dựa vào hệ thống do Dugan xây dựng vào năm 1990 trên cơ sở hệ thống phân loại của Cơ quan Cá và Động vật hoang dã Hoa Kỳ. Sự phân biệt giữa các loại hình DNN ngọt thuộc các đồng bằng ngập lũ (floodplain) và loại hình DNN thuộc đầm (palustrine) là điểm gây phức tạp lớn nhất của hệ thống này. Đề có thê phân biệt được các loại hình này người ta chỉ có thé thông qua thảm thực vat hay chính là quần xã thực vật hoặc mục đích sử dụng đất khác nhau.
So sánh với thực tế, việc một khu vực DNN nằm ở đồng bằng châu thổ thuộc về đồng bằng ngập lỹ hay thuộc về đầm là cực kì khó khăn. Thêm vào đó, những khó khăn trong việc phân định địa giới hành chính, chế độ thủy văn, có hay không những yếu tô nhân tạo của loại hình DNN này vẫn chưa thể giải quyết. Phân loại DNN tai Việt Nam. Ở Việt Nam, hệ thống phân loại DNN được nghiên cứu và phát triển từ những năm 1989 bởi D.Scott và Lê Diễn Dực.
Đến nay, các công trình nghiên cứu về việc phân loại hệ thống ĐNN đều dựa vào hệ thống của Công ước Ramsar. Thế nhưng, các công trình này lại chỉ dừng ở mức nêu ra nhưng vùng DNN ma chưa đề cập tới các yêu tố giúp cho việc phân biệt và xác định ranh giới giữa các loại hình. Công ước Ramsar và phân loại dat ngập nước của Việt Nam/ Cục Bảo vệ Môi trưởng. Theo dự thảo Chiến lược Đất ngập nước Việt Nam của Cục Môi trường (thuộc Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường), các kiểu đất ngập nước được liệt kê và mô tả bao gồm: 1) Các vịnh nông và các eo biển có độ sâu 6m khi triều thấp; 2) Các vùng cửa sông, châu thổ; bãi triều; 3) Những vùng bờ biển có đá, vách đá,bãi cát hay bãi sỏi; 4) Vùng đầm lầy ngập mặn, rừng ngập mặn; 5) Những đầm phá ven biển dù là nước mặn hay nước lợ; 6) Ruộng muối (nhân tạo); 7) Ao nuôi trồng thủy sản; 8) Sông suối và hệ thống thoát nước nội địa; 9) Đầm lầy ven sông; đầm lầy nước ngọt; 10) Hồ chứa nước tự nhiên; hồ chứa nước nhân tạo; 11) Rừng ngập nước theo mùa (như rừng Tràm); 12) Đất cầy cấy ngập nước, đất được tưới tiêu; 13) Bãi than bùn (Nguồn: Chiến lược đất ngập nước Việt Nam, 2000).
Năm 2001, Cục Môi trường (Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường) đã công bố tài liệu “Các vùng đất ngập nước có giá trị đa dạng sinh học và môi trường của Việt Nam”. Trong tài liệu này, những người biên soạn đã đưa ra một bảng phân loại đất ngập nước tạm thời dé tham khảo dựa trên cách phân loại đất ngập nước của Ramsar (Classification System for “Wetland Types”). Kèm theo là danh sách 68 khu đất ngập nước đã được kiêm kê theo tiêu chí có giá trị cao về đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường của Việt Nam. Bảng phân loại đất ngập nước của Cục Môi trường gồm có 39 loại hình đất ngập nước (wetland type).
Hệ thống phân loại này dựa vào Hệ thống phân loại các vùng DNN (Classification System for "Wetland Type") của Ramsar đã được chấp nhận trong Ban khuyến nghị 4.7) và đã được sửa đổi trong Nghị quyết VI.5 của Hội nghị Cam kết giữa Các bên Tham gia. Nhưng hệ thống phân loại này đã được lược bỏ một số kiều DNN không có ở Việt Nam (Phụ lục IB). Phân loại/ Kiểm kê đất ngập nước của Lê Diên Duc (1989)[6]. Hệ thống phân loại đất ngập nước này dựa trên hệ thống phân loại của công ước Ramsar (1971).
Theo hệ thong phân loại này Việt Nam có 20 loại đất ngập nước như sau: 1. Các vịnh nông từ 6m trở lại khi triều thấp; 2. Các vùng cửa sông, châu thé; FCŒOWA©NSƠo:. Những đảo nhỏ xa bờ;.
Những vùng bờ biển có đá, vách đá ven biển;. Những bãi biển dù là cát hay là sỏi;. Những bãi triéu dù là bùn hay là cát;. Vùng đầm lầy có rừng ngập mặn;.
Những đâm phá ven biên dù là nước lợ hay nước mặn;. Những ruộng muối; 10. Sông suối chảy chậm đưới mức trung bình; 12. Sông suối chảy nhanh trên mức trung bình; 13.
Đầm lầy ven sông; 14. Hồ nước ngọt; 15. Ao nước ngọt (< 8 ha), đầm lầy nước ngọt; 16. Ao nước mặn, những hệ thong thoát nước nội dia; 17.
Đập chứa nước; 18. Rừng ngập nước, đất được tưới tiêu; 19. Dat cày cấy ngập nước, dat được tưới tiêu; 20. Công trình này là nền móng đầu tiên ở nước ta phân loại đất ngập nước do PGS.
Lê Diên Duc chủ trì và hoàn tất năm 1989. Tác giả và các cộng sự đã 10 tiến hành điều tra, kiểm kê, mô tả các vùng đất ngập nước tiêu biểu của Việt Nam dựa trên khái niệm về đất ngập nước của Công ước Ramsar (Lê Diên Dực, Kiểm kê đất ngập nước Việt Nam, Trung tâm Tài nguyên và Môi trường, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1989). Có 42 vùng đất ngập nước đã được mô tả trong tài liệu này. Các thức phân loại này lại mang tính kiểm kê (wetland inventory) nhiéu hon tính phân loại (wetland classification).
Với những cách tiếp cận mới trong những năm đầu tham gia vào Công ước Ramsar, tài liệu này giúp phô biến tới tat cả mọi người về tầm quan trọng của DNN đối với sự sống con người cũng như các giá trị tiềm ân của chúng. Đặt vào trong hoàn cảnh bước sang đôi mới của đất nước ta vào những năm 1990, tài liệu này như là bước đà, là người tiên phong trong việc phô biến những giá trị của DNN sau nay, mặc dù còn nhiều hạn chế trong quá trình tiếp cận. Ngoài 2 tài liệu này ra, sau này còn rất nhiều các cách phân loại khác như cách phân loại của Nguyễn Chu Hỏi (1999), phân loại ĐNN của PGS.TS Vũ Trung Tạng (2004),. Những cách phân loại nay sau có phan thay đổi nhưng nhìn chung vẫn dựa trên nền tảng của Công ước Ramsar và những thành tựu ban đầu của PGS.TS Lê Diễn Dực.
Quản ly DNN. Dé có thé hiểu được khái niệm về quản lý DNN, trước hết chúng ta cần hiểu rõ về khái niệm quản lý. Quản lý có thể hiểu là hoạt động tác động một cách có tô chức và định hướng của chủ thé quan lý tới những đối tượng quản ly dé điều chỉnh chúng vận động và phát triển theo những mục tiêu nhất định đã dé ra [15]. Qua cách hiểu này, quan lý được chia thành 3 nhóm yếu tố chính bao gồm chủ thê quản lý, đối tượng quản lý và mục tiêu quản lý.
Chủ thê có thể là một cá nhân hoặc một tổ chức. Chủ thể quản lý là người tạo ra tác động thông qua mệnh lệnh hoặc hành động trực tiếp. Đối tượng quản lý là người hoặc sự vật tiếp nhận trực tiếp tác động của chủ thé quản lý thông qua các công cụ, hình thức và phương pháp nhất định. Mục tiêu quản lý là đích đến mà chủ thé hướng tới mà họ phải đạt được tại một thời điểm đã ấn định từ trước.
Thời gian dài hay ngắn dé đạt được mục tiêu được xem như là căn cứ dé chủ thé có đưa ra chiến lược, phương hướng và hình thức phù hợp dé có thê đạt được. Đối với ĐNN, mỗi mục đích của nhà quản lý sẽ có một ý nghĩa khác nhau [5]. Dựa trên cách hiểu về quản lý đã được nêu ở trên, khái niệm về quản lý DNN 11 có thể được hiểu là: quản lý hoạt động tác động một cách có tổ chức và định hướng của cơ quan quan lý nhà nước có thầm quyền tới các cá nhân, tổ chức liên đới với vùng DNN hướng tới mục đích cuối cùng là sử dụng hiệu qua, bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên DNN. Cu thé, chủ thé quản lý ở đây là các cơ quản quản ly nhà nước về DNN từ Trung ương đến địa phương.
Tại Trung ương, các ban ngành được giao về quản ly DNN như Cục Bảo tổn thiên nhiên và đa dạng sinh học, Cục quản lý tài nguyên nước thuộc Tổng cục Môi trường hay các phòng ban tại Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn,. Ở địa phương, Ủy ban nhân dân các cấp, Ban quản lý khu Ramsar là người trực tiếp quản lý và đề ra các chức năng, nhiệm vụ. Tuy nhiên, tùy thuộc vào từng cấp, mỗi chủ thể quản lý sẽ đưa ra một mục tiêu nhất định thực hiện theo nguyên tac trực tuyến, thực hiện thống nhất theo chỉ đạo của cấp cao hơn. Đối tượng quản lý chính là các cá nhân, tổ chức khai thác sử dụng nguon tài nguyên và dịch vụ có trên vùng DNN.