Chương I : TONG QUAN DOI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu chung về đối tượng nghiên cứu LI. Vị trí địa lý Mỏ X năm ở thêm lục địa phía nam Việt Nam, cách thành phố cảng Vũng Tàu, nơi bố trí cơ sở sản xuất - kỹ thuật của Liên doanh Việt — Nga “Vietsovpetro” khoảng 120km (Hình I-1). Độ sâu nước biến trong phạm vi mỏ khoảng 50m có thể khoan băng các giàn tự nang (SPBU).
Theo số liệu địa chất — công trình thì đặc trưng của phân thổ nhưỡng bể mặt của lát cắt rất thuận lợi cho việc xây dựng các công trình khai thác dầu khí. Mức độ động đất khu vực không quá 6 độ Richte. Khí hậu tại vùng mỏ là khí hậu nhiệt đới gió mùa, mưa vào mùa hè, nhiệt độ không khí khoảng 25-35” và mùa khô vào mua đông, nhiệt độ khoảng 24-30°C. Thời kỳ gió mùa tây — nam kéo dài từ tháng sáu đến tháng chín.
Trong thời gian này thường xuyên có các con mưa ngăn cùng với gió giật đến 25 m/s. Độ m không khí tăng lên đến 87% — 89%. Về mùa đông, từ tháng 11 đến tháng 3 chủ yếu là gió mùa đông - bac tốc độ gió lên đến 20m/s gây ra sóng lớn, cao đến 10m. Thời kỳ làm việc thuận lợi nhất ở trên biến là vào mùa gió tây-nam: từ tháng 6 đến tháng 9, và cả vào thời kỳ chuyền tiếp: tháng 4-5 và tháng 11 khi thay đôi hướng của gió mùa.
Các dòng chảy ở biển phụ thuộc vào gió mùa và thủy triều. Tốc độ dòng chảy tại độ sâu 15-20 m đạt 8Š cm/s, còn ở đáy biên dao động trong khoảng từ 20 đến 30 m/s. Nhiệt độ nước biến trong cả năm thay đổi từ 25-30°C. Độ mặn của nước biển khoảng 33 — 35 g/l.
Trang 5 Học viên: Lê Công Nhật Minh 0F—21 zo©r DGSYNOWL3d Gx2b0 TXdIe0 NVOM13d 1ÀmÐ 3.8014suy9Z ilk|€-649018 =z-yo|PYA SVNOUL3d OHIDNWTXEWSL8M901826/L4 049¿H\Ot18L¬0/Z--k2S1ZXIfÀNÿNsow3`IMdi> roe cờ 3X1I0 (621)Zr9EXSNIO ML1A*2eoaaZ. aePai ‘ Ê`\ JB \z \( h 7 0W—w2]1 o=rs) XIL9-2 1L9O018 ` NOWLA o rs N\ Hình I-1 Sơ do vi tr imo X trong bon triing Cuu Long + ` Xb Xxi-Ag LrSXO8I-E0 NV2OML3d 3SId 1N3 Trang 6 Học viên: Lê Công Nhật Minh L1. Đặc điểm dia tang Lát cắt địa tầng mỏ X gồm các phức hệ trầm tích sau (Hình I-2): Da móng trước Kainozoi Trong phạm vi Lô 09-1, đá móng gồm đá macma kết tinh hoàn toàn với các đai mach diabaz và poocfia bazan andezit, đặc trưng bởi mức độ bat đồng nhất cao về thành phan thạch hoc. Theo tài liệu mẫu lõi, đá móng chủ yếu là granit biotit và granit haimica, chứa nhiéu monzolit thach anh, monzodiorit thach anh va diorit 4 kiém, granit (GK BH-8), granodiorit (GK BH-17) và monzodirit thạch anh (GK BH- 7).
Đá móng chịu sự thay đối bởi quá trình biến đổi thứ sinh ở các mức độ khác nhau. Trong số các khoáng vật thứ sinh phát triển nhiều nhất là zeolit và canxít. Theo phương pháp phóng xạ xác định tuổi, tudi tuyệt đôi của đá móng từ 245+7 triệu năm (Triat muộn) đến 89+3 (Creta muộn) triệu năm. Đá granitoid bị nứt nẻ và chứa hang hốc.
Phần lát cắt đá macma thường gặp các đai mạch có thành phan đá khác nhau từ axit đến thành phần kiểm trung tính, kiểm thạch anh. Tại khu vực mỏ X, đá móng được mở ra bởi giếng khoan GT-1X, ở khoảng CSTD 4623.7-4803 m, tong chiều dày khoan vào móng là 196 m. Theo kết quả đối sánh giữa các chỉ số độ rỗng notron (ON) va gamma tự nhiên (Jy-GK), đá móng ở đây là đá macma có thành phân axít. Theo tài liệu carota khí, trong móng ở giếng khoan GT-IX, biểu hiện khí không đáng kế (<1%) và không có sự mat dung dich khoan.
Kết qua minh giải tài liệu DVLGK cho thay có một số khoảng đá có độ rỗng thứ sinh, tuy nhiên khi thử vỉa đã không nhận được dòng. Tram tích Oligoxen dưới Điệp Trà Cú (P31) Trầm tích của điệp Trà Cú gồm chủ yếu là sét kết, bột kết, cát kết, xen kẹp với các via than mỏng và sét vôi được thành tạo trong môi trường sông-hỗ. Trong điệp này thi thoảng bắt gặp thành tạo nguồn gốc núi lửa, thành phan của nó chủ yếu gồm diabaz poocfia, tuf bazan va gabro-diabaz. Chiéu dày cực đại cua điệp đạt 500 m ở Trang 7 Học viên: Lê Công Nhật Minh những phân lún chìm sâu của bê.
Trên mặt cat địa chân, lát cat của điệp năm giữa các tang phản xạ SH-11 và SH-BSM. Trầm tích điệp Trà Cú chỉ được mở ra tại một giếng khoan GT-IX. Tuổi tram tích của điệp được xác định theo tài liệu phân tích cô sinh mẫu min khoan giếng khoan GT-1X bởi sự tổn tại của bào tử phân loại Oculopollis, Magnastriatites và sự phong phú của tảo lam Pediastrium spp. thuộc vào Oligoxen sớm.
Theo đặc trưng thach học và tướng đá, lát cat điệp Tra Cu được chia ra thành 2 phan: trên và dưới. Phần trên gom thanh tao hat min, con phan dưới gom thành tao hat thô. Tai giếng khoan GT-1X, theo kết qua minh giải tài liệu DVLGK, tram tích điệp này nam ở khoảng CSTD 4047,5-4623,7 m. Trong phạm vi điệp Tra Cú có mặt các vỉa cát kết mỏng.
Những via này có tính thắm chứa khá tốt, tuy nhiên khi thử via đã không nhận được dòng. Trâm tích Oligoxen trên Điệp Trà Tân (P3?) Tram tích điệp Trà Tân phủ bat chỉnh hợp trên trầm tích điệp Trà Cú và năm giữa 2 tang phản xa địa chan SH-7 và SH-11. Trầm tích điệp này gồm các phân lớp sét, bột và cát kết xen kẽ, được thành tạo trong môi trường châu thd, vũng-vịnh, sông- hồ và bối tích ven bờ. Trong sét của điệp Trà Tân, hàm lượng vật chất hữu cơ có giá tri từ cao đến rat cao, đặc biệt ở phan giữa của lát cắt.
Đây là tập đá mẹ sinh dau và cũng đóng vai trò chắn tốt cho các thân dau trong đá móng bé Cửu Long. Mặc dù các via cát kết trong điệp xen kẽ với sét kết có tính chất thắm chứa trung bình, nhưng đây là các đối tượng triển vọng dé tìm kiếm và thăm dò dầu khí trong bé Cửu Long. Tại mỏ X, trầm tích điệp Trà Tân được mở ra tại 3 giếng khoan GT-1X, 2X, 7P, còn các giếng khác chỉ khoan đến tầng SH-7/SH-8. Trầm tích của điệp Trà Tân được xếp vào tuổi Oligoxen muộn trên cơ sở phát hiện bào tử phan Acrostichum aureum, Magnastriatites howardi và sự phong phú hóa đá của tảo lam Botriococcus và Pediastrium.
Trang 8 Học viên: Lê Công Nhật Minh Theo thành phan thạch hoc, trầm tích của điệp này có thé chia thành 3 phan với các thành phan thach hoc khac nhau. Phan trén: Nam giữa SH7-SH8, tram tich gom chu yếu là sét nâu, nâu-tối,, nâu dan xen lẫn cát kết-bột. Theo DVLGK, phân này có mặt một vài vỉa chứa, tuy nhiên không có dấu hiệu khí trong khi khoan. Phần giữa: Năm giữa SH8-SH10, tram tích gồm chủ yếu nhất là sét đen, nâu đen xen kẽ các phân lớp mỏng bột kết và cát kết.
Trong lát cắt thỉnh thoảng gặp các phân lớp mỏng đá vôi va than. Trong phan này các via bão hòa dau khí chỉ được phát hiện ở giếng khoan GT-2X và 7P. Kết quả thử via tang sản ph m Ia tại GT-2X đã nhận được dòng dầu công nghiệp với lưu lượng 130 m3/ng. Phần dưới: trong khoảng SH10-SH11, gồm chủ yếu là cát kết từ hạt mịn đến thô màu nâu tối đến nâu đen, thỉnh thoảng gặp đá cuội.
Hàm lượng khí tăng lên không đáng kế ở khoảng này trong khi khoan (giá tri cực đại đạt 10,6% tại độ sâu 3664 m trong giếng khoan GT-1X). Trầm tích Mioxen dưới Điệp Bạch Hồ (N11) Tram tích điệp Bạch Hồ có tổng chiều day đạt đến 1500 m phân bố rộng khắp trong lô 09-1 và khu vực nghiên cứu, bắt gặp ở hầu hết các giếng khoan khoan trên các cau tạo X, Bạch Hồ và Rong. Trầm tích của điệp này phủ bất chỉnh hợp góc lên trên trầm tích điệp Trà Tân. Theo tài liệu địa chan, lát cắt của điệp này phân bồ giữa các tầng phản xạ SH-3 và SH-7.
Trầm tích điệp Bạch Hồ được thành tạo trong môi trường đồng bang châu thổ, vũng vịnh, sông hỗ và bồi tích ven biến. Theo tài liệu phân tích sinh địa tầng, trong lát cắt trầm tích của điệp Bạch Hồ chứa các hóa đá tảo nước ngọt như Bosedinia inffagranulata, Arenga spp. do đó trầm tích của điệp được xếp vào tuôi Mioxen dưới. Tại khu vực mỏ X, chiều dày trầm tích điệp Bạch Hồ dao động trong khoảng từ 730 mét trong giếng khoan GT-1X đến 866 m trong giếng khoan GT-1P.
Trầm tích này gôm các lớp cát kết và sét xen kẽ có màu xám, vàng đỏ. Theo thành phan thạch học trầm tích điệp Bạch Hỗ chia thành 2 phan: trên và dưới. Trang 9 Học viên: Lê Công Nhật Minh Phần trên của điệp chủ yếu gồm sét màu xám, xanh-xám xen kẽ và tăng lên khi đi từ phía trên xuống dưới, hàm lượng cát kết và bột kết chiếm đến 50%. Ở phần trên nhất của lát cắt gặp tập sét rotali phân bố hầu khắp diện tích của bồn trũng Cửu Long.
Trong phan này bắt gặp các via cát kết thuộc tang 21 và 22 có tính chất thắm chứa tương đối tốt. Phần dưới của điệp chủ yếu gồm cát kết và bột kết chiếm trên 60%, xen kẹp các lớp sét mỏng màu xám, vàng đỏ. Theo kết quả minh giải tài liệu DVLGK trong phan lát cắt này có các via cát kết thuộc tang 23, 24, 25, 26 và 27, tính chất thắm chứa các via nay khá tốt. Khi thir gdp các tầng 23, 24, 25 và 27 ở hau hết các giếng khoan đã nhận được dòng dau công nghiệp với lưu lượng tương đối cao từ 66 đến 332 t/ng.
Trâm tích Mioxen trung Điệp Côn Son (N12 cs) Tram tích điệp Côn Son phan bồ trai khắp bồn tring Cửu Long cũng như trong phạm vi Lô 09-1 va bắt gặp trong tat cả các giếng khoan ở cau tạo X, Bạch Hồ và Rồng. Trầm tích của điệp Côn Sơn chủ yếu gồm cát kết, bột kết hạt trung đến thô (75 - 80%), xen kẽ các lớp sét xám đa mau, chiều day đạt tới 15 m, đôi chỗ gặp các phân lớp than mỏng. Tổng chiều dày của điệp thay đối từ 250 đến 990 m. Tram tích điệp này ở phía tây được thành tạo trong môi trường bồi tích — sông: ở phía đông và đông- bắc được thành tạo trong môi trường đầm hồ — châu thổ.
Trầm tích hầu như năm ngang hoặc hơi uốn lượn theo bề mặt điệp Bạch Hồ, đơn nghiêng về phía đông và phía trung tâm của bon trũng. Kết quả liên kết cho thay lát cat của điệp nam ở giữa hai tầng phản xạ địa chấn SH-2 và SH-3. Cát kết hạt thô Mioxen trung bắt gặp trong các giếng khoan GT-1X, 2X, IP, AP, 5XP.