MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cao Bằng là tỉnh miền núi biên giới nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam. Hai phía Bắc và Đông Bắc giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), với đường biên giới dài 333 km. Phía Tây giáp 2 tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang.
Phía Nam giáp 2 tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn. Trung tâm thành phố Cao Bằng cách thủ đô Hà Nội 286 km về phía Bắc theo quốc lộ 3. Dân số gần 53 vạn người, cộng đồng dân cư gồm 26 dân tộc cùng cư trú đan xen, dân tộc thiểu số chiếm 95,65% trong đó có 8 dân tộc chính là: Tày (43,9%); Nùng (32,9%); Dao (10,7%); Mông (6,8%); Kinh (4,35%); Sán Chỉ (1,2%); Lô Lô (0,4%); Hoa (0,2%), còn lại là các dân tộc khác, mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa, tập quán và những hoạt động kinh tế đặc thù riêng, dân cư các dân tộc phân bố không đều trong vùng. Hiện nay, Cao Bằng có 13 đơn vị hành chính cấp huyện (1 thành phố và 12 huyện); 199 xã, phường thị trấn (14 thị trấn, 4 phường, 181 xã); có 46 xã thị trấn biên giới, có 2 cửa khẩu quốc gia, 1 cửa khẩu quốc tế.
Cao Bằng có diện tích tự nhiên là 6.707,86 km² là cao nguyên đá vôi xen với đất, có độ cao trung bình trên 200 m, vùng sát biên có độ cao từ 600 - 1.300 m so với mặt nước biển. Núi rừng chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh, đất bằng để canh tác chỉ có diện tích 10%, quy mô diện tích ở mức trung bình so với các tỉnh khác trong toàn quốc [16]. Theo báo cáo thống kê đất đai năm 2013 của Sở Tài Nguyên và Môi Trường: Tổng diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh là 625.246,99 ha chiếm 93,27% diện tích đất tự nhiên, đất phi nông nghiệp 27.479,43 ha chiếm 4,1% diện tích đất tự nhiên, đất chưa sử dụng 17.615,83 ha chiếm 2,63% diện tích đất tự nhiên. Trong diện tích đất nông nghiệp bao gồm: diện tích sản xuất nông nghiệp là 99.775,19 ha; đất lâm h 2 nghiệp là 526.970,45 ha; đất nuôi trồng thủy sản là 147,30 ha; đất nông nghiệp khác là 24,05 ha.
Kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn của toàn tỉnh những năm qua đã phát triển tương đối khá. Năm 2013 diện tích lúa cả năm đạt 30.390,6 ha, năng suất cả năm 41,4 tạ/ha, sản lượng đạt 125. Từ thực tế trên, để đưa Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, nhằm áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất có hiệu quả, tạo điều kiện cho nhân dân phát huy tiềm năng sẵn có của địa phương. Đồng thời, căn cứ vào điều kiện đất đai khí hậu của địa phương cũng như mong muốn áp dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp của bà con nông dân.
Trong giai đoạn 2013 - 2016 Trung tâm Khuyến nông tỉnh Cao Bằng đã triển khai thực hiện được 13 mô hình về trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh. Trong những năm qua các chương trình khuyến nông đã có những hoạt động khá phong phú, phù hợp với mục tiêu đề ra và bước đầu giúp bà con nông dân trong tỉnh nâng cao hiểu biết về kỹ thuật canh tác, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và nâng cao được thu nhập thông qua việc trực tiếp tham gia xây dựng và nhân rộng các mô hình khuyến nông. Hoạt động của các mô hình khuyến nông đã góp phần không nhỏ vào việc thực hiện các dự án phát triển nông thôn, xóa đói, giảm nghèo… không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn. Đặc biệt các mô hình khuyến nông đã thiết lập được các hệ thống, các mô hình khuyến nông ở nhiều thôn bản, nhằm trình diễn kỹ thuật để người dân học tập, làm theo và hàng loạt các giống mới đã được trồng thử nghiệm có năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn với nhiều phương thức kỹ thuật khác nhau để từ đó lựa chọn các giống cây trồng, phương thức sản xuất, kỹ thuật phù hợp cho các tiểu vùng sinh thái để nâng cao năng suất, sản lượng.
h 3 Nhìn chung đa số các mô hình đều thành công và đem lại hiệu quả kinh tế ở năm thực hiện triển khai mô hình. Tuy nhiên, theo nhìn nhận thì một số ít mô hình được nông dân tiếp tục triển khai thực hiện và nhân rộng, còn lại đa số sau khi kết thúc mô hình thì không được người dân thực hiện nữa. Với mục đích tìm hiểu những khó khăn trở ngại trong quá trình triển khai mô hình, những điểm phù hợp và không phù hợp với địa phương, lý do tại sao các mô hình sau khi kết thúc không được người dân tiếp tục thực hiện, không được mở rộng quy mô. Từ những lý do nêu trên, đề tài: “Đánh giá khả năng ứng dụng của các mô hình khuyến nông sau khi đã triển khai trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2013 - 2016” là hết sức cần thiết.
Mục đích nghiên cứu của đề tài - Mục đích của nghiên cứu nhằm đánh giá được khả năng ứng dụng và tính bền vững của các mô hình khuyến nông sau khi đã triển khai từ đó đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác xây dựng mô hình khuyến nông trên địa bàn tỉnh Cao Bằng. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Đánh giá được điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Cao Bằng. - Đánh giá được thực trạng các mô hình khuyến nông đã được triển khai trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2013 - 2016. - Đánh giá được khả năng ứng dụng và tính bền vững của các mô hình khuyến nông đã thực hiện tại địa phương.
- Tìm hiểu được những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức khi thực hiện mô hình. - Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng mô hình khuyến nông. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa học tập Giúp sinh viên củng cố lý thuyết, rèn luyện kỹ năng đã học về công tác khuyến nông.
Giúp sinh viên nắm được phương pháp học, phương pháp làm việc nghiên cứu khoa học trong thực tiễn sản xuất. Trong quá trình thực hiện đề tài, giúp sinh viên có điều kiện học hỏi, củng cố kiến thức thông qua các cán bộ quản lý, các cán bộ chuyên môn tại cơ quan mình thực tập để sau khi ra trường sẽ thực hiện tốt công việc với đúng chuyên nghành của mình. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài sẽ là cơ sở cho các cấp chính quyền địa phương, các nhà đầu tư đưa ra những quyết định mới, hướng đi để xây dựng các kế hoạch phát triển, mở rộng mô hình trên địa bàn cũng như những khu vực khác. h 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Một số khái niệm cơ bản 2. Khái niệm giám sát, đánh giá khuyến nông - Giám sát là liên tục thu thập và phân tích thông tin để đánh giá tiến độ thực hiện các mục tiêu của hoạt động khuyến nông. Do cán bộ khuyến nông và những đối tượng tham gia thực hiện; là 1 phần trong công tác quản lý các hoạt động khuyến nông. - Đánh giá là xem xét theo định kỳ một cách hệ thống và khách quan tính phù hợp, hiệu quả, hiệu suất ảnh hưởng và tính bền vững của các hoạt động khuyến nông.
+ Giám sát: quá trình diễn ra liên tục; + Đánh giá: theo nhiệm kỳ [8]. - Có 5 lý do cần đến giám sát, đánh giá trong hoạt động khuyến nông: + Xem xét lại tiến trình thực hiện + Tìm ra các vấn đề trong lập kế hoạch và thực hiện + Đưa ra các điều chỉnh để tạo sự thay đổi + Yêu cầu các nhà tài trợ: tiêu đúng cách, tiêu hiệu quả? + Cho bản thân dự án/hoạt động đó để xem liệu có tác động? có làm việc hiệu quả, học cách thực hiện nó tốt hơn. - Giám sát bao gồm: + Xây dựng các chỉ số về hiệu quả, hiệu suất và ảnh hưởng/tác động; + Thiết lập hệ thống để thu thập thông tin liên quan đến các chỉ số nêu trên; + Thu thập và ghi chép thông tin; + Phân tích thông tin; h 6 + Sử dụng thông tin cho công tác quản trị hàng ngày. - Đánh giá bao gồm: + Xem xét dự án/HĐKN/CQ dự định đạt được điều gì, muốn tạo nên sự thay đổi gì, muốn tạo nên sự tác động gì? + Xem xét khía cạnh thực tế: Nguồn lực có sử dụng hiệu quả? Chi phí cơ hội? [8] - Các loại đánh giá: + Đánh giá tiền khả thi/khả thi Đánh giá tiền khả thi là đánh giá tính khả thi của hoạt động hay dự án, để xem xét liệu dự án hay hoạt động có thế thực hiện được hay không trong từng điều kiện cụ thể nhất định.
Loại đánh giá này thường do tổ chức tài trợ thực hiện, những tổ chức này sẽ phân tích các khả năng thực hiện của dự án hay hoạt động để làm căn cứ duyệt hay không duyệt để đưa dự án vào thực hiện [7]. + Đánh giá định kỳ Đánh giá định kỳ là đánh giá từng giai đoạn thực hiện, có thể đánh giá toàn bộ các công việc trong một giai đoạn nhưng cũng có thể đánh giá từng công việc ở từng giai đoạn nhất định. Nhìn chung đánh giá định kỳ thường áp dụng cho những dự án có thời gian thực hiện lâu dài. Tùy theo dự án mà người ta có thể định ra các khoảng để đánh giá định kỳ, có thể là 3 tháng, 6 tháng, hay 1 năm một lần.
Mục đích của đánh giá định kỳ là để tìm ra điểm mạnh, điểm yếu, những khó khăn, thuận lợi trong một thời kỳ nhất định để có thể thay đổi hay điều chỉnh các hoạt động cho phù hợp với những gì đã đề ra và cho những giai đoạn kế tiếp [7]. - Các dạng đánh giá: + Tự đánh giá: tự cầm chiếc gương và đánh giá bản thân, 1 cách học hỏi. + Đánh giá có sự tham gia: 1 dạng của đánh giá nội bộ (intenal evalation), người hưởng lợi và cán bộ dự án cùng làm việc với nhau. h 7 + Đánh giá nhanh có sự tham gia (PRA): bán cấu trúc, tiến hành bởi nhóm đa ngành trong thời gian ngắn; thu thập thông tin về điều kiện địa phương một cách nhanh chóng, ít tốn kém.
+ Đánh giá ngoài: Đánh giá được tiến hành bởi nhóm đánh giá đến từ bên ngoài, được tuyển chọn kỹ lưỡng. + Đánh giá tương tác: Tương tác chủ động giữa đánh giá ngoài với cơ quan/dự án bị đánh giá [8].