CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến TDBTT của BĐKH 1. Trên thế giới Trên thế giới, tính dễ bị tổn thương đã được nghiên cứu ở rất nhiều quy mô khác nhau như đối với một vùng lãnh thổ/khu vực (đới ven biển, hệ thống đảo,.), một HST, một hệ thống tự nhiên hay một cộng đồng người,. trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, xã hội, môi trường, thiên tai và đặc biệt quan tâm tới lĩnh vực BĐKH. Tính dễ bị tổn thương trong các nghiên cứu cụ thể được xem xét trong những hoàn cảnh và nguyên nhân rất đa dạng, như BĐKH toàn cầu, sự biến động giá cả hàng hóa trên thị trường, sự khan hiếm lương thực, sự thay đổi tổ chức và thể chế, chiến tranh, khủng bố, những tai biến thiên nhiên, suy thoái môi trường,… Theo IPCC (2001), nguy cơ tổn thương trước BĐKH được xác định là “mức độ mà một hệ thống nhạy cảm hoặc là không thể đương đầu với những tác động của biến đổi khí hậu, bao gồm những thay đổi và hiện tượng cực đoan của khí hậu”.
IPCC đã xác định 3 biến số cần thiết để đánh giá nguy cơ tổn thương là: Tai biến khí hậu (đe dọa); tính nhạy cảm với tai biến; khả năng thích ứng và đương đầu với các tác động tiềm năng [23]. Trong công trình ”Xây dựng khả năng phục hồi do BĐKH tại 3 nước Việt Nam, Campuchia và Thái Lan”, Mark R. Bezuien cho rằng [29], nguy cơ tổn thương là hàm số của đặc điểm, mức độ và tỷ lệ của những thay đổi về khí hậu mà theo đó, một hệ thống bị đặt vào tình trạng đe dọa, mức độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của nó. Theo IPCC, đánh giá nguy cơ tổn thương do BĐKH là sự định lượng hóa 3 biến số đặc trưng cho các các yếu tố tự nhiên, kinh tế và xã hội.
Các nhà khoa học đã cố gắng thu hẹp khoảng cách giữa các ngành khoa học tự nhiên, xã hội nhằm tạo ra một phương pháp chung để giải quyết nhu cầu có tính thách thức này [17]. Đến nay, một phương pháp chung để đánh giá nguy cơ tổn thương là đánh giá định lượng giá trị của các chỉ thị tổn thương (Indicator) của các hợp phần tự nhiên, kinh tế và xã hội theo 3 biến số: (i) Mức độ hứng chịu/phơi nhiễm (Exposure), (ii) mức độ nhạy cảm (Sensitivity) và (iii) năng lực thích ứng (Adaptive capacity); cuối cùng 5 tổng hợp lại bằng chỉ số tổn thương (Vulnerability Index). Phương pháp tiếp cận đánh giá tổn thương dựa vào các chỉ thị đã được nhiều nhà nghiên cứu áp dụng để đánh giá tổn thương và lập bản đồ mức độ tổn thương cho các khu vực khác nhau trên thế giới, đặc biệt các nước tiếp giáp với biển có nguy cơ rủi ro cao với BĐKH như Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Ấn Độ. Các nhà khoa học Ấn Độ, Divya Mohan và Shirish Sinha đã thực hiện nghiên cứu “Đánh giá mức độ tổn thương đối với sinh kế của người dân và các hệ sinh thái ở lưu vực sông Ganga” [21].
Brunckhorst và các nhà nghiên cứu khác đã đánh giá tổn thương do tác động của BĐKH ở bang New Walls, Australia trên cơ sở sử dụng một số chỉ thị tổn thương xã hội (chỉ thị bất lợi KT-XH, chỉ thị nguồn lực kinh tế và chỉ thị giáo dục và nghề nghiệp) để xây dựng chỉ số tổn thương tổng hợp của cộng đồng và khả năng thích ứng của họ. Tổn thương được phân tích theo tổn thương ngắn hạn (bão, ngập lụt) và tổn thương dài hạn (bất lợi KT-XH, tính ổn định dân cư) [20]. Công trình “Thành lập bản đồ tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu ở vùng Đông Nam Á”, tập thể tác giả thuộc Chương trình môi trường và kinh tế cho Đông Nam Á thực hiện năm 2009 [19]. Đây là công trình nghiên cứu có giá trị về phương pháp luận đánh giá tính dễ bị tổn thương tổng hợp gồm cả 3 thành phần tự nhiên, kinh tế, xã hội bằng tiếp cận đánh giá theo chỉ thị và chỉ số tổn thương tổng hợp.
Nghiên cứu đã thực hiện tính toán một chỉ số tổn thương chung cho 530 khu vực của các quốc gia vùng Đông Nam Á: Indonesia, Campuchia, Lào, Malaysia, Philippin, Thái Lan và Việt Nam. Chỉ số tổn thương do BĐKH đã được xác định thông qua các bước sau: (1) Đánh giá mức độ tiếp xúc bằng các thông tin và các chỉ thị liên quan đến khí hậu (bão, lũ lụt, lở đất, hạn hán và NBD), (2) Đánh giá mức độ nhạy cảm về khía cạnh con người bằng chỉ thị mật độ dân số và khía cạnh sinh thái bằng các chỉ thị đa dạng sinh học và (3) Chỉ số năng lực thích ứng như là một hàm số của các chỉ thị KT-XH, công nghệ và cơ sở hạ tầng. Dựa vào kết quả đánh giá 3 thành phần trên, đã xây dựng chỉ số tổn thương chung cho từng khu vực và thành lập các bản đồ thành phần: Bản đồ tai biến khí hậu, bản đồ mức độ nhạy cảm của con người và sinh thái; bản đồ năng lực thích ứng. Ngoài những công trình nghiên cứu, đánh giá tính dễ bị tổn thương do tác 6 động của BĐKH nêu trên, còn có một số công trình nghiên cứu khác về rừng ngập mặn trước các tác động của BĐKH.
Snedaker đã thực hiện nghiên cứu "Kịch bản và giả thuyết: RNM với BĐKH ở Florida và khu vực Caribê", trong đó đưa ra các kịch bản và 7 giả thuyết khái quát về phản ứng của RNM với BĐKH mà trong đó có tác động của mực NBD [31]. Năm 2006, công trình "Đánh giá phản ứng của RNM với mực NBD và xây dựng lại lịch sử vị trí đường bờ biển" của Eric Gilman, Joanna Ellison và Richard Coleman đã phân tích các ảnh viễn thám với hệ thống thông tin địa lý (GIS), đo dữ liệu thuỷ triều và dự đoán sự thay đổi của mực nước biển đối với bề mặt RNM. Từ đó, dự đoán chính xác sự thay đổi ranh giới HST ven biển, bao gồm cả phản ứng của RNM với mực NBD bằng các mô hình khác nhau, cho phép nâng cao quy hoạch để giảm thiểu và bù đắp những tổn thất và thiệt hại theo dự đoán [26]. Năm 2007, tập thể tác giả Eric L.
Gilman, Joanna Ellison, Norman C. Duke và Colin Field đã nghiên cứu về "Mối đe doạ đến RNM từ BĐKH và các giải pháp thích ứng" cho thấy, HST RNM đang bị đe doạ bởi BĐKH, NBD có thể là mối đe doạ lớn nhất đối với RNM [25]. Nghiên cứu "Mô hình hình số độ cao kiểm tra ảnh hưởng của mực NBD đến RNM ở giai đoạn đầu" năm 2008 của D. Koedam [22] đã phân tích các động thái cấu trúc thảm thực vật của RNM để khái quát về điều kiện hình thành RNM ở giai đoạn đầu khi được tách từ cây bố mẹ dưới tác động của mực NBD dựa trên mô hình số độ cao và GIS.
Nghiên cứu "Mô hình khái niệm cho các phản ứng RNM với mực NBD" năm 2009 của MLG Soares thấy rằng trong bối cảnh NBD, phản ứng của RNM sẽ phụ thuộc vào một vài đặc điểm chính như tốc độ của mực NBD, trầm tích đầu vào, sự thay đổi độ cao chất nền RNM, đặc điểm khu vực nghiên cứu cũng như địa mạo và địa hình của vùng ven biển khu vực đó [28]. Trong nước Nghiên cứu về BĐKH ở Việt Nam đã được tiến hành từ những thập niên 90 của thế kỷ trước bởi các nhà khoa học đầu ngành như GS. Nguyễn Đức Ngữ, GS. Nguyễn Trọng Hiệu.
Tuy nhiên, vấn đề này chỉ thực sự được quan tâm chú ý từ sau những năm 2000, đặc biệt từ năm 2008 trở lại đây. 7 Từ những năm 1994 - 1996, lần đầu tiên G. Tom và cộng sự đã nghiên cứu về TDBTT của đới bờ Việt Nam do sự gia tăng mực nước biển và BĐKH, nghiên cứu này đã chỉ ra được khả năng rủi ro cao cho khoảng 17 triệu người dân ở các đồng bằng ven biển [14]. Báo cáo Khoa học về sinh thái và tài nguyên sinh vật của Phạm Hồng Tính và cộng sự [9] nghiên cứu về “Tính dễ bị tổn thương đối với BĐKH của RNM ven biển miền Bắc Việt Nam (Vulnerability of mangroves to climate change in the northern coast of Viet Nam).
Báo cáo này tạo cơ sở khoa học cho việc nâng cao khả năng thích ứng của HST RNM với BĐKH và NBD. Nghiên cứu tập trung phân tích tổng hợp các nhân tố khí hậu tác động tới RNM, sự bồi tụ trầm tích, biến động diện tích rừng, sự hiểu biết và tham gia của cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường và phát triển RNM. Năm 2007, nghiên cứu "BĐKH và vai trò của RNM trong việc ứng phó" của Phan Nguyên Hồng và cộng sự đã đưa ra kết quả về tác động của BĐKH đối với HST RNM Việt Nam và nêu ra vai trò của RNM trong việc ứng phó với BĐKH và NBD. Năm 2007, Phan Nguyên Hồng và cộng sự đã tổng hợp và biên soạn về tác dụng của RNM trong việc hạn chế tác hại của sóng thần.
Bùi Xuân Thông có công trình "NBD vào kỳ triều cường tại các vùng ven biển miền Trung, Đông Nam Bộ trong tổ hợp tác động BĐKH. Năm 2008, Luận án tiến sĩ của Vũ Đoàn Thái đã nghiên cứu về tác dụng của RNM đối với sóng trong bão ở vùng ven biển TP. Hải Phòng. Nghiên cứu cho rằng, RNM đã che chắn phía ngoài bờ và đê biển có tác dụng làm giảm đáng kể độ cao sóng khi truyền qua, khả năng cản sóng của RNM tùy thuộc vào chiều rộng, cấu trúc của rừng; khi có bão lớn, RNM có ỹ nghĩa quan trong việc làm giảm thiểu tác động phá hủy của sóng trong bão đối với bờ biển.
Năm 2009, nghiên cứu "Đánh giá tính dễ bị tổn thương của vùng đất ngập nước ven biển Việt Nam cho sử dụng bền vững (trường hợp nghiên cứu tại Xuân Thuỷ, Việt Nam)" của Mai Trọng Nhuận và cộng sự đã đề xuất một số giải pháp nhằm sử dụng thích hợp các tài nguyên đất ngập nước phục vụ phát triển bền vững vùng ven biển căn cứ vào mức độ dễ bị tổn thương. 8 Kết quả nghiên cứu về tác động của BĐKH đối với HST RNM Việt Nam cho thấy, có 6 yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến HST nhạy cảm này: (i) nhiệt độ không khí; (ii) lượng mưa; (iii) gió mùa Đông Bắc; (iv) bão; (v) triều cường và (vi) hoạt động của con người (Phan Nguyên Hồng, 1993).