Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 TỔNG QUAN VỀ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 1.1 Dịch tễ học về bệnh đái tháo đường: Tỷ lệ lưu hành của bệnh ĐTĐ trên toàn cầu đang gia tăng nhanh chóng do tăng tuổi thọ chung của dân số, mức độ đô thị hóa và thay đổi lối sống [80]. Số lượng người mắc bệnh tăng gấp đôi trong 3 thập kỷ gần đây. Năm 2010 ước tính có 285 triệu người mắc bệnh trong đó 90% là bệnh ĐTĐ típ 2. Số lượng người mắc bệnh ĐTĐ dự kiến sẽ tăng lên 439 triệu người vào năm 2030 chiếm 7,7% số người trong độ tuổi 20-79 [67].
Tỷ lệ ĐTĐ thì tương đối thấp ở các nước đang phát triển cách đây một thập kỷ. Tuy nhiên, tần suất mắc bệnh ngày càng tăng cao ở các nước châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, Ấn Độ [22] và những người gốc châu Á nhập cư vào các nước phương Tây [47],[69]. Gánh nặng bệnh ĐTĐ tập trung ở các nước đang phát triển chứ không phải các nước phát triển, 80% trường hợp ĐTĐ đang sống ở các nước kém phát triển [67]. Có sự gia tăng nhanh chóng tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở các nước châu Á, kết quả này là do kinh tế phát triển nhanh chóng, quá trình đô thị hóa và thay đổi chế độ dinh dưỡng [15].
Trong 10 nước dự đoán là có số lượng người mắc bệnh ĐTĐ vào năm 2030 có 5 nước thuộc châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Indonesia, Bangladesh) [67]. Bên cạnh châu Á, khu vực Trung Đông và châu Phi cũng có tỷ lệ lưu hành bệnh tương đối cao [6],[46]. Tỷ lệ lưu hành của bệnh ĐTĐ của những người nhập cư từ vùng Trung Đông tại Thụy Điển còn cao hơn những người bản địa [78]. Tỷ lệ những người trung niên ở các nước đang phát triển mắc bệnh ĐTĐ cao hơn những nước phát triển [67].
Hơn nữa, bệnh ĐTĐ không nhất thiết lưu hành ít ở vùng nông thôn, cao ở thành thị. Sự khác biệt này ngày càng bị thu hẹp do người vùng nông thôn di cư ra thành thị ngày càng nhiều, quá trình đô thị hóa, kết hợp với. 6 thay đổi lối sống. Một nghiên cứu ở Ấn Độ cho thấy có sự gia tăng bệnh ĐTĐ ở vùng thành thị (13,9% năm 2000 lên 18,2 % năm 2006), ở vùng nông thôn (6,4% năm 2000 đến 9,2% năm 2006) [61].
Trong một nghiên cứu ở Trung Quốc thực hiện ở những người từ 35-74 tuổi thực hiện năm 2001 và năm 2006 ghi nhận: tỷ lệ lưu hành bệnh ĐTĐ ở vùng nông thôn tăng lên từ 5,3- 14,2% (nam), từ 8,9-13,85% (nữ), còn ở vùng thành thị tỷ lệ tăng lần luợt là 11,3 – 19,2% (nam), 11,3 đến 16,1% (nữ) [50]. Tại Việt Nam, năm 2002 tỷ lệ mắc ĐTĐ trong cả nước 2,7%, năm 2012 là 5,4%[49]. Theo báo cáo của WHO năm 2016 tỷ lệ bệnh ĐTĐ ở Việt Nam tăng gần gấp đôi trong 10 năm qua, mức tăng là 211% nhanh gấp 3 lần thế giới (70%), cứ mỗi 20 người trưởng thành có một người mắc bệnh ĐTĐ.458 trường hợp tử vong liên quan đến ĐTĐ. Các khoản chi phí liên quan đến bệnh ĐTĐ là 162,7 đô la cho mỗi bệnh nhân cao hơn thu nhập bình quân hằng tháng của người Việt Nam (150 đô la) [87].2 Chẩn đoán và phân loại bệnh ĐTĐ: Tiêu chẩn chẩn đoán: Tiêu chuẩn áp dụng theo Hiệp Hội ĐTĐ Hoa Kỳ 2015, theo đó chẩn đoán ĐTĐ được khẳng định nếu có ít nhất 1 trong 4 tiêu chuẩn sau: [82] 1.
HbA1c ≥ 6,5% được thực hiện với phương pháp sắc ký lỏng ở phòng thí nghiệm theo chương trình chuẩn hóa HbA1c quốc gia của Hoa Kỳ. Đường huyết lúc đói (nhịn đói qua đêm ít nhất 8h) ≥126 mg/dL (7. Đường huyết 2h sau ăn ≥ 200mg/dl (11,1 mmol/l) bằng nghiệm pháp dung nạp glucose (75gr). Đường huyết bất kỳ ≥ 200mg/dl (11,1mmol/l), (ở người triệu chứng tăng đường huyết hoặc có cơn tăng đường huyết) *kết quả tăng đường huyết không rõ ràng nên khẳng định bằng cách lặp lại xét nghiệm.
7 - Trừ khi chẩn đoán lâm sàng rõ ràng, một test nên được lặp lại với mẫu máu mới để khẳng định chẩn đoán. - Nếu 2 kết quả trái ngược nhau, kết quả trên điểm cắt nên được lặp lại. Phân loại bệnh ĐTĐ: Bệnh đái tháo đường có thể được phân loại như sau: [82] 1. Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐ được chẩn đoán trong tam các nguyệt thứ 2 hoặc thứ 3 của thai kỳ mà không rõ ràng là bệnh ĐTĐ) 4.
Loại chuyên biệt của ĐTĐ do nhiều nguyên nhân khác như là hội chứng ĐTĐ đơn gen (ĐTĐ ở trẻ sơ sinh, ĐTĐ khởi phát ở người trẻ, bệnh của tuyến tụy ngoại tiết như bệnh xơ nang, thuốc hoặc hóa chất gây bệnh ĐTĐ như thuốc điều trị HIV/AIDS hoặc sau ghép cơ quan) 1.2 TỔNG QUAN VỀ SUY DINH DƯỠNG 1.1 Định nghĩa Suy dinh dưỡng là một tình trạng thiếu cung cấp hay giảm hấp thu dinh dưỡng kéo dài, dẫn đến làm thay đổi thành phần cơ thể (giảm khối mỡ tự do và khối tế bào cơ thể), dẫn đến giảm chức năng về tinh thần, thể chất và giảm kết cục điều trị lâm sàng [40].2 Ảnh hưởng của bệnh đái tháo đường đến tình trạng suy dinh dưỡng: Những bệnh nhân mới mắc bệnh ĐTĐ thường có những rối loạn chuyển hóa về chất đường, đạm, mỡ, tuy nhiên những rối loạn này không dẫn đến SDD ngay lập tức. Thời gian mắc bệnh ĐTĐ càng lâu rối loạn chuyển hóa các chất càng nặng kèm theo sự xuất hiện các biến chứng và chế độ dinh dưỡng không hợp lý thì rất dễ dẫn đến tình trạng SDD. Bệnh nhân ĐTĐ có tình trạng thiếu insulin hoặc kháng insulin hoặc cả hai tùy theo loại ĐTĐ típ 1 hay típ 2. Tuy nhiên ảnh hưởng chung là.
8 làm đường ở ngoại vi không thể vào trong tế bào gây tăng đường huyết trong khi tế bào thiếu hụt năng lượng để sử dụng. Tại gan có hiện tượng giảm tổng hợp và tăng thoái hóa chất béo, chất đạm dự trữ, tăng tân tạo đường để huy động năng lượng cho cơ thể. Hậu quả làm tăng đường huyết, giảm khối cơ và khối mỡ toàn cơ thể mà tế bào vẫn thiếu năng lượng. Quá trình này kéo dài kèm theo chế độ dinh dưỡng không hợp lý làm thiếu hụt năng lượng sẽ dẫn đến tình trạng SDD[15].
Thiếu Insulin Kháng Insulin Mô mỡ Tăng mỡ máu GAN Tăng Acetyl-CoA Tăng đường Tăng phân giải Tăng thể Tăng tổng huyết protein ceton hợp cholesterol Thiếu đường Cân bằng nitơ Toan máu Xơ vữa trong tế bào âm mạch Rối loạn chuyển Rối loạn chuyển Rối loạn chuyển hóa đường hóa đạm hóa mỡ thiếu dinh dưỡng Suy dinh dưỡng Sơ đồ 1.1: Cơ chế gây suy dinh dưỡng ở bệnh nhân đái tháo đường .3 Ảnh hưởng của suy dinh dưỡng đến bệnh nhân đái tháo đường nhập viện [3] 1.1 Chức năng nhận thức: Khi cơ thể có SDD gây nên tình trạng lo lắng và trầm cảm nhất định có liên quan đến thiếu vi chất. Chế độ ăn không đảm bảo đủ năng lượng kèm theo thiếu các vitamin nhóm C, E, B6, B12 và folate và sự thay đổi về Ca, Mg và phosphate là những yếu tố nguy cơ làm giảm chức năng nhận thức của bộ não.2 Chức năng cơ: SDD gây giảm lực của cơ cũng như sức bền của cơ. Ngoài sự thay đổi về mô trong cơ, SDD cũng liên quan đến giảm nguồn năng lượng và chất trung gian trong xương như glycogen, adenosin triphosphat, creatine. Chức năng của cơ bị suy giảm trước khi nhận biết sự thay đổi của khối cơ.
Một khi sự thay đổi khối cơ nhận biết trên lâm sàng thì chức năng cơ đã bị ảnh hưởng nhiều. Đo trương lực kế tay bằng dụng cụ handgrip là một phương pháp hữu ích, đơn giản ở những người cần đánh giá và theo dõi dinh dưỡng.3 Chức năng tuần hoàn: Thiếu dinh dưỡng trầm trọng và kéo dài gây mất cơ tim và giảm hiệu suất làm việc của tim, chậm nhịp tim và hạ huyết áp. Giảm thể trọng tỷ lệ thuận với giảm thể tích tim có thể lên đến 40%. Các bệnh nhân suy kiệt nặng có sự giảm sức vận động có thể tiến triển đến suy tuần hoàn ngoại vi.
Thiếu hụt một số chất đặc biệt như B1 có thể gây suy tim và rối loạn khoáng chất, điện giải có thể gây rối loạn nhịp tim.4 Chức năng thận: SDD gây thay đổi huyết động của thận, giảm độ lọc của thận cũng như khả năng cô đặc nước tiểu và bài tiết thấp hơn. Khả năng đào thải muối dư thừa bị suy giảm gây ứ dịch ở ngoại bào gây nên tình trạng phù.5 Chức năng hô hấp: Mất 20% protein làm ảnh hưởng đến cấu trúc và chức năng cơ hô hấp. Mất protein có liên quan đến vấn đề giảm khối cơ hoành, sức cơ hô hấp và khả năng. 10 thông khí chủ động.
Ở người suy kiệt có thể có sự đáp ứng thay đổi với sự giảm oxi máu và sự tăng CO2 máu, thay đổi kiểu thở. Do đó cai máy thở khó khăn hơn.6 Cơ quan tiêu hóa: Khi lượng thức ăn cung cấp giảm lâu ngày làm ruột non giảm bề mặt hấp thu. Ở người SDD nặng có sự giảm hấp thu chất béo, disaccharide và glucose. Bên cạnh đó, cũng có giảm tiết dịch dạ dày, mật và tụy góp phần làm giảm hấp thu.
Chính do sự thay đổi này mà bệnh nhân SDD nặng thường bị tiêu chảy, làm nặng thêm tình trạng SDD và tạo ra một vòng lẩn quẩn. Những thay đổi của hệ vi khuẩn hay nhiễm trùng đường ruột có thể tăng mức độ giảm hấp thu và tiêu chảy. Sự thay đổi của hệ tiêu hóa có liên quan với SDD dẫn đến viêm và làm giảm chức năng rào cản của ruột.7 Điều hòa thân nhiệt: Sụt cân nghiêm trọng làm giảm đáp ứng sinh nhiệt với lạnh, không cung cấp năng lượng trong 48 giờ làm giảm đáp ứng co mạch. Khi nhiệt độ giảm 1 - 20C gây giảm chức năng nhận thức, rối loạn chuyển hóa, yếu cơ.
Trong điều kiện quá đói phản ứng sốt bị mất và thậm chí sẽ không sốt ngay khi bị nhiễm trùng đe dọa tính mạng.8 Hệ thống miễn dịch: SDD làm giảm các tế bào điều hòa miễn dịch và chống nhiễm khuẩn. Khiếm khuyết đầu tiên của hệ miễn dịch được ghi nhận gồm tế bào lympho T và hệ thống bổ thể. Điều này làm giảm tế bào lympho ở tuyến ức và teo tuyến ức. Việc hạ albumin máu do các thay đổi viêm trong chuyển hóa cytokin cũng được nhận thấy.
Các phản ứng cytokin bị ức chế góp phần làm giảm tốc độ phát triển tế bào lympho. Hậu quả của giảm miễn dịch là tăng tính nhạy cảm với nhiễm trùng và giảm khả năng tạo phòng vệ thích hợp để vượt qua chấn thương và nhiễm trùng.