CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH HỮU HIỆU CỦA KIỂM SOÁT NỘI BỘ CHU TRÌNH BÁN HÀNG VÀ THU TIỀN TRONG DOANH NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1. Khái niệm hệ thống Kiểm soát nội bộ Trong một tổ chức thì sự thống nhất và xung đột giữa quyền lợi chung- quyền lợi riêng của người sử dụng lao động và người lao động luôn luôn tổn tại song hành. Nếu không có hệ thống kiểm soát nội bộ, làm thế nào để người lao động không vì quyền lợi riêng của mình mà làm những điều thiệt hại đến lợi ích chung của toàn tổ chức, của người sử dụng lao động; làm thế nào có thể phân công phân nhiệm một cách khoa học, rõ ràng chứ không phải dựa trên sự tin tưởng cảm tính.
Chính vì vậy một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh được xem là nhu cầu hết sức cần thiết, là công cụ tối ưu để xác định hiệu quả điều hành của Ban Quản trị của một tổ chức cũng như kịp thời nắm bắt hiệu quả hoạt động của tổ chức đó. Có nhiều khái niệm khác nhau về hệ thống Kiểm soát nội bộ, một số khái niệm có thể đề cập đến như sau: Theo VSA 315 (ban hành kèm Thông tư số 214/2012/TT-BTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 của Bộ Tài chính), Kiểm soát nội bộ là quy trình do Ban Quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan. Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế IFAC, hệ thống Kiểm soát nội bộ là kế hoạch của đơn vị và toàn bộ các phương pháp, các bước công việc mà các nhà quản lý doanh nghiệp tuân theo. Hệ thống Kiểm soát nội bộ trợ giúp cho các 8 nhà quản lý đạt được mục tiêu một cách chắc chắn theo trình tự và kinh doanh có hiệu quả kể cả việc tôn trọng các quy chế quản lý; giữ an toàn tài sản, ngăn chặn, phát hiện sai phạm và gian lận; ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác, lập báo cáo tài chính kịp thời, đáng tin cậy.
Theo định nghĩa của COSO (Committee of Sponsoring Organization) thì kiểm soát nội bộ là một quy trình chịu ảnh hưởng bởi Hội đồng quản trị, các nhà quản lý và các nhân viên khác của một tổ chức, được thiết kế để cung cấp một sự bảo đảm hợp lý trong việc thực hiện các mục tiêu mà Hội đồng quản trị mong muốn là: - Sự hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động - Sự tin cậy của báo cáo tài chính - Sự tuân thủ pháp luật và các quy định hiện hành [8]. Như vậy, tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về hệ thống Kiểm soát nội bộ trong một doanh nghiệp, nhưng tựu trung đây là một quá trình, liên quan đến nhiều đối tượng trong một tổ chức, được thiết lập để đảm bảo hoạt động của tổ chức có hiệu quả, tuân thủ các qui định pháp luật và đảm bảo thông tin tài chính công bố có tính tin cậy. Chức năng của hệ thống Kiểm soát nội bộ Hệ thống Kiểm soát nội bộ thực chất là các hoạt động, biện pháp, kế hoạch, quan điểm, nội quy chính sách và nỗ lực của mọi thành viên trong tổ chức để đảm bảo cho tổ chức đó hoạt động hiệu quả và đạt được mục tiêu đặt ra một cách hợp lý. Như vậy có thể thấy hệ thống Kiểm soát nội bộ có các chức năng chủ yếu sau đây: - Ngăn ngừa sai phạm trong quy trình xử lý nghiệp vụ - Phát hiện và sửa chữa kịp thời những sai phạm trong xử lý nghiệp vụ giúp cho doanh nghiệp tránh khỏi thất thoát tài sản - Giúp cho doanh nghiệp thực hiện được chính sách đường lối kinh doanh 9 - Đảm bảo an toàn tài sản - Đảm bảo báo cáo tài chính trung thực và hợp lý - Đảm bảo mọi thành viên trong tổ chức tuân thủ nội quy, quy định, quy chế của tổ chức cũng như các quy định của luật pháp đồng thời giám sát mức độ hiệu quả của việc thực hiện các nội quy, quy định, quy chế đó.
- Đảm bảo sử dụng tối ưu các nguồn lực và đạt được mục tiêu đặt ra. Các yếu tố cấu thành của hệ thống Kiểm soát nội bộ Trong báo cáo COSO (2013), hệ thống Kiểm soát nội bộ bao gồm năm bộ phận có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, đó là: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát [8]. Môi trường kiểm soát Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một tổ chức, tác động đến ý thức của mọi người trong đơn vị, là nền tảng cho các bộ phận khác trong hệ thống Kiểm soát nội bộ Môi trường kiểm soát bao gồm các nhân tố: tính trung thực và các giá trị đạo đức, cam kết về năng lực, Hội đồng quản trị và Ủy ban kiểm toán, triết lý quản lý và phong cách điều hành, cơ cấu tổ chức, phân định quyền hạn và trách nhiệm, chính sách nhân sự. - Tính trung thực, giá trị đạo đức và năng lực làm việc của nhân viên trong công ty: Sự phát triển của một công ty luôn gắn liền với đội ngũ nhân viên, mỗi nhân viên là một chi tiết cấu thành nên bộ máy của công ty.
Vì vậy tính trung thực và giá trị đạo đức của nhân viên cao sẽ tạo môi trường thuận lợi để liên kết và phát huy sức mạnh tập thể giúp công ty hoàn thành kế hoạch, đạt được mục tiêu của mình. Đội ngũ nhân viên là chủ thể trực tiếp thực hiện mọi thủ tục kiểm soát trong hoạt động của công ty. Nếu nhân viên có năng lực, tin cậy, học vấn cao, quá trình kiểm soát có thể không được thực hiện thì vẫn có thể đảm bảo được các mục tiêu đề ra của kiểm soát nội bộ. 10 Bên cạnh đó, mặc dù doanh nghiệp có thiết kế và vận dụng các chính sách, thủ tục kiểm soát chặt chẽ nhưng với đội ngũ nhân viên kém năng lực trong công việc và thiếu tính trung thực thì hệ thống kiểm soát nội bộ không thể phát huy hiệu quả.
- Triết lý quản lý và phong cách điều hành: Bộ máy của công ty hoạt động tuỳ thuộc vào phong cách, triết lý quản lý, điều hành của Ban Giám đốc. Nó ảnh hưởng rất lớn đến môi trường kiểm soát của tổ chức, bao gồm khả năng nhận thức và giám sát được rủi ro trong kinh doanh. Nếu nhà quản lý có quan điểm kinh doanh trung thực, cạnh tranh lành mạnh, họ có xu hướng coi trọng tính trung thực của báo cáo tài chính đồng thời có những biện pháp để hạn chế tối đa rủi ro kinh doanh. Môi trường kiểm soát sẽ mạnh do ý muốn thiết lập các thủ tục kiểm soát chặt chẽ để thực hiện các mục tiêu đã đề ra của nhà quản lý.
Ngược lại nếu nhà quản lý có tư tưởng gian lận, không lành mạnh thì rất có thể báo cáo tài chính sẽ ẩn chứa các sai phạm và từ đó môi trường kiểm soát có thể sẽ yếu kém. - Cơ cấu tổ chức, phân định quyền hạn và trách nhiệm, chính sách nhân sự: Mỗi người phải nhận thức được công việc của mình có ảnh hưởng thế nào trong việc góp phần hoàn thành mục tiêu của đơn vị. Cơ cấu tổ chức của một đơn vị thực chất là sự phân chia quyền hạn, trách nhiệm giữa các thành viên trong đơn vị. Cơ cấu tổ chức được xây dựng hợp lý trong công ty sẽ góp phần tạo ra môi trường kiểm soát tốt.
Cơ cấu tổ chức hợp lý đảm bảo một hệ thống xuyên suốt từ trên xuống dưới trong việc ban hành các quy định, quy chế, triển khai các quy định, quy chế đó cũng như việc giám sát thực hiện các quy định, quy chế đó trong toàn bộ công ty. Một cơ cấu tổ chức hợp lý còn góp phần ngăn ngừa có hiệu quả các hành vi gian lận và sai sót trong hoạt động tài chính kế toán của công ty. Đánh giá rủi ro Rủi ro là khả năng xảy ra sự cố bất lợi cho chủ thể, hay có thể hiểu nó là nguy cơ xảy ra một hành động hay một sự việc có ảnh hưởng bất lợi đến việc đạt được những mục tiêu cũng như việc thực hiện thành công những chiến lược kinh doanh của một tổ chức. Những rủi ro này có thể do bản thân doanh nghiệp (mâu thuẫn về mục đích hoạt động, các chiến lược của doanh nghiệp đưa ra cản trở việc thực hiện các mục tiêu, sự quản lý thiếu minh bạch, không coi trọng đạo đức nghề nghiệp, chất lượng cán bộ thấp, sự cố hỏng hóc của hệ thống máy tính, của cơ sở hạ tầng, tổ chức và cơ sở hạ tầng không thay đổi kịp với sự thay đổi, mở rộng của sản xuất…) hay từ môi trường bên ngoài tác động (công nghệ phát triển làm thay đổi quy trình vận hành, thay đổi thói quen của người tiêu dùng làm các sản phẩm dịch vụ hiện hành bị lỗi thời, sự ban hành của một đạo luật hay chính sách mới làm ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức…).
Để tránh bị thiệt hại do các tác động trên, tổ chức cần thường xuyên đánh giá rủi ro. Như vậy đánh giá rủi ro là quá trình nhận dạng và phân tích những rủi ro ảnh hưởng đến việc đạt được mục tiêu, từ đó có thể quản trị được rủi ro. Hoạt động kiểm soát Hoạt động kiểm soát là tập hợp những chính sách và thủ tục giúp cho các chỉ thị của quản lý được thực hiện, là các hoạt động cần thiết cần thực hiện để đối phó với rủi ro đe dọa đến việc đạt được mục tiêu của tổ chức. Thông qua các hoạt động kiểm soát mà nhà quản lý sẽ tự tin hơn là tài sản công ty được bảo đảm và báo cáo tài chính là đáng tin cậy.
Các hoạt động kiểm soát chủ yếu: Phân chia trách nhiệm, xử lý thông tin, bảo vệ tài sản, sử dụng các chỉ số hoạt động, quản trị hoạt động, soát xét ở cấp cao. 12 Chất lượng hoạt động kiểm soát được coi là tốt nếu các nội dung sau được đảm bảo: - Doanh nghiệp đã đề ra các định mức xác định về tài chính và các chỉ số căn bản đánh giá hiệu quả hoạt động như những chỉ số quản lý khi lập kế hoạch và kiểm soát để điều chỉnh hoạt động sản xuất phù hợp với mục tiêu đề ra.