Luận văn đánh giá thực trạng tiêm chủng trẻ em dưới 1 tuổi và thái độ của bà mẹ với các phản ứng sau tiêm chủng huyện bình xuyên tỉnh vĩnh phúc năm 2007

Luận văn phân tích thực trạng tiêm chủng trẻ em dưới 1 tuổi và thái độ của bà mẹ về phản ứng sau tiêm tại huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc năm 2007.

Chuyên ngành

Y Tế Công Cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn

2007

73
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Một số khái niệm

1.2. Chương trình tiêm chủng mở rộng trên toàn cầu

1.3. Chương trình tiêm chủng mở rộng ở Việt Nam

1.4. Hiệu quả do Chương trình tiêm chủng mở rộng mang lại

1.5. Một số vấn đề liên quan đến Chương trình tiêm chủng mở rộng tại cộng đồng

1.6. Chương trình TCMR tỉnh Vĩnh Phúc

1.7. Chương trình TCMR huyện Bình Xuyên

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thiết kế đánh giá

2.2. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.3. Xác định chỉ số, biến số chính cần đánh giá (phụ lục 3)

2.4. Xác định cỡ mẫu, cách chọn mẫu

2.5. Phương pháp thu thập số liệu

2.6. Xây dựng bộ công cụ đánh giá

2.7. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

2.8. Kế hoạch đánh giá

2.9. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

2.10. Hạn chế nghiên cứu đánh giá

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Một số thông tin chung

3.2. Thực trạng tiêm chủng các loại vắc xin

3.3. Công tác quản lý sổ sách, an toàn tiêm chủng

3.4. Thái độ của các bà mẹ đối với những phản ứng sau tiêm chủng

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Thực trạng tiêm chủng các loại vắc xin

4.2. Công tác quản lý sổ sách, an toàn tiêm chủng

4.3. Dự án TCMR Quốc gia và khu vực

4.4. Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh Vĩnh Phúc, TTYT huyện Bình Xuyên

4.5. Các trạm y tế xã, thị trấn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 2: DANH SÁCH THÔN ĐIỀU TRA

PHỤ LỤC 3: PHIẾU ĐIỀU TRA TIÊM CHỦNG TRẺ EM

PHỤ LỤC 4: PHIẾU PHỎNG VẤN BÀ MẸ, NGƯỜI CHĂM SÓC CHÍNH TRẺ 12-23 THÁNG TUỔI

PHỤ LỤC 5: PHIẾU GIÁM SÁT TIÊM CHỦNG MỞ RỘNG TUYẾN XÃ - NĂM 2008

PHỤ LỤC 6: THỰC TRẠNG TIÊM CHỦNG

Tóm tắt

I. Tổng quan về đánh giá tiêm chủng trẻ em dưới 1 tuổi tại huyện Bình Xuyên

Tiêm chủng là một trong những biện pháp quan trọng nhằm bảo vệ sức khỏe trẻ em, đặc biệt là trẻ dưới 1 tuổi. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá thực trạng tiêm chủng trẻ em dưới 1 tuổi tại huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc trong năm 2007. Mục tiêu là xác định tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ và thái độ của các bà mẹ đối với các phản ứng sau tiêm chủng.

1.1. Khái niệm và tầm quan trọng của tiêm chủng trẻ em

Tiêm chủng là biện pháp sử dụng vắc xin để tạo miễn dịch cho trẻ em, giúp phòng ngừa các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Chương trình tiêm chủng mở rộng đã góp phần giảm tỷ lệ mắc và tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi.

1.2. Chương trình tiêm chủng mở rộng tại Việt Nam

Chương trình tiêm chủng mở rộng được triển khai từ năm 1985, với mục tiêu tiêm chủng miễn phí cho tất cả trẻ em dưới 1 tuổi. Tỷ lệ tiêm chủng đã tăng đáng kể, đạt trên 90% trong nhiều năm qua.

II. Vấn đề và thách thức trong tiêm chủng trẻ em tại huyện Bình Xuyên

Mặc dù tỷ lệ tiêm chủng cao, vẫn còn nhiều thách thức trong việc duy trì và nâng cao chất lượng tiêm chủng. Các vấn đề như thiếu thông tin, thái độ của bà mẹ và phản ứng sau tiêm chủng cần được xem xét kỹ lưỡng.

2.1. Thực trạng tiêm chủng và tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ

Theo báo cáo, tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ dưới 1 tuổi tại huyện Bình Xuyên năm 2007 đạt 94,21%. Tuy nhiên, tỷ lệ tiêm vắc xin viêm gan B giảm mạnh từ 36,5% xuống còn 12,03%.

2.2. Thái độ của bà mẹ đối với tiêm chủng

Thái độ của bà mẹ có ảnh hưởng lớn đến việc đưa trẻ đi tiêm chủng. Nhiều bà mẹ vẫn còn lo ngại về các phản ứng sau tiêm chủng, dẫn đến việc không đưa trẻ đi tiêm đúng lịch.

III. Phương pháp nghiên cứu đánh giá tiêm chủng trẻ em

Nghiên cứu được thực hiện thông qua phương pháp khảo sát, phỏng vấn và thu thập dữ liệu từ các bà mẹ có con dưới 1 tuổi. Mẫu nghiên cứu bao gồm 210 trẻ em và bà mẹ tại huyện Bình Xuyên.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và đối tượng tham gia

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang, với đối tượng là trẻ em từ 12 đến 23 tháng tuổi và các bà mẹ của họ. Dữ liệu được thu thập qua phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp.

3.2. Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu

Dữ liệu được thu thập từ các phiếu điều tra và sổ theo dõi tiêm chủng. Phân tích dữ liệu được thực hiện bằng phần mềm thống kê để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy.

IV. Kết quả nghiên cứu về tiêm chủng trẻ em và thái độ của bà mẹ

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ ở trẻ em dưới 1 tuổi đạt 94,21%. Tuy nhiên, thái độ của bà mẹ đối với các phản ứng sau tiêm chủng vẫn còn nhiều lo ngại.

4.1. Tỷ lệ tiêm chủng và các loại vắc xin

Tỷ lệ tiêm chủng cho trẻ dưới 1 tuổi đạt cao với các loại vắc xin như bạch hầu, ho gà, uốn ván. Tuy nhiên, tỷ lệ tiêm vắc xin viêm gan B giảm đáng kể.

4.2. Phản ứng sau tiêm chủng và thái độ của bà mẹ

Nhiều bà mẹ cho biết họ lo ngại về các phản ứng sau tiêm chủng, điều này ảnh hưởng đến quyết định đưa trẻ đi tiêm chủng đúng lịch.

V. Kết luận và hướng phát triển tiêm chủng trẻ em trong tương lai

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc nâng cao nhận thức của bà mẹ về tiêm chủng và các phản ứng sau tiêm chủng là rất cần thiết. Cần có các biện pháp cụ thể để cải thiện tỷ lệ tiêm chủng và đảm bảo an toàn cho trẻ em.

5.1. Đề xuất các biện pháp nâng cao tỷ lệ tiêm chủng

Cần tổ chức các buổi tuyên truyền, giáo dục sức khỏe cho bà mẹ về lợi ích của tiêm chủng và cách xử lý các phản ứng sau tiêm chủng.

5.2. Tương lai của chương trình tiêm chủng tại huyện Bình Xuyên

Chương trình tiêm chủng cần được duy trì và phát triển hơn nữa, nhằm đảm bảo sức khỏe cho trẻ em và giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm.

14/07/2025
Luận văn đánh giá thực trạng tiêm chủng trẻ em dưới 1 tuổi và thái độ của bà mẹ với các phản ứng sau tiêm chủng huyện bình xuyên tỉnh vĩnh phúc năm 2007

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Tạo miễn dịch chủ động cho người để phòng bệnh luôn là một biện pháp đem lại hiệu quả cao với chi phí thấp[2]. Tiêm chúng là một biện pháp nhằm tạo miễn dịch chủ động cho trẻ em để phòng một số bệnh truyền nhiễm như: lao, sởi, ho gả, bạch hầu, bại liệt, uốn ván sơ sinh. Có thể nói đây là một trong những thành tựu to lớn của y học trong thế kỷ 20. Chương trình tiêm chủng mở rộng đã làm giảm đáng kể số mắc của nhiều bệnh truyền nhiễm ở trẻ em, góp phần làm giảm tỷ suất chết trẻ dưới 1 tuổi và trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt là các nước đang phát triển[ 16].

Chương trình tiêm chủng mở rộng (CTTCMR) trên thế giới được WHO chính thức đề xướng từ năm 1974. Thực tế cho thấy các chương trình tiêm chủng hàng năm đã cứu sống khoảng 1 triệu trẻ em ở các nước đang phát triển. Tuy nhiên vẫn còn hơn 3,5 triệu trẻ em bị tử vong hoặc tàn phế mà lẽ ra có thế phòng được bằng tiêm chủng vác xin phòng bệnh[7]. Chính vì thể, tháng 5 năm 1977, WHO đã đề xưởng các mục tiêu dài hạn của CTTCMR trong đó có một mục tiêu quan trọng là: “Giảm tỷ lệ tử vong do 6 bệnh: bạch hầu, ho gà, uốn ván, sởi, bại liệt và bệnh lao bằng cách tạo miễn dịch cho tất cả trẻ em trên toàn cầu trước năm 1990”.

Đây là những bệnh mà hàng năm ước tính đã giết hại và gây tàn phế cho hàng triệu trẻ em. Việc tiêm chủng phòng ngừa các bệnh trên vừa hiệu quả cao, vừa an toàn, thực tế các nước đã cho thấy so trường hợp mac, chết của 6 bệnh giảm đi một cách nhanh chóng khi mà hầu hết trẻ em đều được tiêm vắc xin phòng bệnh[8]. Giai đoạn 1990-2000, WHO đã phát động, triển khai chương trình thanh toán bại liệt và chương trình loại trừ uvss trên phạm vi toàn cầu[28]. Bệnh bại liệt đã thanh toán ở nhiều nước song vẫn còn lưu hành ở một số nước châu Phi, châu Á với hàng nghìn ca mắc trong năm 1999, đặc biệt ở Ấn Độ, Bangladesh, Pakistan, Congo.và rất dễ xâm nhập trở lại các nước đã được công nhận thanh toán Bại liệt[31], uốn ván sơ sinh vẫn là một bệnh lưu hành phổ biến ở các nước đang phát triển.

Sởi vẫn là bệnh gây mắc, tử vong cao ở trẻ em, hàng nãm có khoảng 40 triệu trường hợp mắc sởi và hơn 1 triệu trường hợp tử vong do sởi, 2 chiếm 10% tổng số tử vong trẻ em dưới 5 tuổi. Viêm gan vi rút B là bệnh có tỷ lệ mắc và mang vi rút cao, đặc biệt là ở châu Á và Đông Nam Á, tỷ lệ mang dấu ấn vi rút Viêm gan B trong dân cư là 15-20%, và đây là bệnh được WHO khuyển cáo sử dụng vắc xin phòng bệnh rộng rãi vào đầu thể kỷ 21 [29]. Trong những năm qua Chương tiêm chủng mở rộng ở Việt Nam đã làm giảm rõ rệt tỷ lệ mắc, chết một số bệnh truyền nhiễm trẻ em. Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ đạt trên 90% trong nhiều năm, thanh toán bệnh bại liệt năm 2000, loại trừ uvss năm 2005 trên qui mô huyện và đang tiến tới loại trừ sởi vào năm 2010[28].

Tuy nhiên nãm 2006- 2007 đã xảy ra một số trường hợp tai biến do tiêm chủng gây ảnh hưởng nhất định đến công tác tiêm chủng tại một số địa phương[12]. Trong quá trình triển khai chương trình TCMR, Tổ chức Y tế Thế giới đã khuyến cáo các nước có tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cao, đã và đang trong giai đoạn thanh toán bệnh thì cần phải đề ra mục tiêu nâng cao chất lượng tiêm chủng. Đảm bảo cho trẻ được tiêm chủng đúng độ tuổi nhằm duy trì khả năng phòng bệnh bền vững, tiêm chủng đủ liều, đúng kỹ thuật, bảo quản và vận chuyển vắc xin đủng qui định, an toàn trong tiêm chủng, theo dõi sau tiêm chủng. Theo báo cáo của Trung tâm Y tế dự phòng huyện Bình Xuyên, tỷ lệ tiêm chủng qua các năm đều đạt chỉ tiêu đề ra; Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ 7 loại vắc xin ở trẻ em dưới ỉ tuổi của năm 2006 là 95,2% và năm 2007 là 94,21%; đậc biệt tỷ lệ tiêm vắc xin VGB giảm rõ rệt từ 36,5% xuống còn 12,03%[24],[25].

Đe đánh giá tỷ lệ tiêm chủng thực tế tại huyện có khác biệt so với báo cáo của các cơ sở y te hay không; việc thực hiện an toàn tiêm chủng như thế nào, tìm hiểu thái độ của các bà mẹ với các phản ứng sau tiêm chủng, đề xuất các biện pháp triển khai tiếp theo góp phần củng cố và duy trì các thành quả của chương trình tiêm chủng mở rộng trên địa bàn huyện. Chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Đánh giá thực trạng tiêm chủng trẻ em dưói 1 tuổi và thái độ của bà mẹ với các phản ÚTig sau tiêm chủng, huyện Bình Xuyên - tỉnh Vĩnh Phúc nàm 2007” 3. Mục tiêu nghiên cứu 1. Xác định tỷ lệ trẻ em 12- 23 tháng tuổi tiêm chủng đủ liều và đúng lịch các loại vắc xin lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, sởi và viêm gan B.

Đánh giá công tác quản lý sổ sách, thực hiện tiêm chủng an toàn tại tuyển xã năm 2007. Mô tả thái độ của các bà mẹ đối với các phản ứng sau tiêm chủng. 4 Chưoĩig 1: TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm: Tiêm chủng là biện pháp sử dụng vắc xin để tạo miễn dịch chủ động cho người nhằm phòng một sổ bệnh truyền nhiễm phổ biến như lao, sởi, ho gà, bạch hẩu, bại liệt.

Vắc xỉn là vật liệu chế từ các vi sinh vật hoặc các kháng nguyên đặc hiệu của chúng để đưa vào cơ thể người gây miễn dịch chủ động cho cộng đồng phòng bệnh truyền nhiễm do chính các vi sinh vật tương ứng gây ra[17]. Miễn dịch quần thể: Một người khi tạo được miễn dịch bằng tiêm chủng sẽ ít có khả năng truyền bệnh cho người khác. Một quần thể được tạo miễn dịch bàng tiêm chủng sẽ có vai trò như một hàng rào bảo vệ cho những người còn lại chưa được tiêm chủng, với điều kiện số lượng những người được tạo miễn dịch phải đạt đến một tỷ lệ nhất định. Khi tỷ lệ những người được tạo miễn dich phòng bệnh đạt đến và duy trì ở một mức nào đó sẽ tạo nên miễn dịch quần thể có tác dụng bảo vệ cho cả những người chưa có miễn dịch[34].

Khái niệm này cho thấy tầm quan trọng của tỷ lệ tiêm chủng, theo khuyến cáo của WHO, tỷ lệ tiêm chủng cần đạt ít nhất 90% đối với vắc xin phòng một số bệnh truyền nhiễm như bại liệt, sởi, bạch hầu, ho gà, uốn ván. Phản ứng sau tiêm chủng: PƯSTC là tình trạng bất thường về sức khỏe xảy ra sau khi tiêm chủng có liên quan đển vẳc xin, sai sót trong tiêm chủng hoặc do trùng họp ngẫu nhiên hay các nguyên nhân khác[5], [21]. Chương trình tiêm chủng mở rộng trên toàn cầu Nãm 1974, Tổ chức Y tế thể giới đề xướng và vận động các nước thành viên thực hiện một chương trình có ích trong khuôn khổ các hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu nhằm thực hiện mục tiêu “sức khỏe cho mọi người vào nãm 2000”. Đó là “Chương trình Tiêm chủng mở rộng”, thường được viết tắt theo tiếng Anh là EPI (Expanded Programme on Immunization).

Mục tiêu của chương trình này là đến năm 1990, tất cả trẻ em trên thế giới đều được tiêm chủng. 5 Sau hơn 30 năm triển khai, Chương trình này đã trở thành một trong số những chương trình y tể được triển khai rộng rãi nhất, phổ cập nhất, được người dân và Chính phủ các nước ủng hộ và đánh giá cao nhất. Hiện nay, trong tổng sổ hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới có tới 193 quốc gia và vùng lãnh thổ thực hiện Chương trình tiêm chủng mở rộng. Mặc đù có rất nhiều loại vắc xin được sản xuất nhưng sổ loại vắc xin được sử dụng khác nhau ở từng quốc gia.

Quy mô này phụ thuộc vào năng lực y tế, nguồn lực của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, những vắc xin sau là những vắc xin bắt buộc phải có trong Chương trinh Tiêm chủng mở rộng của các nước: vắc xin lao, vác xin bạch hầu - ho gà - uổn ván, vẳc xin bại liệt, vắc xin sởi. Trong thời gian gần đây, vac xin viêm gan vi rút B ngày càng được mở rộng để đạt được độ bao phủ quy mô toàn cầu. Các số liệu ghi nhận được trong thời gian qua cho thấy tỷ lệ tiêm chủng các loại vắc xin ở mức khá cao và là một trong những chương trình đem lại sự công bằng về chăm sóc y tế tới mọi người dân[7].

Điều này cho thấy sự thành công của một chương trình tác động với quy mô lớn. Tuy nhiên, bên cạnh những số liệu khả quan nói trên, Chương trình tiêm chủng mở rộng vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc triển khai tới mọi vùng trên thể giới và đạt đến tỷ lệ tiêm chủng lý tưởng (trên 90%) nhất là những vùng sâu, vùng xa, những khu vực có dân sổ đông, mức sống thấp, các quốc gia đang và kém phát triển, những nơi đang có chiến tranh[27]. Trong số 193 quốc gia thực hiện Chương trình Tiêm chủng mở rộng hoạt động vẫn còn 10 quốc gia, vùng lãnh thổ có tỷ lệ tiêm vắc xin DPT mũi 3 (DPT3) dưới 50%. Tình trạng này tập trung chủ yếu ở những nước đang phát triển, kém phát triển và những quốc gia thường xuyên xảy ra chiến tranh (ATganistan, Iraq, Somalia, Liberia.

Đáng chú ý là 5 trong số 10 quốc gia đông dân nhất trên thế giới (Trung Quốc, Indonesia, Ân Độ, Pakistan, Nigeria) mỗi năm vẫn có khoảng hơn 1 triệu trẻ trong độ tuổi tiêm vac xin DPT3 và sởi mà không được tiêm những vắc xin đó. Trẻ không được tiêm chủng, không được tiêm chủng đầy đủ là những vấn đề ngày càng nhận được sự quan tâm nhiều hơn của Chính phủ các nước, các to chức quốc tể. sổ 6 lượng trẻ không được tiêm chủng, cũng như không có được miễn dịch phòng bệnh do thực hiện lịch tiêm chủng không đúng ngày càng tăng sẽ dẫn tới hệ quả xuất hiện những vụ dịch có quy mô lớn ở những vùng đã thực hiện tiêm chủng. Chương trình tiêm chủng mở rộng ở Việt Nam Việt Nam cũng không thể đứng ngoài những xu hướng phát triển chung của nhân loại.

Bắt đầu triển khai thí điểm từ năm 1981 tại một số xã phường, đển năm 1985 Chương trình tiêm chủng mở rộng được triển khai trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ