Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về cơ sở dữ liệu địa chính 1. Khái niệm về cơ sở dữ liệu địa chính Cơ sở dữ liệu (CSDL) địa chính: là tập hợp thông tin có cấu trúc của dữ liệu địa chính (gồm dữ liệu không gian địa chính, dữ liệu thuộc tính địa chính và các dữ liệu khác có liên quan) được sắp xếp, tổ chức để truy cập, khai thác, quản lý và cập nhật thường xuyên bằng phương tiện điện tử (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2013).[3] Dữ liệu là những sự kiện có thể ghi lại được và có ý nghĩa. Dữ liệu là thông tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự.
Ngoài ra, dữ liệu là những sự kiện có thể ghi lại được và có ý nghĩa. Dữ liệu là hình thức thể hiện của thông tin trong mục đích thu thập, lưu trữ và xử lý. Trong nhiều tài liệu người ta định nghĩa dữ liệu là đối tượng xử lý của máy tính. Thông tin luôn mang một ý nghĩa xác định còn dữ liệu là các dữ kiện không có ý nghĩa rõ ràng nếu nó không được tổ chức và xử lý Dữ liệu không gian địa chính: là dữ liệu về vị trí, hình thể của thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; dữ liệu về hệ thống thủy văn, hệ thống thủy lợi; hệ thống đường giao thông; dữ liệu về điểm khống chế; dữ liệu về biên giới, địa giới; dữ liệu về địa danh và ghi chú khác; dữ liệu về đường chỉ giới và mốc giới quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch giao thông và các loại quy hoạch khác, chỉ giới hành lang an toàn bảo vệ công trình (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2010).
Vai trò của cơ sở dữ liệu địa chính đối với công tác quản lý đất đai Cơ sở dữ liệu địa chính là một dạng hồ sơ địa chính đặc biệt, vừa phục vụ cho lợi ích của nhà nước, vừa đảm bảo quyền lợi của công dân. Nhà nước cần Hồ sơ này để thực hiện việc thu thuế cũng như đảm bảo cho việc quản lý, giám sát, sử dụng và phát triển đất đai một cách hợp lý và hiệu quả. Đối với công dân, Hồ sơ sẽ cung cấp thông tin cho người sử dụng đất, sở hữu tài sản gắn liền với đất thực hiện các quyền thích hợp để họ có thể giao dịch hoặc tra cứu hoặc sử dụng vào các mục đích hợp pháp khác một cách thuận lợi, nhanh chóng, an toàn và với một chi phí thấp. Việc xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu địa chính phải đồng bộ từ đo đạc địa chính, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận và xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính, đảm bảo thông tin thống nhất, đầy đủ và chính xác, góp phần quan trọng để tạo lập một hệ thống quản lý đất đai công khai và minh bạch để phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong lĩnh vực đất đai; góp phần quan trọng trong giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai.
Hiện nay các Dự án xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính đã hoàn thành đều tập trung vào các mục tiêu chủ yếu sau đây: - Chỉnh lý, chuẩn hóa các loại bản đồ, tài liệu, dữ liệu địa chính theo đúng chuẩn mà Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định; chỉnh lý, bổ sung thửa đất có biến động và phát sinh trong hồ sơ địa chính; hoàn thiện các cơ chế cập nhật chỉnh lý biến động và cung cấp thông tin, nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, xây dựng các hệ thống phần mềm chuyên ngành, đào tạo nguồn nhân lực. - Làm cơ sở để người sử dụng đất, sở hữu tài sản trên đất thực hiện các quyền của mình theo quy định của pháp luật. - Làm cơ sở để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. - Làm cơ sở để thanh kiểm tra tình hình sử dụng đất và giải quyết khiếu nại tố cáo, tranh chấp đất đai.
- Làm cơ sở để thống kê, kiểm kê đất đai. Nội dung của cơ sở dữ liệu địa chính Mô hình các nhóm dữ liệu cấu thành cơ sở dữ liệu địa chính Hình 1. Các nhóm dữ liệu cấu thành CSDL địa chính CSDL địa chính bao gồm các nhóm dữ liệu sau: - Nhóm dữ liệu về người: gồm dữ liệu người quản lý, người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, người có liên quan đến các giao dịch về đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; - Nhóm dữ liệu về thửa đất; - Nhóm dữ liệu về tài sản gắn liền với đất; - Nhóm dữ liệu về quyền: gồm dữ liệu thuộc tính về tình trạng sử dụng của thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; hạn chế quyền và nghĩa vụ trong sử dụng đất, sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; giao dịch về đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; - Nhóm dữ liệu về thủy hệ; - Nhóm dữ liệu về giao thông; - Nhóm dữ liệu về biên giới, địa giới; - Nhóm dữ liệu về địa danh và ghi chú; - Nhóm dữ liệu về điểm khống chế tọa độ và độ cao trên thực địa phục vụ đo vẽ lập bản đồ địa chính; - Nhóm dữ liệu về quy hoạch: gồm dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính về đường chỉ giới và mốc giới quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch giao thông và các loại quy hoạch khác; chỉ giới hành lang an toàn bảo vệ công trình. Các nhóm dữ liệu thành phần này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, được thể hiện ở sơ đồ hình 1.
Sơ đồ liên kết giữa các nhóm dữ liệu thành phần 1. Nguyên tắc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính Việc xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác sử dụng dữ liệu địa chính phải đảm bảo tính chính xác, khoa học, khách quan, kịp thời và thực hiện theo quy định hiện hành về thành lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất. Tuân thủ các quy định, quy chuẩn kỹ thuật về xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính như (Tổng cục Quản lý đất đai, 2011) [11]: - Hệ quy chiếu không gian và thời gian áp dụng cho dữ liệu địa chính; - Siêu dữ liệu địa chính; - Chất lượng dữ liệu địa chính; - Trình bày và biểu thị dữ liệu địa chính; - Trao đổi, phân phối dữ liệu và siêu dữ liệu địa chính Việc xây dựng cơ sỏ dữ liệu địa chính được thực hiện như sau: - Cơ sở dữ liệu địa chính xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) là thành phần cơ bản của hệ thông cơ sở dữ liệu địa chính. - Cơ sở dữ liệu địa chính của quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là tập hợp cơ sở dữ liệu địa chính của tất cả các đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện; đối với các huyện không có đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc thì cấp huyện là đơn vị cơ bản để thành lập cơ sở dữ liệu địa chính.
- Cơ sở dữ liệu địa chính của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là tập hợp cơ sở dữ liệu địa chính của tất cả các đơn vị hành chính cấp huyện thuộc tỉnh. Cơ sở dữ c 8 liệu địa chính cấp Trung ương là tổng hợp cơ sở dữ liệu địa chính của tất cả các đơn vị hành chính cấp tỉnh trên phạm vi cả nước.Quy trình công nghệ và phân loại khu vực xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính Dữ liệu không gian địa chính được xây dựng trên cơ sở thu nhận kết quả của quá trình đo đạc lập bản đồ địa chính và các nguồn dữ liệu không gian địa chính khác có liên quan. Dữ liệu thuộc tính địa chính được xây dựng trên cơ sở thu nhận kết quả đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính và các nguồn dữ liệu thuộc tính địa chính khác có liên quan (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2010) [1] theo quy trình hình vẽ 1.3: Dữ liệu bản Hồ sơ đồ địa chính địa chính Kiểm tra, đối soát Thu nhận, chuẩn hoá Thu nhận chuẩn hoá TƯ Thu nhận bổ sung thông LIỆU KHÁC Kiểm tra Kiểm tra Dữ liệu không Dữ liệu thuộc gian theo tính theo chuẩn CSDL không CSDL thuộc gian địa chính tính địa chính Liên kết CSDL không gian và CSDL thuộc tính CSDL ĐỊA CHÍNH Hình 1. Sơ đồ quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính c 9 Khi xây dựng CSDL địa chính sẽ phân thành 2 loại khu vực: Địa bàn chưa có cơ sở dữ liệu và địa bàn đã có cơ sở dữ liệu nhưng chưa theo chuẩn.
- Địa bàn chưa có cơ sở dữ liệu: + Trường hợp 1: Trường hợp thực hiện đồng bộ việc chỉnh lý hoàn thiện hoặc đo đạc lập mới bản đồ địa chính gắn với đăng ký, cấp mới, cấp đổi Giấy chứng nhận và xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính cho tất cả các thửa đất (Tổng cục Quản lý đất đai, 2011). [11] + Trường hợp 2: Trường hợp đã thực hiện đăng ký, cấp Giấy chứng nhận, đăng ký biến động đất đai. Tương tự như đối với trường hợp 1 (có thêm 1 bước: phân loại thửa đất và hoàn thiện hồ sơ địa chính) (Tổng cục Quản lý đất đai, 2011). [11] - Địa bàn đã có cơ sở dữ liệu: nhưng chưa theo chuẩn thì phải tiến hành chuẩn hóa, chuyển đổi cho phù hợp.
Việc chuẩn hóa, chuyển đổi cơ sở dữ liệu thực hiện theo quy định tại Thông tư số Số: 30/2009/TT-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2009 Quy định về Quy trình và Định mức kinh tế - kỹ thuật xây dựng cơ sở dữ liệu Tài nguyên và Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2010). Quản lý, khai thác hệ thống thông tin đất đai: 1.