Luận văn: So sánh TCVN 2737 và ASCE 7-10 trong tính toán tháp phong điện

Phân tích ứng xử tháp phong điện chịu tải trọng gió theo TCVN 2737 và ASCE 7-10. Luận văn so sánh kết quả tính toán chuyển vị, nội lực, ứng suất.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ kỹ thuật

2018

110
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phân tích tháp phong điện chịu tải trọng gió

Sự phát triển của năng lượng tái tạo đặt ra yêu cầu cao về độ an toàn và hiệu quả của các công trình năng lượng, đặc biệt là tháp tuabin gió. Chiều cao công trình ngày càng tăng để đón gió tốt hơn, dẫn đến việc phân tích kết cấu tháp điện gió trở nên phức tạp và quan trọng hơn bao giờ hết. Một tuabin gió phải đảm bảo khả năng sản xuất năng lượng ổn định và đồng thời chịu được mọi loại tải trọng tác động, trong đó tải trọng gió là yếu tố quyết định. Việc đánh giá chính xác ứng xử của kết cấu dưới tác động của gió theo các tiêu chuẩn thiết kế là nền tảng cho sự an toàn và bền vững của dự án. Hai bộ tiêu chuẩn được sử dụng phổ biến để tham chiếu là Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 2737:1995 và Tiêu chuẩn Hoa Kỳ ASCE 7-10 (hoặc các phiên bản mới hơn như ASCE 7-16). Mỗi tiêu chuẩn có những phương pháp luận và giả thiết riêng, từ cách định nghĩa vận tốc gió thiết kế đến việc xem xét các thành phần động của gió. Do đó, việc nghiên cứu so sánh và đánh giá ứng xử của tháp theo cả hai tiêu chuẩn này mang lại cái nhìn toàn diện, giúp các kỹ sư đưa ra giải pháp thiết kế tối ưu, đặc biệt trong bối cảnh địa lý và khí hậu đặc thù của Việt Nam.

1.1. Cấu trúc và các loại kết cấu thép ống cho tháp điện gió

Một công trình phong điện điển hình bao gồm ba bộ phận chính: rotor (cánh quạt và hub), nacelle (vỏ chứa hộp số, máy phát) và tháp. Tháp là kết cấu chịu lực chính, nâng đỡ toàn bộ khối lượng thiết bị phía trên và truyền tải trọng xuống móng tháp điện gió. Có nhiều loại tháp khác nhau, nhưng kết cấu thép ống dạng côn là phổ biến nhất cho các tuabin công suất lớn trên đất liền. Loại tháp này có tiết diện tròn, đường kính và chiều dày thay đổi giảm dần theo chiều cao, mang lại hiệu quả cao về mặt hệ số khí động lực học và khả năng chống uốn. Các loại tháp khác bao gồm tháp giàn thép và tháp bê tông, mỗi loại có ưu nhược điểm riêng và phù hợp với các điều kiện địa chất, quy mô dự án khác nhau. Việc lựa chọn loại kết cấu tháp ảnh hưởng trực tiếp đến chu kỳ dao động riêng, độ cứng và phản ứng của công trình trước tải trọng gió.

1.2. Tầm quan trọng của phân tích mỏi kết cấu tháp gió

Tháp điện gió không chỉ chịu tải trọng gió cực đoan trong bão mà còn liên tục chịu tải trọng gió dao động trong suốt vòng đời hoạt động (thường từ 20-25 năm). Sự thay đổi liên tục của vận tốc và hướng gió gây ra các chu kỳ ứng suất lặp đi lặp lại trong kết cấu, dẫn đến hiện tượng mỏi. Phân tích mỏi kết cấu tháp gió là một phần không thể thiếu trong quá trình thiết kế, nhằm đánh giá sự suy giảm độ bền của vật liệu theo thời gian và ngăn ngừa các hỏng hóc tiềm tàng. Việc bỏ qua phân tích mỏi có thể dẫn đến phá hủy kết cấu ở mức ứng suất thấp hơn nhiều so với giới hạn bền của vật liệu. Các tiêu chuẩn quốc tế như tiêu chuẩn thiết kế điện gió IEC 61400 đặt ra những yêu cầu rất nghiêm ngặt về phân tích mỏi, xem xét phổ tải trọng và số chu kỳ chịu tải dự kiến trong suốt tuổi thọ công trình.

1.3. Vai trò của phần mềm tính toán kết cấu SAP2000 và ANSYS

Để đánh giá chính xác ứng xử phức tạp của tháp gió, việc sử dụng các công cụ phân tích số là bắt buộc. Phần mềm tính toán kết cấu SAP2000phần mềm ANSYS là hai công cụ mạnh mẽ được sử dụng rộng rãi. SAP2000 rất hiệu quả trong việc mô hình hóa tháp tuabin gió dưới dạng các phần tử thanh và vỏ, thực hiện các phân tích động lực học kết cấu tuyến tính và phi tuyến, từ đó xác định chuyển vị, nội lực và tần số dao động. Trong khi đó, ANSYS mạnh hơn trong việc phân tích chi tiết bằng mô hình phần tử hữu hạn (FEM), cho phép đánh giá ứng suất tập trung tại các vị trí liên kết phức tạp, phân tích mỏi và các bài toán tương tác phức tạp hơn như tương tác lưu chất - kết cấu. Việc kết hợp các phần mềm này giúp kỹ sư có được kết quả toàn diện, từ tổng thể đến chi tiết, đảm bảo thiết kế an toàn và kinh tế.

II. Thách thức trong phân tích dao động của tháp gió theo TCVN

Việc tính toán tháp tuabin gió đặt ra nhiều thách thức, đặc biệt là khi phân tích các hiệu ứng động lực học. Tháp gió là một kết cấu cao, mảnh, nhẹ và có độ cản thấp, do đó rất nhạy cảm với các thành phần động của gió. Thách thức lớn nhất là xác định chính xác áp lực gió động, vốn gây ra dao động của tháp gió. Các dao động này nếu trùng với tần số dao động riêng của kết cấu có thể gây ra hiện tượng cộng hưởng, dẫn đến chuyển vị và ứng suất tăng đột ngột, có nguy cơ phá hủy công trình. Một vấn đề khác là hiện tượng ổn định khí động của kết cấu, đặc biệt là kích động xoáy (vortex shedding) ở các kết cấu tiết diện tròn. Dòng xoáy không khí tách ra ở phía sau tháp tạo nên lực tác động theo phương ngang, vuông góc với hướng gió, gây ra dao động ngang rất nguy hiểm. Tiêu chuẩn TCVN 2737 có các chỉ dẫn để tính toán các hiệu ứng này, tuy nhiên, việc áp dụng cho các tháp tuabin hiện đại có chiều cao trên 100m đòi hỏi sự xem xét và hiệu chỉnh cẩn thận, do tiêu chuẩn được xây dựng chủ yếu cho các công trình xây dựng truyền thống.

2.1. Vấn đề xác định thành phần động và hệ số giật gió

Theo TCVN 2737:1995, tải trọng gió được chia thành hai thành phần: tĩnh và động. Thành phần động phụ thuộc vào sự tương tác giữa kết cấu và các xung gió. Việc xác định thành phần này khá phức tạp, phụ thuộc vào việc so sánh tần số dao động riêng của công trình (f) với một tần số giới hạn (fL). Khi f < fL, phải kể đến cả xung vận tốc gió và lực quán tính, tính toán thông qua hệ số giật gió (hay hệ số động lực). Việc xác định chính xác tần số dao động riêng, khối lượng phân bố và các dạng dao động là rất quan trọng để có được giá trị hệ số động lực phù hợp. Đối với tháp tuabin gió, khối lượng lớn của nacelle và rotor tập trung ở đỉnh tháp làm thay đổi đáng kể dạng dao động so với một kết cấu công xôn thông thường, đòi hỏi phải được mô hình hóa chính xác.

2.2. Sự phức tạp của hiện tượng kích động xoáy Vortex Shedding

Hiện tượng kích động xoáy là một trong những nguyên nhân chính gây ra mất ổn định khí động của kết cấu dạng trụ. Khi vận tốc gió đạt đến một giá trị tới hạn, tần số tách xoáy phía sau tháp sẽ trùng với tần số dao động riêng của kết cấu, gây ra cộng hưởng. Tiêu chuẩn TCVN 2737 đưa ra phương pháp xác định vận tốc gió tới hạn và lực ngang tác dụng lên công trình. Tuy nhiên, quá trình này yêu cầu xác định số Strouhal (Sh) và số Reynolds (Re), các thông số này lại thay đổi theo đường kính tháp và vận tốc gió dọc theo chiều cao. Với tháp gió dạng côn, đường kính thay đổi liên tục, việc xác định chính xác vùng xảy ra cộng hưởng và lực tác động là một bài toán phức tạp, đòi hỏi phân tích kỹ lưỡng.

III. Phương pháp tính tải trọng gió TCVN 2737 cho tháp phong điện

Tiêu chuẩn TCVN 2737:1995 cung cấp một quy trình chi tiết để xác định tải trọng gió tác dụng lên công trình. Phương pháp này tiếp cận bài toán bằng cách tách tải trọng gió thành hai thành phần chính: thành phần tĩnh và thành phần động. Thành phần tĩnh là giá trị áp lực gió trung bình, trong khi thành phần động xét đến sự mạch động của gió và phản ứng quán tính của kết cấu. Giá trị tiêu chuẩn của thành phần tĩnh tại một độ cao z được tính theo công thức W = W₀ × k(z) × c, trong đó W₀ là áp lực gió cơ sở theo vùng, k(z) là hệ số xét đến sự thay đổi áp lực gió theo độ cao và dạng địa hình, và c là hệ số khí động lực học. Đối với tháp gió, hệ số 'c' phụ thuộc vào hình dạng tiết diện (tròn) và số Reynolds (Re), phản ánh sự tương tác giữa dòng khí và bề mặt kết cấu. Sau khi xác định thành phần tĩnh, việc tính toán thành phần động được tiến hành, đây là bước quan trọng nhất đối với các kết cấu cao và mềm như tháp tuabin gió, nhằm đảm bảo phân tích kết cấu tháp điện gió một cách đầy đủ và an toàn.

3.1. Xác định áp lực gió cơ sở và phân loại dạng địa hình

Bước đầu tiên trong tải trọng gió TCVN 2737 là xác định áp lực gió cơ sở (W₀). Việt Nam được chia thành nhiều vùng áp lực gió khác nhau dựa trên dữ liệu khí tượng, được thể hiện trên bản đồ phân vùng. Sau khi có W₀, cần xác định hệ số k(z), phụ thuộc vào độ cao và dạng địa hình. TCVN 2737 phân loại địa hình thành 3 dạng chính: A (trống trải, ven biển), B (tương đối trống trải, ngoại ô), và C (bị che chắn mạnh, đô thị). Việc lựa chọn đúng dạng địa hình là cực kỳ quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự gia tăng của vận tốc gió theo chiều cao. Đối với các dự án điện gió, thường được đặt ở vùng ven biển hoặc đồi núi trống trải, dạng địa hình A hoặc B thường được áp dụng, dẫn đến giá trị tải trọng gió lớn hơn.

3.2. Tính toán thành phần động của gió theo tần số dao động

Phương pháp của TCVN 2737 để tính thành phần động phụ thuộc vào tần số dao động riêng cơ bản của công trình. Nếu tần số này lớn hơn tần số giới hạn (f > fL), thành phần động chỉ cần kể đến tác dụng của xung vận tốc gió. Ngược lại, nếu f < fL, phải kể đến cả lực quán tính phát sinh do dao động của công trình. Trong trường hợp này, giá trị thành phần động được xác định thông qua hệ số giật gió (hệ số động lực ξ), được tra từ biểu đồ phụ thuộc vào độ giảm loga của dao động và một thông số ε. Đối với kết cấu thép ống của tháp gió, độ giảm loga thường nhỏ, dẫn đến hệ số động lực lớn, làm tăng đáng kể tổng tải trọng thiết kế. Việc này nhấn mạnh sự cần thiết của một phân tích động lực học kết cấu chính xác.

IV. Hướng dẫn áp dụng tiêu chuẩn ASCE 7 10 cho tháp tuabin gió

Tiêu chuẩn Hoa Kỳ ASCE 7-10 (và các phiên bản mới hơn) cung cấp một phương pháp luận khác để xác định tải trọng gió, được coi là toàn diện và chi tiết hơn, đặc biệt cho các kết cấu đặc biệt. Thay vì tách thành phần tĩnh và động riêng biệt, ASCE 7-10 tính toán áp lực gió thiết kế bằng cách nhân áp lực vận tốc (qz) với hệ số G (Gust Effect Factor - Hệ số hiệu ứng gió giật) và hệ số lực (Cf). Áp lực vận tốc qz được tính từ vận tốc gió thiết kế cơ sở, đã được hiệu chỉnh theo các hệ số về độ cao, địa hình, hướng gió và tầm quan trọng của công trình. Điểm cốt lõi của phương pháp này nằm ở việc tính toán hệ số G, một thông số phức tạp phản ánh sự tương tác giữa đặc tính của gió (như cường độ rối) và đặc tính động lực học của kết cấu (tần số, độ cản). Phương pháp này đòi hỏi nhiều thông số đầu vào hơn nhưng cho kết quả phản ánh gần hơn với ứng xử thực tế của công trình, đặc biệt là các kết cấu mềm và nhạy cảm với dao động.

4.1. Quy trình xác định vận tốc gió thiết kế và áp lực vận tốc qz

Theo tiêu chuẩn ASCE 7-10, vận tốc gió thiết kế cơ sở được xác định từ bản đồ gió với các chu kỳ lặp khác nhau (ví dụ 300, 700, 1700 năm) tùy thuộc vào cấp độ rủi ro của công trình. Vận tốc này sau đó được hiệu chỉnh bởi các hệ số Kz (độ cao và dạng địa hình), Kzt (ảnh hưởng của địa hình đồi núi), Kd (hướng gió) và I (tầm quan trọng). Dạng địa hình theo ASCE được chia thành B, C, D, khác với phân loại A, B, C của TCVN, đòi hỏi sự quy đổi cẩn thận khi so sánh. Từ vận tốc gió đã hiệu chỉnh, áp lực vận tốc qz được tính toán, đây là cơ sở để xác định lực gió tác dụng lên mọi bộ phận của kết cấu tháp điện gió.

4.2. Cách tính Hệ số Hiệu ứng Gió giật Gust Effect Factor G

Hệ số G là điểm khác biệt lớn nhất của tiêu chuẩn ASCE 7-10 so với TCVN. Đối với các kết cấu mềm (như tháp gió), G được tính toán dựa trên một công thức phức tạp, bao gồm cả thành phần nền (background response) và thành phần cộng hưởng (resonant response). Việc tính toán này yêu cầu các thông số động lực học của kết cấu như tần số dao động riêng thứ nhất, tỷ lệ cản, cũng như các thông số của gió tại khu vực như cường độ rối và chiều dài tỷ lệ tích hợp. Hệ số G phản ánh sự khuếch đại tải trọng do hiệu ứng động lực, thay thế cho việc tính toán thành phần động riêng lẻ như trong TCVN. Cách tiếp cận này được cho là cung cấp một phân tích động lực học kết cấu chính xác hơn, tích hợp các yếu tố ngẫu nhiên của gió.

4.3. Phân tích lực ngang theo tiêu chuẩn ACI 307 08

Đối với lực ngang do kích động xoáy, ASCE 7-10 thường tham chiếu đến các tiêu chuẩn chuyên ngành khác như ACI 307-08 (Code Requirements for Reinforced Concrete Chimneys). Tiêu chuẩn này cung cấp phương pháp tính toán mô-men uốn tại chân tháp do tác động của dòng xoáy. Phương pháp này dựa trên việc so sánh vận tốc gió trung bình với vận tốc tới hạn (Vcr), là vận tốc gây ra cộng hưởng. Nếu vận tốc gió nằm trong khoảng nguy hiểm, một tải trọng ngang phân bố theo dạng dao động sẽ được áp dụng. Phương pháp này cung cấp một công cụ thiết kế cụ thể để kiểm tra ổn định khí động của kết cấu và đảm bảo tháp không bị phá hủy do dao động ngang.

V. So sánh kết quả phân tích tháp điện gió bằng SAP2000

Việc áp dụng lý thuyết vào thực tiễn được thực hiện thông qua mô hình hóa tháp tuabin gió và phân tích trên các phần mềm chuyên dụng. Nghiên cứu của Nguyễn Trọng Khuê (2018) đã sử dụng phần mềm tính toán kết cấu SAP2000 để mô hình hóa một tháp gió cao 95m và áp đặt tải trọng gió tính toán theo cả hai tiêu chuẩn TCVN 2737:1995 và ASCE 7-10. Kết quả phân tích số cho thấy sự khác biệt đáng kể trong ứng xử của kết cấu. Cụ thể, tải trọng gió và các phản ứng kết cấu (chuyển vị, mô-men, ứng suất) tính theo tiêu chuẩn ASCE 7-10 thường cho giá trị lớn hơn so với khi tính theo TCVN 2737. Sự chênh lệch này chủ yếu đến từ sự khác biệt trong việc định nghĩa vận tốc gió thiết kế cơ sở (chu kỳ lặp dài hơn trong ASCE) và phương pháp luận tính toán hiệu ứng động lực của gió. Những kết quả này cung cấp cơ sở quan trọng cho việc giám định kết cấu tháp gió và đưa ra quyết định thiết kế cuối cùng.

5.1. Mô hình phần tử hữu hạn FEM và gán tải trọng gió

Quá trình phân tích kết cấu tháp điện gió bắt đầu bằng việc xây dựng mô hình phần tử hữu hạn (FEM) trong SAP2000. Thân tháp, là một kết cấu thép ống, được mô hình hóa bằng các phần tử vỏ (shell) để thể hiện chính xác sự thay đổi của tiết diện và chiều dày. Khối lượng của nacelle và rotor được gán dưới dạng khối lượng tập trung tại đỉnh tháp. Tải trọng gió tính toán từ hai tiêu chuẩn được áp dụng lên mô hình dưới dạng áp lực phân bố trên bề mặt các phần tử vỏ. Tải trọng gió dọc theo chiều cao được chia thành nhiều đoạn để phản ánh sự thay đổi của áp lực gió theo độ cao. Mô hình này sau đó được dùng để chạy phân tích dao động riêng nhằm tìm ra các tần số và dạng dao động, làm cơ sở cho các bước phân tích động lực học tiếp theo.

5.2. So sánh chuyển vị đỉnh tháp và mô men uốn tại chân móng

Kết quả phân tích từ nghiên cứu cho thấy chuyển vị ngang tại đỉnh tháp và mô-men uốn tại móng tháp điện gió khi tính theo ASCE 7-10 lớn hơn đáng kể so với kết quả từ TCVN 2737. Ví dụ, chuyển vị đỉnh tháp theo ASCE có thể lớn hơn từ 15% đến 30% so với TCVN trong cùng điều kiện địa hình và vận tốc gió cơ sở đã quy đổi. Sự khác biệt này cho thấy phương pháp của ASCE, với hệ số G và chu kỳ lặp dài hơn, có xu hướng bảo수 hơn. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong thiết kế, vì chuyển vị đỉnh lớn hơn đòi hỏi kiểm soát chặt chẽ hơn về giới hạn trạng thái sử dụng, trong khi mô-men chân tháp lớn hơn yêu cầu một hệ móng lớn và tốn kém hơn.

5.3. Đánh giá ứng suất và hàm ý cho thiết kế kết cấu thép ống

Tương tự như chuyển vị và mô-men, ứng suất trong thân tháp tính theo ASCE 7-10 cũng cao hơn. Việc đánh giá ứng suất là tối quan trọng để đảm bảo kết cấu thép ống không bị chảy dẻo (vượt qua giới hạn chảy) hoặc mất ổn định cục bộ (oằn). Kết quả ứng suất cao hơn từ ASCE cho thấy rằng việc thiết kế chiều dày thành ống và các chi tiết liên kết (như bích nối) có thể cần phải được gia cường thêm nếu chỉ dựa trên tiêu chuẩn này. Sự chênh lệch này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kỹ sư thiết kế phải hiểu rõ các giả định nền tảng của từng tiêu chuẩn và có thể cần thực hiện phân tích theo cả hai để đưa ra một giải pháp vừa an toàn, vừa kinh tế, phù hợp với yêu cầu của dự án và quy định pháp lý tại Việt Nam.

VI. Kết luận và xu hướng thiết kế tháp điện gió tối ưu hiện nay

Việc đánh giá tháp phong điện chịu tải trọng gió theo cả TCVN 2737 và ASCE 7-10 cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong phương pháp luận và kết quả cuối cùng. Tiêu chuẩn ASCE 7-10 thường đưa ra các yêu cầu về tải trọng cao hơn, dẫn đến một thiết kế có thiên hướng an toàn hơn nhưng chi phí đầu tư có thể cao hơn. Trong khi đó, TCVN 2737 là tiêu chuẩn pháp lý tại Việt Nam nhưng có thể cần được xem xét cập nhật để phù hợp hơn với các kết cấu đặc thù và có chiều cao lớn như tháp tuabin gió hiện đại. Từ các phân tích, có thể đưa ra khuyến nghị rằng các kỹ sư nên tham khảo chéo giữa hai tiêu chuẩn. Việc sử dụng TCVN 2737 làm cơ sở pháp lý và dùng ASCE 7-10 như một công cụ kiểm tra, so sánh sẽ giúp đảm bảo tính an toàn và tối ưu cho công trình. Xu hướng tương lai của ngành là tích hợp các phân tích phức tạp hơn như phân tích mỏi kết cấu tháp gió và các mô phỏng tương tác gió-kết cấu để tối ưu hóa thiết kế.

6.1. Khuyến nghị áp dụng tiêu chuẩn trong thực tiễn tại Việt Nam

Đối với các dự án điện gió tại Việt Nam, việc tuân thủ tải trọng gió TCVN 2737 là yêu cầu bắt buộc. Tuy nhiên, do đặc thù của công trình, các nhà thiết kế nên chủ động thực hiện thêm các phân tích song song theo các tiêu chuẩn quốc tế tiên tiến như ASCE 7 hoặc Eurocode. Kết quả so sánh sẽ là cơ sở vững chắc để luận giải và bảo vệ các quyết định thiết kế, đặc biệt là khi đề xuất các giải pháp kết cấu khác biệt so với thông lệ. Hơn nữa, việc này cũng giúp đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư, công ty bảo hiểm và các tổ chức tài chính quốc tế, những đơn vị thường yêu cầu dự án phải tuân thủ các chuẩn mực quốc tế. Việc tính toán tháp tuabin gió cần là một quá trình toàn diện, kết hợp giữa quy định địa phương và kinh nghiệm quốc tế.

6.2. Hướng nghiên cứu tương lai Phổ gió và giám định kết cấu

Nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc xây dựng các mô hình tải trọng gió chính xác hơn cho điều kiện Việt Nam. Thay vì chỉ dựa vào vận tốc gió cơ sở, cần nghiên cứu các đặc tính rối và phổ gió Davenport tại các địa điểm tiềm năng. Dữ liệu này sẽ giúp hiệu chỉnh các mô hình trong cả TCVN và ASCE, mang lại kết quả gần với thực tế hơn. Một lĩnh vực quan trọng khác là phát triển các quy trình giám định kết cấu tháp gió trong quá trình vận hành. Việc sử dụng các hệ thống quan trắc sức khỏe kết cấu (SHM) để theo dõi dao động của tháp gió và ứng suất thực tế sẽ cung cấp dữ liệu vô giá để xác thực các mô hình thiết kế và phát hiện sớm các hư hỏng tiềm tàng.

6.3. Thách thức trong thiết kế tháp điện gió ngoài khơi Offshore

Việt Nam có tiềm năng lớn về điện gió ngoài khơi. Tuy nhiên, thiết kế tháp điện gió ngoài khơi phức tạp hơn rất nhiều so với trên bờ. Ngoài tải trọng gió, kết cấu còn phải chịu tác động đồng thời của tải trọng sóng, dòng chảy và các yếu tố môi trường biển khắc nghiệt. Các bài toán về tương tác đất - cọc - kết cấu, ăn mòn vật liệu, và phân tích mỏi kết cấu tháp gió dưới tác động kép của gió và sóng trở nên cực kỳ quan trọng. Các tiêu chuẩn như IEC 61400-3 và DNV-GL cung cấp các hướng dẫn chuyên biệt cho lĩnh vực này. Đây là một hướng đi đầy thách thức nhưng cũng là xu thế tất yếu cho ngành năng lượng gió Việt Nam trong tương lai.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1, tác giả đã khái quát về công trình Phong điện, phân loại các loại trang trại gió, các loại turbine gió và phân loại kết cấu tháp. Ngoài ra, tác giả cũng đã nêu tổng quan về gió, phân loại và nêu các tính chất, đặc điểm của gió, tác động của gió vào công trình Phong điện và hệ thống tiêu chuẩn Việt Nam và tiêu chuẩn ASCE. Chương 2 sẽ nghiên cứu về lý thuyết tính toán tải trọng gió tác động lên kết cấu công trình Phong điện theo tiêu chuẩn Việt Nam 2737:1995 và ASCE 7-10. CÔNG TRÌNH PHONG ĐIỆN CHỊU TẢI TRỌNG GIÓ 2.

Tải trọng thiết kế và phân tích kết cấu 2. Các loại tải trọng tác dụng lên công trình Phong điện trên đất liền a. Hoạt tải ( ) Là những tải thay đổi độ lớn, điểm đặt và phương tác dụng. Bao gồm: - Trọng lượng người.

- Hoạt tải cẩu. - Kho chứa vật liệu, thiết bị, áp lực chất lỏng. Tải trọng gió (W) Tải gió từ rotor và tháp sẽ được tính đến. Tải trọng gió tác động vào phần kết cấu rotor và kết cấu tháp bao gồm: - Gió tác động từ các cánh quạt (trong giai đoạn vận hành, chạy không tải và khởi động).

- Gió động tác dụng lên tháp thép và phần vỏ động cơ. Nó phụ thuộc vào tốc độ gió, hình dạng và chiều cao của kết cấu và địa hình của khu vực. Động đất (E) Khi một turbine gió được xây dựng ở vùng có động đất, kết cấu phải được thiết kế để chịu tải trọng động đất. Tải tai nạn (A) Tải do tai nạn tải trọng liên quan đến hoạt động bất thường hay sự cố kỹ thuật.

Ví dụ về các tải tai nạn: - Vật dụng rơi. - Va chạm trực thăng. Tải tai nạn liên quan phải được xác định trên cơ sở đánh giá và kinh nghiệm liên quan. Tải biến dạng (B) Tải biến dạng được gây ra bởi các nguyên nhân như: - Ứng suất nhiệt.

- Tải sinh ra trong quá trình xây dựng. - Tải sinh ra do móng bị lún. Trong phạm vi đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu phần tĩnh tải và tải trọng gió tác dụng lên công trình phong điện. Phân tích kết cấu Phân tích ứng xử của tháp phong điện, kết cấu ống thép cao 95m có tiết diện và chiều dày thay đổi chịu tải trọng gió theo chiều cao thông qua phần mềm SAP2000.

Mô hình phân tích dao động là thanh công xôn có các nút khối lượng tập trung tại trọng tâm của mỗi đoạn tháp. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu Khu vực nghiên cứu ở thôn Lạc Trị, xã Phú Lạc, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận với điều kiện tự nhiên như sau: 2. Gió Khu vực nghiên cứu chế độ gió cũng có 2 mùa rõ rệt: từ tháng 4 - 9 hướng gió thịnh hành là gió mùa Tây Nam và Đông Nam. Từ tháng 10 - 3 năm sau hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc và gió Bắc.

Tốc độ gió lớn nhất thường do các cơn bão biển, tố lốc và các đới gió mùa gây ra. Tốc độ gió lớn nhất thiết kế được tính toán từ giá trị lớn nhất quan trắc được hàng năm thời kỳ (1994 - 2014) tại trạm Phan Rang, kết quả ứng với tần suất P = 2%, vận tốc gió 20,7 m/s và tần suất P = 5%, vận tốc gió 19 m/s. Chi tiết Tốc độ gió lớn nhất thiết kế tại trạm Phan Rang được thể hiện ở Bảng PL1-1, Phụ lục 1. Bão và áp thấp nhiệt đới Vùng biển Ninh Thuận - Bình Thuận hằng năm có xuất hiện các cơn bão và áp thấp nhiệt đới.

Thời kỳ xảy ra nhiều cơn bão nhất là vào tháng 10, 11. Thống kê các cơn bão ảnh hưởng đến vùng biển Ninh Thuận, Bình Thuận (1978-2014) cho thấy tốc độ gió lớn nhất xảy ra ở cơn bão ola năm 1993 với tốc độ gió 35 m/s. Chi tiết Thống kê các cơn bão ảnh hưởng đến vùng biển Ninh Thuận, Bình Thuận (1978-2014) được thể hiện ở Bảng PL1-2, Phụ lục 1. Xác định tải trọng gió tác dụng lên công trình theo TCVN 2737:1995 Tiêu chuẩn hiện hành về tính toán tải trọng gió ở Việt Nam đang được áp dụng là tiêu chuẩn TCVN 2737:1995 Tải trọng và tác động - Tiêu chuẩn thiết kế.

Vận tốc gió cơ bản Vận tốc gió cơ bản V0 (m/s) là vận tốc gió đã được xử lý trên cơ sở số liệu quan trắc vận tốc gió ở độ cao 10m so với mốc chuẩn, (vận tốc gió trung bình trong khoảng thời gian 3 giây, bị vượt trung bình một lần trong vòng 20 năm), tương ứng với dạng địa hình B (độ nhám bề mặt = 0,005). Phân chia dạng địa hình TCVN 2737:1995, lãnh thổ Việt Nam được chia ra làm 3 dạng địa hình như sau: - Dạng địa hình A là địa hình trống trải, không có hoặc có ít vật cản cao quá 1,5m (bờ biển thoáng, mặt sông, hồ lớn, đồng muối, cánh đồng không có cây cao). - Dạng địa hình B (được chọn là dạng địa hình chuẩn) là địa hình tương đối trống trải, có một số vật cản thưa thớt cao không quá 10m (vùng ngoại ô ít nhà, thị trấn, làng mạc, rừng thưa hoặc rừng non, vùng trồng cây thưa). - Dạng địa hình C là địa hình bị che chắn mạnh, có nhiều vật cản sát nhau, cao từ 10m trở lên (trong thành phố, vùng rừng rậm).

Công trình được xem là thuộc dạng địa hình nào nếu tính chất dạng địa hình đó không thay đổi trong khoảng cách 30h khi h < 60m và 2km khi h > 60m tính từ mặt đón gió của công trình, h là chiều cao công trình. Thành phần lực dọc hướng gió a. Thành phần tĩnh Giá trị tiêu chuẩn thành phần tĩnh của tải trọng gió theo công thức (2.1) Trong đó : - Wo: giá trị áp lực gió theo bản đồ phân vùng, đơn vị daN/m2. Tham chiếu phô lôc D vµ ®iÒu 6.4[2] , được thể hiện ở Bảng 2.

Đối với vùng ảnh hưởng của bão được đánh giá là yếu (Phụ lục D [2]), giá trị của áp lực gió W0 được giảm đi 10 daN/m2 đối với vùng I-A, 12 daN/m2 đối với vùng II-A và 15 daN/m2 đối với vùng III-A. Áp lực gió theo bản đồ phân vùng áp lực gió lãnh thổ Việt Nam (Nguồn Bảng 4 [2]) I II III Vùng áp lực gió IVB VB IB IA IIB IIA IIIB IIIA Wo (daN/m2) 65 55 95 83 125 110 155 185 12 Hình 2. Bản đồ phân vùng áp lực gió Việt Nam - k(z): hệ số tính đến sự thay đổi áp lực gió theo độ cao và ảnh hưởng của dạng địa hình, vật cản xung quanh; Xác định theo quan niệm về sự phát triển vận tốc gió theo chiều cao, lấy theo hàm số mũ công thức 2.2) zg: Độ cao gradient mà tại đó vận tốc gió không còn bị ảnh hưởng bởi độ nhám của địa hình (với z > zg, gió là dòng chảy tầng). m: Hệ số hàm số mũ.

Dựa vào công thức 2.2: Kết quả tính toán hệ số thay đổi áp lực gió theo độ cao và dạng địa hình K xác định theo Bảng 5, [2] Bảng 2. Hệ số k để đến sự thay đổi áp lực gió theo độ cao và dạng địa hình (Nguồn bảng 5, [2]) Dạng địa hình A B C Độ cao Z, m 3 1,00 0,80 0,47 5 1,07 0,88 0,54 Độ cao Z, 10 1,18 1,00 0,66 15 1,24 1,08 0,74 20 1,29 1,13 0,80 30 1,37 1,22 0,89 40 1,43 1,28 0,89 50 1,47 1,34 0,97 60 1,51 1,38 1,03 80 1,57 1,45 1,18 100 1,62 1,51 1,25 150 1,72 1,63 1,40 200 1,79 1,71 1,52 250 1,84 1,78 1,62 300 1,84 1,84 1,70 350 1,84 1,84 1,78 >400 1,84 1,84 1,84 Mốc chuẩn để xác định chiều cao z, xác định theo phụ lục C [2]. Trường hợp mặt đất có độ dốc nhỏ so với phương nằm ngang i ≤ 0,3; độ cao z được kể từ mặt đất đặt nhà và công trình tới điểm cần xét. Trường hợp mặt đất có độ dốc 0,3< i <2, độ cao z được kể từ mặt cao trình quy ước z0 thấp hơn so với mặt đất thực tới điểm cần xét.

Mặt cao trình quy ước Z0 được xác định theo Hình G1 [2] 14 Trường hợp mặt đất có độ dốc i ≥ 2, mặt cao trình quy ước Z0 để tính độ cao z thấp hơn mặt đất thực được xác định theo Hình G2[2]. Bên trái C: Z =Z Bên phải điểm D: Z =Z Trên đoạn CD : Xác định 0 1 0 2 Z bằng phương pháp nội suy tuyến tính. 0 - cx: hệ số khí động, phụ thuộc vào đặc điểm của công trình, xác định theo Bảng 6 [2]. Công trình có mặt xung quanh hình trụ tròn ( bể chứa, tháp làm nguội, ống khói), dây cáp, dây dẫn và bộ phận kết cấu dạng ống tròn và kín.

Công trình có mặt xung quanh hình trụ tròn 15 Xác định hệ số khí động: Với phạm vi đề tài này, hệ số khí động được tính theo sơ đồ 35 trong bảng 6 [2]. Ứng với công trình có mặt xung quanh hình trụ tròn dạng ống khói, hệ số khí động C = Cx được xác định như sau: (2.3) Trong đó: Hệ số k được xác định theo bảng 6.1 của sơ đồ 34 bảng 6 [2] Bảng 2. Xác định hệ số k, theo bảng 6.1, [2] e=2 5 10 20 35 50 100 ∞ = l/b k 0,6 0,65 0,75 0,85 0,9 0,95 1 Trong đó: l,b tương ứng với kích thước lớn nhất và nhỏ nhất của công trình hoặc bộ phận của nó trong mặt phẳng vuông góc hướng gió. e: Xác định theo bảng 6.2 có D = l/b với l,b tương ứng với kích thước lớn nhất và nhỏ nhất của công trình hoặc bộ phận của nó trong mặt phẳng vuông góc hướng gió.

Hệ số Cx∞ xác định theo hiểu đồ hình 2.4 với các mặt xù xì (với kết cấu thép, = 0,001) và phụ thuộc vào hệ số Reynolds, hệ số Reynolds là hệ số không thứ nguyên biểu thị cho độ lớn tương đối giữa ảnh hưởng gây bởi lực quán tính và lực ma sát trong (tính nhớt) lên dòng khí, được xác định như sau: Hệ số Re được xác định theo công thức: √ (2.4) Trong đó: D: là đường kính công trình (m) W0: là áp lực gió (daN/m2) k(z): là hệ số thay đổi áp lực gió ở độ cao z = h : là hệ số độ tin cậy, lấy bằng 1,2 (trích sơ đồ 35, bảng 6 [2]) Hình 2. Biểu đồ tra hệ số khí động 16 Hệ số tin cậy của tải trọng gió lấy bằng 1,2. Giá trị áp lực gió Wo được xác định theo Bảng 4 [2] theo đó lãnh thổ Việt Nam được phân ra làm 05 vùng áp lực gió như trong Bảng 2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ