phần mở đầu, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo và 4 chương: phan đầu tiên là cái nhìn tổng thé về dé tài nghiên cứu, chương 2 được sử dụng dé nêu ra cơ sở lý thuyết và tong quan nghiên cứu, kết quả nghiên cứu được trình bày ở chương 3 và chương 4 đưa ra kết luận và hàm ý chính sách. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYÉT VÀ TỎNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm Lạm phát được định nghĩa là sự gia tăng liên tục của mức giá chung. Như vậy, lạm phát không nhất thiết có nghĩa giá cả của tất cả hàng hóa và dịch vụ đồng thời tăng lên theo cùng một tỷ lệ, mà ở đây chỉ cần mức giá trung bình tăng. Bên cạnh đó, lạm phát có thể xảy ra khi giá của một số hàng hóa giảm, nhưng trái lại, giá cả của các hàng hóa dịch vụ khác tăng đủ mạnh dé đảm bảo cho mức giá chung tăng.
Lam phát cũng được định nghĩa là sự suy giảm sức mua của dong tiền. Trong bối cảnh lạm phát, một đơn vi tiền tệ mua được càng ngày ít hàng hóa và dịch vụ hơn. Hay nói cách khác, chúng ta sẽ phải chi càng nhiều tiền hon dé mua một giỏ hàng hóa. Lạm phát không chỉ là sự gia tăng của mức giá chung mà phải là sự gia tăng liên tục của mức giá chung.
Giả sử chỉ có một cú sốc xuất hiện làm tăng mức giá chung, thì đường như mức giá chỉ đột ngột tăng lên rồi giảm trở xuống mức ban đầu sau đó. Tuy vậy, trong thực tiễn, mỗi cú sốc thường có ảnh hưởng kéo dài đối với nền kinh tế và từ đó có thê gây ra lạm phát.2 Đo lường lạm phát Lạm phát mà nền kinh tế trải qua trong một thời kỳ nhất định được đo lường, các nhà thống kê sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ lạm phát được tính bằng phan trăm thay đổi của mức giá chung. Tỷ lệ lạm phát cho thời kì t được tính theo công thức: T= PoP tt 100% Pt~1 Trong đó: Tr, : ty lệ lạm phát của thời ky t P; : mức giá của thời kỳ t P;_¡ : mức giá của thời kỳ trước đó Nên kinh tê hiện nay có nhiêu loại hàng hóa, vì vậy việc xác định mức giá chung là việc rất khó khăn. Do đó, người ta đã thay mức giá chung bằng các chỉ số giá điển hình như: chỉ số giá tiêu dùng CPI, chỉ số giá sản xuất PPI, chỉ số giảm phát GDP.
Tuy nhiên, chỉ số giá tiêu dùng CPI là chỉ số được sử dụng thông dụng nhất, nó theo dõi sự thay đối của chi phí sinh hoạt theo thời gian. Chi số giá tiêu dùng là chỉ số giá tính theo giá bán lẻ, thông thường ta lay giá của loại hàng hóa chính. Dé tính toán chi số này, ta cần chỉ định một năm gốc hay năm cơ sở dé so sánh với các năm khác. Công thức tính CPI: CPI= Giá cả của giỏ hàng hóa dịch vụ năm hiện tại Giá cả của giỏ hàng hóa dịch vụ năm gốc Công thức tính tỷ lệ lạm phát: Tỷ lệ lạm phát = CRIT CP CPlt—1 lta x 100% 2.3 Phân loại lạm phát Mức độ nghiêm trọng lạm phát là khác nhau, được phân thành 3 cấp: Lạm phát tự nhiên: Lạm phát này được đặc trưng là mức giá tăng chậm thường ở mức một con số (0 — dưới 10%).
Đây là mức lạm phát mà bình thường nên kinh tế trải qua và do đó, ít gây tac động tiêu cực đáng kê đến nền kinh tế. Lam phát phi mã: Lam phát trong phạm vi hai hoặc ba con số một năm thường được gọi là lạm phát phi mã (10% đến dưới 1000%). Với lạm phát phi mã, giá tri đồng tiền bị mất giá rất nhanh, từ đó, người dân có xu hướng tích trữ hàng hóa, mua nhà đất và chuyên sang sử dụng vàng, các ngoại tệ mạnh dé làm phương tiện thanh toán cho các giao dịch có giá trị lớn và nham tích lũy của cải. Việt Nam và hầu hết các nước chuyền đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nên kinh tế thị trường đều phải đối mặt với lạm phát phi mã trong những năm đầu thực hiện cải cách.
Siêu lạm phát: Siêu lạm phát là trường hợp lạm phát đặc biệt cao, bắt đầu khi tỷ lệ lạm phát hàng tháng vượt quá 50%. Đặc điểm chung của mọi cuộc siêu lạm phát là sự gia tăng quá mức trong cung tiền, nhiều cuộc siêu lạm phát đã có xu hướng xuất hiện trong thời gian sau chiến tranh, nội chiến, hoặc cách mạng, do sự căng thăng về ngân sách chính phủ (mức lạm phát lên đến hơn 1000%).4 Các nguyên nhân gây ra lạm phát Lam phát do cầu kéo: lạm phát này xảy ra khi tổng cầu tăng, đặc biệt khi sản lượng đã đạt hoặc vượt quá mức tự nhiên. Lạm phát có thể hình thành khi xuất hiện sự gia tăng đột biến trong nhu cầu về tiêu dùng và đầu tư. Sự gia tăng này của cầu có thể đến từ sự chỉ tiêu quá mức của chính phủ hoặc nhu cầu đột biến làm tăng mạnh tiêu dùng, hoặc khi có sự gia tang nhu cầu xuất khâu hoặc đến từ lãi suất thấp sự lạc quan của nhà dau tư làm tăng nhu cầu dau tư và từ đó day giá tăng.
Lam phát do chỉ phi day: lạm phát cũng có thê xảy ra khi một số loại chi phí đồng loạt tăng lên trong toàn bộ nên kinh tế. Cụ thé hơn, ba loại chi phí thường gây ra lạm phát là: tiền lương, thuế gián thu và giá nguyên liệu nhập khẩu. Các nhân tố trên chúng tác động trực tiếp tới giá cả hàng hoá. Do đó, khi chúng xảy ra, các doanh nghiệp sẽ tìm cách tăng giá và kết quả là lạm phát xuất hiện.
Lam phát }: trong các nền kinh tế hiện đại trừ siêu lạm phát và lạm phát phi mã, lạm phát vừa phải có xu hướng 6n định theo thời gian. Điều này có nghĩa là hàng năm, mức giá tăng lên theo một tỷ lệ khá ồn định. Ty lệ lạm phát như vậy được gọi là tỷ lệ lạm phát ỳ, là loại lạm phát hoàn toàn được dự tính trước.2 Thâm hụt ngân sách 2.1 Khái niệm Thâm hụt ngân sách là tình trạng các khoản chi của ngân sách Nhà nước lớn hơn các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách (trái ngược với thặng dư ngân sách). Trong lịch sử, phát hành thêm tiền đã từng là một cách tài trợ cho thâm hụt ngân sách, nhưng do hậu quả nghiêm trọng của nó là dẫn đến lạm phát ở mức cao nên ngày nay cách này hầu như không được chính phủ của bất cứ quốc gia nào sử dụng nữa.
Do chính phủ bù đắp cho thâm hụt ngân sách bằng cách đi vay, nên lity kế các khoản thâm hụt ngân sách chính phủ đến một thời điểm nao đó chính là nợ chính phủ.2 Đo lường thâm hụt ngân sách Công thức tính tỷ lệ thâm hụt ngân sách: BC= — GDP — x 100%° Trong đó: T là thu ngân sách Nhà nước, G là chi tiêu của chính phủ, BC > 0 cho biết ngân sách Nhà nước đang bị thâm hụt 2.3 Phân loại thâm hụt Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành hai loại: thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ. Thâm hụt cơ cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng. Thâm hụt chu kỳ là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân. Ví dụ khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi ngân sách cho cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên.4 Nguyên nhân Thâm hụt ngân sách đến từ rất nhiều nguyên nhân và có sự ảnh hưởng khác nhau đến sự cân đối vĩ mô của nền kinh tế.
Về cơ bản, tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước bao gồm những nguyên nhân chính sau: Nguyên nhân khách quan Tác động của chu lỳ kinh doanh: Ở giai đoạn khủng hoảng, thu nhập của Nhà nước giảm đi, nhưng nhu cầu chi tiêu lại tăng lên dé giải quyết những khó khăn mới về kinh tế và xã hội. Điều đó làm cho bội chi Ngân sách Chính phủ tăng lên và đây được gọi là bội chi chu kỳ. Hậu quả các tác nhân gây ra: Xã hội luôn phải đối mặt với những rủi ro như thiên tai, dịch bệnh, tinh trạng bùng nổ dân số hay chiến tranh. Mặc dù khi lập dự toán ngân sách, các quốc gia đã có những biện pháp dự phòng, nhưng đôi khi rủi ro vượt ngoài dự đoán và nhà nước phải tăng chi dé ôn định các hoạt động kinh tế-xã hội.
Nguyên nhân chủ quan Do cơ cấu thu chỉ ngân sách thay đổi: khi Nhà nước thực hiện chính sách day mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng bội chi Ngân sách Nhà nước. Mức bội chi do tác động của chính sách cơ cau thu chi được gọi là bội chi cơ cấu. Do điều hành ngân sách Nhà nước không hợp lý: Hệ thống pháp luật của Việt Nam còn nhiều bắt cập, quản lý thiếu chặt chẽ đã tạo ra nhiều kẽ hở cho các cá nhân, tổ chức lợi dung dé trốn thuế, gây thất thu một lượng đáng kể trong Ngân sách Nha nước. Bên cạnh đó, việc giảm thuê và miên thuê một mặt giúp các doanh nghiệp có thêm vốn đầu tư, duy tri và mở rộng sản xuất, mặt khác, làm ảnh hưởng tới các khoản chi Ngân sách khác, từ đó gây thâm hut Ngân sách.
Thêm vào đó, Việt Nam tiếp nhận từ nước ngoài với lượng vốn lớn nhằm day mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và các công trình trọng điểm quốc gia. Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng đầu tư dàn trải, gây thất thoát, lãng phí vẫn chưa được khắc phục triệt dé, tiến độ thi công còn chậm và kém hiệu quả, gây lãng phí nguồn ngân sách nhà nước và kiềm hãm sự phát triển vùng miền, là nguyên nhân chính gây ra thâm hụt ngân sách.3 Tác động của thâm hụt ngân sách tới lạm phát Trong nền kinh tế mở, lạm phát bị tác động bởi nhiều biến vĩ mô quan trọng như thâm hụt ngân sách, chính sách tiền tệ, tỉ giá hồi đoái, độ mở thương mai.