Đặt vấn đề Tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học (ĐDSH) đóng vai trò quan trọng trong sự tiến hóa, duy trì hệ thống tự nhiên và phát triển kinh tế xã hội. ĐDSH ở nhiều quốc gia trên thế giới đang bị suy giảm nghiêm trọng bởi các hoạt động của con ngƣời. Các khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) đóng vai trò chủ chốt trong bảo tồn ĐDSH và đáp ứng các mục tiêu đa dạng của cộng đồng [5]. Trong vài thập kỷ qua, để đối phó với các nguy cơ suy giảm ĐDSH ngày càng tăng, hệ thống các vƣờn quốc gia (VQG) và KBTTT đã dần đƣợc hình thành.
Hiện nay trên thế giới có hơn 100.000 KBTTN chiếm 11,7% diện tích đất liền toàn thế giới. VQG chiếm số lƣợng và diện tích lớn nhất, tiếp đến là các KBTTN loài và sinh cảnh[2]. Tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện một hệ thống quản lý phù hợp trên thực tế nhằm hiện thực hóa các lợi ích tiềm năng mà KBTTN có thể đem lại vẫn còn là thách thức lớn tại rất nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Những mối đe dọa chính tới KBTTN thƣờng xuất phát từ mâu thuẫn giữa mục tiêu bảo tồn và sinh kế của ngƣời dân sống trong và bên ngoài ranh giới KBTTN.
Khi những mâu thuẫn này chƣa đƣợc xác định và giải quyết, thì những vấn đề cơ bản của bảo tồn khó có thể giải quyết đƣợc. Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa- Phƣợng Hoàng đƣợc xác lập trong phạm vi 07 xã và 01 thị trấn huyện Võ Nhai gồm:Xã Thần Sa, Phú Thƣợng, Cúc Đƣờng, Vũ Chấn, Thƣợng Nung, Nghinh Tƣờng, Sảng Mộc, và thị trấn Đình Cả với tổng diện tích đất tự nhiên là 48. Đất quy hoạch cho rừng đặc dụng là 17.477,37ha (theo quyết định số 93/QĐ-UBND, ngày 13/01/2011 của UBND tỉnh Thái Nguyên) Theo quyết định số 1518/QĐ/UBND, Thái Nguyên, ngày 10 tháng 7 năm 2014. Quyết định về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch 03 loại rừng tỉnh Thái Nguyên năm 2013 đến năm 2020 và quyết định số 2500/QĐ/UBND ngày 05 tháng 11 năm 2014 của UBND tỉnh Thái Nguyên.
Quyết định về việc điều chỉnh một số nội dung của quyết định số 1518/QĐ/UBND ngày 10/7/2014 của UBND tỉnh Thái Nguyên, thì hiện nay diện tích rừng đặc dụng n 2 đang đƣợc khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phƣợng Hoàng quản lý là 19. Khu vực này có hệ sinh thái rừng núi đá độc đáo, có tính ĐDSH phong phú với nhiều nguồn gen động thực vật quý hiếm và nhiều hệ sinh thái chuẩn của vùng núi đá. Nơi đây còn lƣu giữ các di tích khảo cổ học cũng nhƣ các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh có giá trị. Bởi vậy, khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phƣợng Hoàng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã đƣợc thành lập.
Theo kết quả điều tra tại KBTTN Thần Sa-Phƣợng Hoàng thành phần thực vật ở khu bảo tồn có 1.096 loài, 645 chi, 160 họ ở 5 ngành thực vật khác nhau; 56 loài thú 25 họ và 8 bộ; 117 loài chim; 11 loài lƣỡng cƣ; 28 loài bò sát; 77 loài cá thuộc 13 họ và 4 bộ…Trong đó có nhiều loài có tên trong sách đỏ Việt Nam nhƣ: Lan hài Việt Nam, Re hƣơng, Đẳng sâm,Trò xanh, Nghiến ba gân, Hoàng đằng, Trai lý, Đinh mật, Hổ mang chúa, Tê tê, Vọc mũi hếch, Vọc bạc má, Hƣơu xạ,. Tuy nhiên, hiện nay ngƣời dân sinh sống ở vùng đệm KBTTN thậm chí ngay trong vùng lõi đã và đang từng ngày, từng giờ tác động tới tài nguyên rừng của khu bảo tồn dƣới các hình thức và mức độ tác động khác nhau. Trƣớc thực trạng trên, một câu hỏi lớn đặt ra cho các KBTTN nói chung và KBTTNThần Sa-Phƣợng Hoàng nói riêng là: Làm thế nào để hài hòa đƣợc mục tiêu bảo tồn với nhu cầu cuộc sống của ngƣời dân sống trong và cạnh các KBTTN? Để góp phần giải đáp cho câu hỏi trên khóa luận tiến hành: “Đánh giá các tác động của ngƣời dân địa phƣơng đến tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phƣợng Hoàng, huyện Võ Nhai , tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu Bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng của KBTTN Thần Sa - Phƣợng Hoàng, Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đƣợc bền vững.
Mục tiêu nghiên cứu - Xác định đƣợc các hình thức và mức độ tác động của ngƣời dân vào tài nguyên rừng tại KBTTN Thần Sa - Phƣợng Hoàng, Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. - Xác định đƣợc các nguyên nhân dẫn tới tác động tích cực và bất lợi của ngƣời dân địa phƣơng tới tài nguyên rừng. - Đề xuất các giải pháp phát huy tác động tích cực và giảm thiểu tác động bất lợi nhằm thu hút ngƣời dân tham gia quản lý, bảo vệ và sử dụng bền 1. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp cho sinh viên tự hệ thống và củng cố lại những kiến thức đã học. - Tạo cơ hội cho sinh viên làm quen, tìm hiểu kiến thức điều tra ngoài thực địa làm tiền đề cho công việc sau này. Ý nghĩa trong thực tiễn - Là cơ sở giúp Ban quản lý KBTTN tham khảo xây dựng kế hoạch quản lý bảo vệ, phát triển rừng một cách có hiệu quả hơn. - Dần hình thành và bƣớc đầu làm quen với công tác nghiên cứu, đánh giá có khoa học để trang bị cho bản thân áp dụng vào thực tế.
- Kết hợp việc làm khóa luận tốt nghiệp với việc hệ thống, củng cố những kiến thức đã học cả về lý thuyết lẫn thực hành. n 4 Phần 2:TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 2.
Hiện trạng quản lý các VQG và khu bảo tồn thiên nhiên và những mẫu thuẫn phát sinh Theo định nghĩa của IUCN đã khẳng định bảo tồn ĐDSH là mục tiêu cơ bản của KBTTN: “KBTTN là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển đƣợc khoanh vùng để bảo vệ ĐDSH, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm, đƣợc quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khác” IUCN (2008) [2]. Công ƣớc đa dạng sinh học (1992), xác định các KBTTN là công cụ hữu hiệu và có vai trò quan trọng trong bảo tồn ĐDSH “tại chỗ”. Tại điều 8 “Bảo tồn tại chỗ” của Công ƣớc có các mục quy đinh rõ các nƣớc tham gia công ƣớc ĐDSH có trách nhiệm thành lập hệ thống KBTTN, xây dựng các hƣớng dẫn lựa chọn, thành lập và quản lý các KBTTN, và quản lý các tài nguyên sinh học bên trong các KBTTN để bảo tồn và sử dụng bền vững [1]. Phần lớn các KBTTN đều đƣợc thiết lập vì mục đích Quốc gia, mà ít nghĩ đến các nhu cầu và mong muốn của ngƣời dân địa phƣơng.
Dựa trên mô hình của Hoa Kỳ, phƣơng thức quản lý của nhiều VQG và KBTTN chủ yếu bao gồm việc ngăn cấm ngƣời dân địa phƣơng xâm nhập vào KBTTN và khai thác tài nguyên rừng(TNR). Phƣơng thức này gọi là biện pháp "Rào và phạt". Tại các nƣớc Đông Nam Châu Á phƣơng thức này tỏ ra không thích hợp vì để duy trì sự ĐDSH thì ngƣời dân địa phƣơng bị mất quyền tiếp cận với nguồn TNR, trong khi sự phụ thuộc của họ vào TNR là rất lớn [9]. Trƣớc những bất cập trong công tác bảo tồn ở các VQG, KBTTN trên thế giới, từ những năm đầu của thập kỷ 80 nhiều dự án nghiên cứu, hội thảo n 5 quốc tế với sự đóng góp của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu về bảo tồn đã đề xuất những thay đổi trong chiến lƣợc bảo tồn.
Một chiến lƣợc bảo tồn mới dần đƣợc hình thành và khẳng định tính ƣu việt, đó là liên kết quản lý KBTTN và VQG với các hoạt động sinh kế của ngƣời dân địa phƣơng, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết định. Nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới và kinh nghiệm thực tiễn của các KBTTN và VQG khẳng định rằng để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản lý gắn bảo tồn ĐDSH với bảo tồn văn hoá của ngƣời dân địa phƣơng. Ở VQG Kakadu (Australia), những ngƣời thổ dân chẳng những đƣợc chung sống với VQG một cách hợp pháp mà họ còn đƣợc thừa nhận là chủ hợp pháp của VQG và đƣợc tham gia quản lý VQG thông qua các đại diện của họ trong ban quản lý. Tại VQG Wasur (Indonesia) vẫn tồn tại 13 làng bản với cuộc sống gắn với săn bắn cổ truyền [9].
Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa cộng đồng người dân vào tài nguyên rừng trong các VQG, KBTTN Theo Alice Sharp(1999) [11].Trong nghiên cứu của mình thực hiện tại làng Ban Pong, tỉnh S. Risaket, Thái Lan chỉ ra rằng các tầng lớp nghèo phải phụ thuộc vào rừng để chăn thả gia súc và thu hái tài nguyên lâm sản nhƣ: Củi đun và hoa quả trong rừng. Tuy nhiên đây là một minh hoạ rất cần thiết của ngƣời dân địa phƣơng tham gia vào việc lập kế hoạch và thiết kế các dự án phát triển FAO(1996). Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa bảo tồn ĐDSH và phát triển đã trở thành vấn đề nổi lên trong các cuộc hội thảo, diễn đàn khoa học trong những năm gần đây.
Vào tháng 6 năm 1992, tại Hội nghị Liên hiệp quốc về Môi trƣờng và Phát triển bền vững ở Rio De Janeiro, vấn đề này đã chính thức đƣợc công nhận [12]. Các chính sách liên quan tới công tác bảo tồn và quyền lợi của người dân khi tham gia vào hoạt động bảo tồn các VQG, KBTTN Trải qua thời gian, diễn biến TNR ở các khu rừng đặc dụng nƣớc ta đã có nhiều thay đổi do sức ép của sự gia tăng dân số, nhu cầu về gỗ, lâm sản ngoài gỗ (LSNG) ngày một gia tăng đối với cộng đồng dân cƣ sinh sống trong KBTTN. Việc đầu tƣ quản lý bảo vệ và phát triển các khu rừng đặc dụng còn hạn hẹp. Việc triển khai, thực thi các chính sách, pháp luật của nhà nƣớc đối với hệ thống này chƣa đồng bộ, kịp thời.
Vì thế, dẫn đến có nhiều vi phạm nghiêm trọng vào các khu rừng đặc dụng. So với nhiều nƣớc trên thế giới và khu vực thì lịch sử thành lập các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam tƣơng đối sớm. Tháng 7/1962, Quyết định số 72/TTg của thủ tƣớng chính phủ thành lập khu rừng cấm Cúc Phƣơng rộng 25.000 ha, sau này trở thành VQG đầu tiên của nƣớc ta.