Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Thần Sa - Phượng Hoàng thuộc địa giới hành chính huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, cách thành phố Thái Nguyên khoảng 40 km về phía Bắc. Khu bảo tồn được xác lập trên phạm vi 7 xã và 1 thị trấn gồm: Thần Sa, Phú Thượng, Cúc Đường, Vũ Chấn, Thượng Nung, Nghinh Tường, Sảng Mộc và thị trấn Đình Cả. Quy hoạch diện tích rừng đặc dụng ban đầu được phê duyệt là 17.477,37 ha theo Quyết định số 93/QĐ-UBND ngày 13/01/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Sau đó, theo Quyết định số 1518/QĐ-UBND ngày 10/7/2014 và Quyết định điều chỉnh số 2500/QĐ-UBND ngày 05/11/2014 của UBND tỉnh Thái Nguyên, tổng diện tích rừng đặc dụng do Ban quản lý KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng quản lý là 19.913,54 ha.

Khu bảo tồn sở hữu hệ sinh thái rừng núi đá vôi với tính đa dạng sinh học cao, bao gồm 1.096 loài thực vật bậc cao (thuộc 645 chi, 160 họ thuộc 5 ngành), 56 loài thú, 117 loài chim, 11 loài lưỡng cư, 28 loài bò sát và 77 loài cá. Trong đó có nhiều loài nguy cấp, quý hiếm ghi nhận trong Sách đỏ Việt Nam như Lan hài Việt Nam, Re hương, Đẳng sâm, Trò xanh, Nghiến ba gân, Hoàng đằng, Trai lý, Đinh mật, Hổ mang chúa, Tê tê, Vọc mũi hếch, Vọc bạc má, Hươu xạ. Tuy nhiên, tính đến hết năm 2015, dân số toàn vùng có 24.201 nhân khẩu với 5.613 hộ gia đình phân bố tại 71 thôn bản. Tỷ lệ dân cư phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp chiếm tới 85,7%; số hộ nghèo chiếm 25,62% (1.438 hộ). Tình trạng thiếu đất sản xuất nông nghiệp, tập quán canh tác lạc hậu và điều kiện sinh kế khó khăn đã tạo ra áp lực khai thác tài nguyên rừng (TNR) rất lớn từ cộng đồng địa phương sống ở vùng đệm và vùng lõi.

Đề tài khóa luận tập trung giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo tồn nghiêm ngặt của khu rừng đặc dụng với nhu cầu mưu sinh thường nhật của người dân bản địa.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm 3 mục tiêu cụ thể:

  1. Xác định được các hình thức và mức độ tác động của người dân vào tài nguyên rừng tại KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Xác định được các nguyên nhân dẫn tới tác động tích cực và bất lợi của người dân địa phương tới tài nguyên rừng.
  3. Đề xuất các giải pháp phát huy tác động tích cực và giảm thiểu tác động bất lợi nhằm thu hút người dân tham gia quản lý, bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên rừng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những tác động của các hộ gia đình đồng bào dân tộc Tày, H'Mông và Dao tới tài nguyên rừng.
  • Phạm vi không gian: Tiến hành tại 3 xã đại diện nằm trong vùng lõi KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng, bao gồm xóm Mỏ Chì (xã Cúc Đường), xóm Cao Sơn (xã Vũ Chấn) và xóm Ngọc Sơn 2 (xã Thần Sa).
  • Phạm vi thời gian: Thời gian thực địa và thu thập số liệu được thực hiện từ ngày 29/02/2016 đến ngày 16/04/2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng khung lý thuyết và văn bản pháp lý chuyên ngành quản lý tài nguyên rừng và bảo tồn đa dạng sinh học:

  • Định nghĩa và tiêu chí khu bảo tồn thiên nhiên theo Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN, 2008).
  • Điều 8 về "Bảo tồn tại chỗ" của Công ước Đa dạng sinh học (1992).
  • Sự chuyển dịch từ phương thức quản lý truyền thống "Rào và phạt" sang chiến lược quản lý rừng có sự tham gia của cộng đồng, gắn bảo tồn đa dạng sinh học với sinh kế bản địa.
  • Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Đa dạng sinh học.
  • Quyết định số 1250/QĐ-TTg ngày 31/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về Đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Công văn số 986/TCLN-BTTN ngày 20/7/2015 của Tổng cục Lâm nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Thu thập báo cáo kinh tế - xã hội, Niên giám thống kê huyện Võ Nhai năm 2015, các quyết định quy hoạch rừng (Quyết định 93/QĐ-UBND, 1518/QĐ-UBND, 2500/QĐ-UBND), hồ sơ công tác tuần tra kiểm lâm, hồ sơ xử lý vi phạm hành chính và phương án giao khoán rừng của BQL KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng.
  • Phương pháp điều tra thực địa (PRA): Sử dụng công cụ phỏng vấn bán định hướng đối với hộ gia đình và cán bộ quản lý.
    • Quy mô mẫu khảo sát: Tổng số 30 hộ gia đình thuộc 3 dân tộc chính (12 hộ Tày, 13 hộ H'Mông, 5 hộ Dao) tại 3 xóm đại diện cho ba mức độ hạ tầng giao thông (Cúc Đường - thuận lợi, Vũ Chấn - trung bình, Thần Sa - khó khăn). Trong mẫu gồm 6 hộ trung bình và 24 hộ nghèo.
    • Phỏng vấn chuyên sâu 3 cán bộ kiểm lâm thuộc Hạt Kiểm lâm KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Phương pháp thống kê mô tả, phân tích cơ cấu tỷ trọng thu nhập, chi phí và tần suất, khối lượng khai thác lâm sản.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả nêu bật tính cấp thiết của công tác bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học trong bối cảnh các hệ sinh thái rừng đang suy giảm do áp lực từ con người. Phân tích thực trạng mâu thuẫn lợi ích giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế hộ gia đình ở vùng đệm và vùng lõi KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng. Trình bày mục đích, 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, đối tượng nghiên cứu và ý nghĩa khoa học cũng như giá trị thực tiễn của khóa luận đối với công tác quy hoạch, quản lý của Hạt Kiểm lâm và Ban quản lý khu bảo tồn.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Tổng hợp các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về mối tương tác giữa cộng đồng bản địa và tài nguyên rừng đặc dụng. Phân tích sự chuyển dịch từ biện pháp cưỡng chế sang quản lý đồng tham gia. Tổng kết các nghiên cứu điển hình tại Việt Nam của Lê Trọng Cúc (1998) về suy giảm rừng già miền núi phía Bắc, Trần Ngọc Lân (1999) và Đỗ Anh Tuân (2001) về sinh kế phụ thuộc vào rừng tại Pù Mát, Quách Đại Ninh (2003) về chính sách giao đất lâm nghiệp tại Hải Dương, Hoàng Quốc Xạ (2005) về tác động cộng đồng tại VQG Xuân Sơn. Đồng thời, chương này tổng quan chi tiết điều kiện tự nhiên, địa hình núi đá chiếm 87% diện tích, mạng lưới thủy văn suối Mỏ Gà, suối Nước Hai cùng hiện trạng dân sinh kinh tế - xã hội tại 7 xã và 1 thị trấn thuộc huyện Võ Nhai.

Phần 3: Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định đối tượng điều tra là các hộ đồng bào Tày, H'Mông, Dao; thời gian khảo sát thực địa từ 29/02/2016 đến 16/04/2016. Trình bày tiêu chí lựa chọn 3 điểm nghiên cứu đại diện theo địa hình, giao thông và thành phần dân tộc (xóm Mỏ Chì - Cúc Đường, xóm Cao Sơn - Vũ Chấn, xóm Ngọc Sơn 2 - Thần Sa). Quy định rõ quy trình phỏng vấn bán cấu trúc PRA với 30 hộ dân và 3 cán bộ kiểm lâm, kết hợp phương pháp tổng hợp số liệu thứ cấp từ Ban quản lý và chính quyền địa phương.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này chiếm dung lượng chính của khóa luận, gồm 5 nội dung trọng tâm:

  1. Hiện trạng quản lý, bảo vệ và phát triển rừng: Năm 2015 tổ chức 32 buổi tuyên truyền với 2.500 lượt người tham gia; triển khai dự án thâm canh 8,5 ha Chuối Tây hàng hóa; thu giữ 9 khẩu súng săn (súng kíp, súng tự chế) và 29 cạm bẫy bắt động vật hoang dã. Tuần tra 316 lượt, tháo dỡ 25 lán trại trái phép, tiêu hủy 1 máy nổ, 1 máy phát điện và tạm giữ 8 cưa xăng. Giao khoán bảo vệ 2.026,22 ha rừng cho 11 hộ dân và 3 tổ chức. Xử lý 61 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (giảm 40,78% so với năm 2014), trong đó có 6 vụ có chủ và 55 vụ vô chủ; tịch thu 18,19 m3 gỗ xẻ nhóm IIA, 0,152 m3 gỗ tròn nhóm IIA, 5,298 m3 gỗ xẻ tạp, 3,1 kg động vật hoang dã, 1 ô tô, 27 xe máy, nộp ngân sách 163 triệu đồng.
  2. Phân tích kinh tế hộ gia đình: Đất canh tác lúa nước trung bình rất thấp (người Dao cao nhất đạt 1.640 m2/hộ, H'Mông đạt 1.445 m2/hộ, Tày đạt 1.025 m2/hộ). Diện tích hoa màu trung bình cao nhất ở người H'Mông (720 m2/hộ), Dao (540 m2/hộ), Tày (320 m2/hộ). Khảo sát 100% hộ có chăn nuôi. Thu nhập bình quân hộ trung bình là 27,6 triệu đồng/năm, hộ nghèo là 16,2 triệu đồng/năm. Trong tổng thu nhập 542 triệu đồng của 30 hộ điều tra, thu nhập từ khai thác TNR chiếm tỷ trọng lớn nhất với 50,5% (274 triệu đồng), chăn nuôi chiếm 26,2%, thu nhập khác 12,9%, sản xuất lâm nghiệp chiếm 7,6%, và sản xuất nông nghiệp chiếm thấp nhất chỉ 2,7%. Về chi phí, tổng chi phí là 187,1 triệu đồng, trong đó chi phí sinh hoạt chiếm 81,2% (152 triệu đồng), chăn nuôi 11,3%, sản xuất nông nghiệp 4,1%, sản xuất lâm nghiệp 3,3%.
  3. Tác động tích cực: Cộng đồng tham gia tổ bảo vệ rừng của xã (32 người), nhận khoán 2.026,22 ha rừng đặc dụng, giữ gìn mốc giới, tuân thủ các quy ước thôn bản truyền miệng và tham gia ngăn chặn cháy rừng.
  4. Tác động bất lợi:
    • Đốt nương làm rẫy: 14/30 hộ (46,66%) tham gia. Người H'Mông có tỷ lệ cao nhất (23,33% tổng mẫu, 1,3 lần/năm/hộ, diện tích đốt bình quân 506 m2/lần); người Tày (13,33% tổng mẫu, 1 lần/năm/hộ, diện tích 545 m2/lần); người Dao (10% tổng mẫu, 1 lần/năm/hộ, diện tích 367 m2/lần). Bình quân chung là 1,1 lần/năm/hộ và diện tích đốt 473 m2/năm/hộ.
    • Khai thác gỗ: 22/30 hộ (73,33%) tham gia; tần suất bình quân 14,4 lần/năm/hộ; khối lượng 18,9 m3/hộ/năm; thu nhập bình quân 13,5 triệu đồng/hộ/năm. Người Dao khai thác khối lượng lớn nhất (25 m3/năm/hộ), Tày (17,6 m3/năm/hộ), H'Mông (14 m3/năm/hộ). Tác giả xác định 9 loài cây bị khai thác chính, trong đó khai thác trong rừng đặc dụng gồm Nghiến, Trai lý, Lim xẹt, Đinh bốp, Xoan nhừ, Thị đá, Vàng bươơng; khai thác ở bìa rừng gồm Keo, Trám. Tỷ trọng mục đích sử dụng gia đình chiếm 33,3%, bán hàng hóa chiếm 66,7%.
    • Khai thác củi: 100% số hộ (30/30 hộ) tham gia khai thác; tần suất 9,1 lần/năm/hộ; khối lượng bình quân 10,1 ste/năm/hộ; thu nhập 0,53 triệu đồng/năm. Người Dao khai thác cao nhất (11,8 ste/năm/hộ, 10 lần/năm), H'Mông (9,7 ste/năm/hộ), Tày (8,9 ste/năm/hộ). 7 loài khai thác củi gồm Trám, Dẻ, Cơm nguội, Hu đay (trong rừng đặc dụng); Thành ngạnh, Sau sau, Bời lời nhớt (bìa rừng). Mục đích tự sử dụng chiếm 100%, bán hàng hóa chiếm 28,6%.
    • Khai thác lâm sản ngoài gỗ và chăn thả: 86,7% số hộ khai thác dược liệu, măng tươi; 100% số hộ chăn thả gia súc tự do trong rừng.
  5. Nguyên nhân và giải pháp: Nguyên nhân kinh tế là do thiếu đất sản xuất, thu nhập từ rừng chiếm hơn 50% nhưng chi phí bỏ ra chủ yếu là ngày công lao động; nguyên nhân xã hội do tập quán nhà sàn gỗ, đốt củi sưởi ấm mùa đông và trình độ dân trí thấp. Tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp: đa dạng hóa nguồn thu từ rừng; xây dựng mô hình kinh tế vườn hộ; hỗ trợ kết nối thị trường tiêu thụ; hỗ trợ vốn tín dụng ưu đãi; đầu tư hạ tầng thủy lợi và giao thông; tăng cường giáo dục tuyên truyền pháp luật gắn với quy ước truyền thống bản làng.

Phần 5: Kết luận và khuyến nghị

Khái quát lại các kết quả định lượng về cơ cấu kinh tế hộ và mức độ khai thác lâm sản. Đưa ra khuyến nghị đối với Ban quản lý KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng, Chi cục Kiểm lâm Thái Nguyên và chính quyền địa phương nhằm mở rộng diện tích giao khoán bảo vệ rừng, hỗ trợ sinh kế thay thế để giảm áp lực khai thác tài nguyên rừng đặc dụng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã định lượng hóa cụ thể mức độ phụ thuộc kinh tế và các hình thức tác động của từng nhóm dân tộc thiểu số đối với tài nguyên rừng tại KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng thông qua các chỉ số cụ thể:

Chỉ tiêu kinh tế & tác động Dân tộc Tày Dân tộc H'Mông Dân tộc Dao Toàn bộ mẫu khảo sát (30 hộ)
Diện tích canh tác lúa nước TB (m2/hộ) 1.025 1.445 1.640 -
Diện tích trồng hoa màu TB (m2/hộ) 320 720 540 -
Tỷ lệ hộ đốt nương làm rẫy (%) 13,33 (4/12 hộ) 23,33 (7/13 hộ) 10,00 (3/5 hộ) 46,66 (14/30 hộ)
Số lần đốt nương TB (lần/năm/hộ) 1,0 1,3 1,0 1,1
Diện tích đốt nương TB (m2/năm/hộ) 545 506 367 473
Tỷ lệ hộ khai thác gỗ (%) 33,33 (10/12 hộ) 30,00 (9/13 hộ) 10,00 (3/5 hộ) 73,33 (22/30 hộ)
Số lần khai thác gỗ TB (lần/năm/hộ) 12,2 12,7 18,3 14,4
Khối lượng gỗ khai thác TB (m3/năm/hộ) 17,6 14,0 25,0 18,9
Thu nhập TB từ khai thác gỗ (triệu đồng/hộ/năm) 16,5 13,2 10,7 13,5
Tỷ lệ hộ khai thác củi (%) 40,0 (12/12 hộ) 43,3 (13/13 hộ) 17,7 (5/5 hộ) 100 (30/30 hộ)
Khối lượng củi khai thác TB (ste/năm/hộ) 8,9 9,7 11,8 10,1
Thu nhập TB từ khai thác củi (triệu đồng/hộ/năm) 0,5 0,5 0,6 0,53

Cơ cấu thu nhập và chi phí của 30 hộ nghiên cứu cho thấy:

  • Thu nhập từ khai thác TNR đạt 274 triệu đồng, chiếm 50,5% tổng thu nhập (trong đó nhóm hộ nghèo phụ thuộc tới 54,2%, nhóm hộ trung bình là 39,8%).
  • Thu nhập từ chăn nuôi đạt 142 triệu đồng, chiếm 26,2% (hộ trung bình chiếm 35,5%, hộ nghèo chiếm 23,0%).
  • Thu nhập từ sản xuất lâm nghiệp chiếm 7,6% (41,5 triệu đồng), thu nhập khác chiếm 12,9% (70 triệu đồng), và sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng thấp nhất với 2,7% (14,5 triệu đồng).
  • Chi phí sinh hoạt chiếm áp đảo với 81,2% tổng chi phí (152 triệu đồng trên tổng số 187,1 triệu đồng).

Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Tác giả đã chỉ ra khoảng trống của các công trình trước đây (như nghiên cứu của Đỗ Anh Tuân, Quách Đại Ninh, Hoàng Quốc Xạ) vốn chủ yếu khảo sát diện rộng tại vùng đệm mà chưa đi sâu vào cộng đồng sống trực tiếp trong vùng lõi, hoặc chưa phân hóa chi tiết mức độ tác động theo từng thành phần dân tộc (Tày, H'Mông, Dao). Khóa luận bổ sung hệ thống số liệu định lượng chi tiết về khối lượng gỗ, củi, diện tích rẫy đốt và cơ cấu thu nhập của từng dân tộc, tạo cơ sở thực tế cho các can thiệp chính sách tại KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Dung lượng mẫu khảo sát thực địa còn khiêm tốn (30 hộ gia đình thuộc 3 xóm Mỏ Chì, Cao Sơn, Ngọc Sơn 2) do thời gian nghiên cứu tại hiện trường tương đối ngắn (từ 29/02/2016 đến 16/04/2016) và điều kiện địa hình núi đá chia cắt phức tạp, giao thông hiểm trở.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi điều tra sang các xã còn lại của khu bảo tồn (Sảng Mộc, Thượng Nung, Nghinh Tường, Phú Thượng); tăng số lượng mẫu hộ gia đình; nghiên cứu chi tiết hơn về mức độ suy thoái trữ lượng của từng loài cây gỗ quý hiếm (Nghiến, Trai lý) và tác động của hoạt động chăn thả gia súc, khai thác khoáng sản trái phép đối với khả năng tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng đặc dụng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu thực địa hữu ích đối với sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Quản lý môi trường và Phát triển nông thôn. Đặc biệt, tài liệu cung cấp số liệu thực chứng phục vụ các nghiên cứu về đánh giá sinh kế nông thôn, phương pháp điều tra PRA trong lâm nghiệp xã hội và quan hệ giữa bảo tồn với cộng đồng bản địa.

Đối với cơ quan chuyên trách, hệ thống số liệu về các điểm nóng khai thác gỗ, danh mục 9 loài gỗ và 7 loài củi bị khai thác, cùng các chỉ số kinh tế hộ là tài liệu tham khảo trực tiếp cho Ban quản lý KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng, Hạt Kiểm lâm Võ Nhai và UBND các xã trong việc xây dựng phương án giao khoán quản lý bảo vệ rừng, tổ chức tuần tra kiểm soát và lập kế hoạch hỗ trợ sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng lõi.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận khảo sát tại những địa bàn cụ thể nào và tại sao lại chọn các địa bàn này?
Khảo sát được thực hiện tại 3 xóm thuộc 3 xã nằm trong vùng lõi khu bảo tồn: xóm Mỏ Chì (xã Cúc Đường), xóm Cao Sơn (xã Vũ Chấn) và xóm Ngọc Sơn 2 (xã Thần Sa). Ba địa bàn này được lựa chọn vì đại diện cho 3 điều kiện hạ tầng giao thông khác nhau (Cúc Đường tương đối thuận lợi, Vũ Chấn trung bình, Thần Sa khó khăn) và có đầy đủ cả 3 dân tộc thiểu số sinh sống (Tày, H'Mông, Dao) với đời sống kinh tế khó khăn, phụ thuộc trực tiếp vào rừng.

2. Nhóm hộ nào có mức độ phụ thuộc lớn nhất vào tài nguyên rừng và tỷ trọng thu nhập từ rừng là bao nhiêu?
Nhóm hộ nghèo có mức độ phụ thuộc vào tài nguyên rừng cao nhất, với thu nhập từ khai thác tài nguyên rừng chiếm 54,2% tổng thu nhập hàng năm của nhóm. Tính trung bình trên toàn bộ 30 hộ khảo sát, thu nhập từ khai thác tài nguyên rừng chiếm 50,5% tổng thu nhập (đạt 274 triệu đồng trên tổng số 542 triệu đồng), trong khi sản xuất nông nghiệp chỉ đóng góp 2,7%.

3. Khối lượng khai thác gỗ và củi bình quân của các hộ gia đình là bao nhiêu và dân tộc nào khai thác nhiều nhất?
Khối lượng khai thác gỗ trung bình của các hộ là 18,9 m3/hộ/năm (tần suất 14,4 lần/năm/hộ); trong đó đồng bào dân tộc Dao khai thác nhiều nhất với 25 m3/hộ/năm. Khối lượng khai thác củi trung bình là 10,1 ste/hộ/năm (tần suất 9,1 lần/năm/hộ); trong đó dân tộc Dao cũng khai thác khối lượng củi cao nhất với 11,8 ste/hộ/năm.

4. Những loài cây gỗ và củi nào trong rừng đặc dụng bị người dân khai thác chủ yếu?
Các loài cây gỗ bị khai thác trong rừng đặc dụng gồm: Nghiến, Trai lý, Lim xẹt, Đinh bốp, Xoan nhừ, Thị đá, Vàng bươơng (ngoài ra có Keo và Trám ở bìa rừng). Các loài lấy củi trong rừng đặc dụng gồm: Trám, Dẻ, Cơm nguội, Hu đay (ngoài ra có Thành ngạnh, Sau sau, Bời lời nhớt ở bìa rừng).

5. Kết quả thực thi pháp luật và tuần tra bảo vệ rừng của Hạt Kiểm lâm khu bảo tồn trong năm 2015 đạt được những con số nào?
Lực lượng kiểm lâm đã tổ chức 316 lượt tuần tra, dỡ bỏ 25 lán trại trái phép, tiêu hủy 1 máy nổ và 1 máy phát điện, tạm giữ 8 cưa xăng, thu hồi 9 khẩu súng săn và 29 bẫy bắt động vật. Trong năm 2015 đã xử lý 61 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (giảm 40,78% so với năm 2014); tịch thu 18,19 m3 gỗ xẻ nhóm IIA, 0,152 m3 gỗ tròn nhóm IIA, 5,298 m3 gỗ xẻ tạp, 3,1 kg động vật hoang dã, 1 ô tô, 27 xe máy và nộp ngân sách 163 triệu đồng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Viết Doanh đã đánh giá toàn diện thực trạng quản lý và phản ánh chính xác bức tranh tương tác giữa người dân bản địa với tài nguyên rừng tại KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng. Bằng việc kết hợp phương pháp điều tra PRA và phân tích kinh tế hộ, tác giả đã định lượng rõ sự phụ thuộc sinh kế của các dân tộc Tày, H'Mông, Dao vào tài nguyên rừng (chiếm tới 50,5% tổng thu nhập) cùng các hành vi tác động như khai thác gỗ (18,9 m3/hộ/năm), khai thác củi (10,1 ste/hộ/năm) và đốt nương rẫy. Công trình cung cấp hệ thống luận cứ thực tiễn quan trọng, làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách giao khoán bảo vệ rừng và triển khai các giải pháp sinh kế bền vững tại địa phương.