Đánh Giá Yếu Tố Môi Trường Ảnh Hưởng Đến Động Vật Không Xương Sống Lớn tại Sông Buông, Đồng Nai

Nghiên cứu tác động của yếu tố môi trường đến động vật không xương sống tại sông Buông, Đồng Nai. Phân tích thành phần loài Chân bụng (Gastropoda) & Hai mảnh vỏ (Bivalvia) mùa khô.

Chuyên ngành

Khoa học cơ bản

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo tổng kết nhiệm vụ KHCN cấp cơ sở

2022

57
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Động vật không xương sống cỡ lớn

1.2. Ý nghĩa các chỉ tiêu trong môi trường nước

1.3. Tổng quan sông Buông

1.4. Tình hình nghiên cứu ngoài nước liên quan tới đề tài

1.5. Tình hình nghiên cứu trong nước liên quan tới đề tài

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu của đề tài

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Đối tượng nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.5. Phương pháp kế thừa

2.6. Phương pháp chuyên gia

2.7. Phương pháp thực địa

2.8. Phương pháp phân tích

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Kết quả khoa học công nghệ

3.2. Các chỉ tiêu trong môi trường nước

3.3. Cấu trúc quần xã và thành phần loài ĐVKXSCL. Đánh giá sự đa dạng loài

3.4. Mối liên quan giữa các yếu tố môi trường và ĐVKXSCL

3.5. Sản phẩm khoa học công nghệ

4. CHƯƠNG 4: KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đánh Giá Tác Động Môi Trường Sông Buông 55

Động vật không xương sống cỡ lớn (ĐVKXSCL) là mắt xích quan trọng trong hệ sinh thái thủy vực. Chúng nhạy cảm với biến động môi trường và được sử dụng để đánh giá chất lượng nước. Phương pháp này rẻ, dễ thực hiện, cho phép quan sát tác động bằng mắt thường. Phân tích hóa học tốn kém và khó thực hiện liên tục. ĐVKXSCL phản ứng với ô nhiễm trong thời gian dài hơn, cung cấp dấu hiệu sớm cho phân tích hóa học. Xác định sinh vật chỉ thị môi trường đòi hỏi xác định mối quan hệ giữa yếu tố hóa lý và thành phần loài. Sông Buông quan trọng cho nông nghiệp và du lịch Đồng Nai. Cần quản lý xả thải và duy trì đa dạng sinh học. Nghiên cứu về ĐVKXSCL còn hạn chế. Đánh giá ảnh hưởng của pH, nhiệt độ, độ dẫn điện (EC), tổng lượng chất rắn hòa tan (TDS) và độ cao thủy vực là cần thiết. Nghiên cứu này tập trung vào lớp Chân bụng (Gastropoda) và lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) vào mùa khô.

1.1. Vai trò của Động Vật Không Xương Sống trong Hệ Sinh Thái

ĐVKXSCL đóng vai trò quan trọng trong các hệ sinh thái, là nguồn thức ăn cho cá, lưỡng thê, chim. Chúng tham gia phân hủy vật chất hữu cơ và dinh dưỡng (Voshell and Reese, 2002). Phần lớn sống ở đáy thủy vực, cư trú trong nền đáy, mùn bã hữu cơ, khúc gỗ, thực vật bậc cao, tảo sợi... Chúng không thể thay đổi môi trường sống nhanh chóng do đó chúng phản ứng nhanh với bất cứ nguồn ô nhiễm nào xảy ra trong môi trường nên cấu trúc quần thể sẽ bị thay đổi. Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu vai trò của chúng để có các biện pháp bảo tồn phù hợp.

1.2. Tầm Quan Trọng của Sông Buông Đối Với Đồng Nai

Sông Buông bắt nguồn từ Long Khánh và đổ ra sông Đồng Nai, có ý nghĩa lớn đối với nông nghiệp, du lịch ở Thống Nhất, Trảng Bom, cung cấp nước cho nông nghiệp, lâm nghiệp. Sông chảy qua khu du lịch sinh thái Giang Điển và khu du lịch Sơn Tiên. Vì vậy giữ cho sông Buông không bị ô nhiễm là điều rất quan trọng. Bên cạnh đó, những đánh giá về ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường nước cơ bản như pH, nhiệt độ, độ dẫn điện (EC), tổng lượng chất rắn hòa tan (TDS) và độ cao thủy vực cũng góp phần quan trọng trong việc xác định được mức độ ảnh hưởng, thành phần loài đặc trưng, và quan trọng nhất là góp phần xây dựng ban đầu cho những đánh giá về chất lượng môi trường nước trong khu vực hay lớn hơn là biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến những biến đổi sinh thái trong môi trường nước của khu vực.

II. Thách Thức Ô Nhiễm Nước Ảnh Hưởng Động Vật Sông Buông 57

Ô nhiễm nước tại sông Buông là vấn đề đáng quan tâm. Hiện tại, chỉ có một điểm quan trắc môi trường nước. Thông tin và nghiên cứu về động vật thủy sinh nói chung và động vật không xương sống cỡ lớn nói riêng rất hạn chế. Cần nghiên cứu cụ thể để cung cấp dữ liệu cơ bản cho quản lý bền vững dòng sông. Các hoạt động của con người gây ra sự thay đổi các yếu tố lý hóa học, điều này làm tác động xấu đến quần thể ĐVKXSCL sống đáy (Haileselasie and Teferi, 2012). Cần thiết lập mối quan hệ giữa các đặc điểm hóa lý và số loài, số lượng cá thể từng loài, xem xét yếu tố nào tỷ lệ thuận hay tỷ lệ nghịch với số lượng loài, với số lượng cá thể của loài. Xem xét các yếu tố hóa lý ảnh hưởng như thế nào đến sự sinh trưởng và phát triển của ĐVKXSCL.

2.1. Các Nguồn Gây Ô Nhiễm Chủ Yếu Tại Sông Buông

Các hoạt động của con người trong vùng có hệ thống cấp thoát nước đều có thể gây ra sự thay đổi các yếu tố lý hóa học, điều này làm tác động xấu đến quần thể ĐVKXSCL sống đáy (Haileselasie and Teferi, 2012). Các yếu tố lý hóa học của các dòng sông và suối ở các nước nhiệt đới bị ảnh hưởng rất lớn do các hoạt động của con người, do sự thay đổi việc sử dụng tài nguyên đất, hoạt động sản xuất nông nghiệp và công nghiệp hóa gia tăng, tất cả các hoạt động này làm ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến tốc độ dòng chảy và điều đó gây ảnh hưởng đến quần thể ĐVKXS sống đáy. Cần xác định cụ thể nguồn ô nhiễm từ chất thải công nghiệp, nông nghiệpsinh hoạt.

2.2. Thiếu Hụt Dữ Liệu Nghiên Cứu Về Đa Dạng Sinh Học

Cho đến nay, nguồn thông tin cũng như những nghiên cứu về nhóm động vật thủy sinh nói chung và động vật không xương sống cỡ lớn nói riêng tại sông Buông rất hạn chế. Nên cần thiết phải có những nghiên cứu cụ thể trong khu vực nhằm đưa ra được những thông tin cơ bản làm cơ sở dữ liệu để quản lý bền vững dòng sông. Cần tập trung nghiên cứu về thành phần loài, mật độ quần thể và các yếu tố ảnh hưởng đến đa dạng sinh học.

III. Phương Pháp Đánh Giá Tác Động Môi Trường Cách Tiếp Cận 59

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thực địa để thu thập mẫu vật động vật không xương sốngmẫu nước. Phân tích mẫu vật trong phòng thí nghiệm để xác định thành phần loài và mật độ quần thể. Đo các chỉ số hóa lý của nước như pH, nhiệt độ, EC, TDS. Sử dụng chỉ số sinh học như IBI (Index of Biotic Integrity) để đánh giá chất lượng nước. Thống kê và phân tích dữ liệu để xác định mối tương quan giữa yếu tố môi trường và thành phần loài ĐVKXSCL. Kết quả so sánh với các nghiên cứu trước đây để đánh giá mức độ ô nhiễm và tác động.

3.1. Thu Thập và Phân Tích Mẫu Vật Động Vật Không Xương Sống

ĐVKXSCL được xem như các động vật không xương có kích thước đủ lớn để có thể bắt được bằng lưới hoặc giữ lại trên sàng với kích cỡ mắt lưới từ 250-1.000µm và có thể nhìn thấy bằng mắt thường với kích thước hầu hết lớn hơn 1 mm. Mẫu vật được thu thập bằng các phương pháp chuyên dụng và được phân tích, định danh trong phòng thí nghiệm. Việc phân tích này cho phép xác định thành phần loài và mật độ quần thể của ĐVKXSCL.

3.2. Đo Đạc và Phân Tích Các Yếu Tố Hóa Lý Của Nước

Các yếu tố lý hóa học của các dòng sông và suối ở các nước nhiệt đới bị ảnh hưởng rất lớn do các hoạt động của con người, do sự thay đổi việc sử dụng tài nguyên đất, hoạt động sản xuất nông nghiệp và công nghiệp hóa gia tăng, tất cả các hoạt động này làm ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến tốc độ dòng chảy và điều đó gây ảnh hưởng đến quần thể ĐVKXS sống đáy. Các yếu tố như pH, nhiệt độ, độ dẫn điện (EC) và tổng lượng chất rắn hòa tan (TDS) được đo đạc tại hiện trường và phân tích trong phòng thí nghiệm.

IV. Ảnh Hưởng Yếu Tố Môi Trường Đến Động Vật Sông Buông 56

Nhiệt độ, pH, độ dẫn điện, tổng lượng chất rắn hòa tan và độ cao thủy vực ảnh hưởng đến thành phần loài ĐVKXSCL. Nhiệt độ cao có thể giảm oxy hòa tan, ảnh hưởng đến sinh vật. pH quá cao hoặc quá thấp gây hại. Độ dẫn điện và TDS cao cho thấy ô nhiễm. Độ cao ảnh hưởng đến lưu lượng và thành phần đáy sông. Cần xác định ngưỡng chịu đựng của từng loài để đánh giá tác động. Kết quả nghiên cứu chỉ ra các yếu tố môi trường nước cũng được sử dụng nhiều trong quan trắc sinh học như là: độ mặn, nhiệt độ nước, pH, DO, BOD, TSS, TDS…

4.1. Tác Động của Nhiệt Độ Đến Động Vật Không Xương Sống

Nhiệt độ cao có thể làm giảm lượng oxy hòa tan trong nước, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự sống của ĐVKXSCL. Các loài khác nhau có ngưỡng chịu đựng nhiệt độ khác nhau, và sự thay đổi nhiệt độ có thể dẫn đến sự thay đổi trong thành phần loài.

4.2. Vai Trò của pH Độ Dẫn Điện và Tổng Chất Rắn Hòa Tan

Giá trị pH quá cao hoặc quá thấp có thể gây hại cho ĐVKXSCL. Độ dẫn điện (EC) và tổng lượng chất rắn hòa tan (TDS) cao thường chỉ ra sự ô nhiễm do các hoạt động của con người. Cần xác định ngưỡng chịu đựng của từng loài để đánh giá tác động.

4.3. Ảnh Hưởng của Độ Cao Thủy Vực Đến Hệ Sinh Thái

Độ cao ảnh hưởng đến lưu lượng dòng chảy và thành phần đáy sông, từ đó tác động đến thành phần loài ĐVKXSCL. Các loài khác nhau thích nghi với các điều kiện độ cao khác nhau.

V. Biện Pháp Giảm Thiểu Tác Động Phục Hồi Sông Buông 59

Kiểm soát nguồn gây ô nhiễm từ công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt. Xây dựng hệ thống xử lý nước thải hiệu quả. Tăng cường quan trắc môi trường định kỳ. Phục hồi hệ sinh thái ven sông bằng cách trồng cây bản địa. Nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường. Thúc đẩy nông nghiệp bền vững. Cần có kế hoạch bảo tồn đa dạng sinh học dài hạn. Nghiên cứu nhấn mạnh, giữ cho sông Buông có sự đa dạng sinh học cao vì chính hệ sinh vật trong dòng sông tham gia vào hoạt động xử lý ô nhiễm, đặc biệt là ô nhiễm hữu cơ.

5.1. Kiểm Soát Nguồn Gây Ô Nhiễm và Xử Lý Nước Thải

Kiểm soát chặt chẽ các nguồn xả thải từ khu công nghiệp, nông nghiệp và khu dân cư. Xây dựng và nâng cấp hệ thống xử lý nước thải đảm bảo đạt tiêu chuẩn trước khi xả ra sông.

5.2. Phục Hồi Hệ Sinh Thái Ven Sông và Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học

Phục hồi hệ sinh thái ven sông bằng cách trồng các loại cây bản địa, tạo hành lang xanh ven sông. Triển khai các chương trình bảo tồn đa dạng sinh học nhằm bảo vệ các loài ĐVKXSCL quý hiếm và đặc hữu.

5.3. Nâng Cao Nhận Thức Cộng Đồng và Thúc Đẩy Nông Nghiệp Bền Vững

Tổ chức các chương trình tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường sông Buông. Khuyến khích áp dụng các phương pháp canh tác nông nghiệp bền vững để giảm thiểu ô nhiễm từ thuốc trừ sâu và phân bón.

VI. Kết Luận Hướng Nghiên Cứu Và Quản Lý Bền Vững Sông Buông 60

Nghiên cứu đánh giá tác động môi trường đến động vật không xương sống tại sông Buông cung cấp thông tin quan trọng cho quản lý. Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về tác động của biến đổi khí hậu. Phát triển các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm hiệu quả hơn. Xây dựng hệ thống quan trắc môi trường toàn diện. Nghiên cứu khuyến nghị cần có những nghiên cứu cụ thể trong khu vực nhằm đưa ra được những thông tin cơ bản làm cơ sở dữ liệu để quản lý bền vững dòng sông.

6.1. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Biến Đổi Khí Hậu

Nghiên cứu cần tập trung vào đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến hệ sinh thái sông Buông và các giải pháp thích ứng.

6.2. Phát Triển Các Biện Pháp Giảm Thiểu Ô Nhiễm Hiệu Quả

Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm từ các nguồn khác nhau, đặc biệt là từ công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt.

6.3. Xây Dựng Hệ Thống Quan Trắc Môi Trường Toàn Diện

Xây dựng một hệ thống quan trắc môi trường toàn diện, bao gồm cả quan trắc chất lượng nước và quan trắc sinh học, để theo dõi và đánh giá hiệu quả của các biện pháp bảo vệ môi trường.

23/04/2025
Đánh giá một số yếu tố môi trường ảnh hưởng đến thành phần loài động vật không xương cỡ lớn thuộc lớp chân bụng gastropoda và lớp hai mảnh vỏ bivalvia vào mùa khô tại sông buông tỉnh đồng nai

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Động vật không xương sống cỡ lớn Khái niệm: ĐVKXSCL là sinh vật không có xương sống, có thể nhìn thấy bằng mắt thường, động vật không xương sống có thể bị bắt bởi lưới hoặc lưới lọc có kích thước 500 µm. Đặc điểm: Ở các thủy vực nước chảy, ĐVKXSCL được xem như các động vật không xương có kích thước đủ lớn để có thể bắt được bằng lưới hoặc giữ lại trên sàng với kích cỡ mắt lưới từ 250-1.000µm và có thể nhìn thấy bằng mắt thường với kích thước hầu hết lớn hơn 1 mm (De Pauw and Vanhooren, 1983; Sladecek, 1973). ĐVKXSCL bao gồm nhóm chân đốt (côn trùng, ve, tôm, cua), nhóm thân mềm (hai mảnh vỏ, ốc), giun đốt, giun tròn, giun đũa.

ĐVKXSCL sống đáy có môi trường sống giới hạn và khả năng di chuyển ít, chúng không thể thay đổi môi trường sống một các nhanh chóng do vậy chúng phản ứng nhanh với bất cứ nguồn ô nhiễm nào xảy ra trong môi trường nên cấu trúc quần thể sẽ bị thay đổi. Bên cạnh đó, vòng đời của chúng đủ dài để có thể biết được các đặc điểm môi trường sống của chúng trước và sau khi ô nhiễm (Rosenberg and Resh, 1993). Voshell and Reese (2002) cho rằng ĐVKXSCL giữ vai trò quan trọng trong các hệ sinh thái bởi vì chúng là nguồn thức ăn cho cá, lưỡng thê, chim sống nước, ngoài ra chúng còn tham gia vào việc phân hủy vật chất hữu cơ và dinh dưỡng. Phần lớn ĐVKXSCL có đời sống ở tầng đáy thủy vực và cư trú trong nền đáy (môi trường cư trú thường là nền đáy, mùn bã hữu cơ, khúc gỗ, thực vật bậc cao, tảo sợi,…) vì lý do này nên chúng thường được xem là ĐVKXSCL sống đáy.

Ngoài ra, một số ít ĐVKXSCL sống ở bề mặt nước và bơi lội tự do trong tầng nước (Rosenberg and Resh, 1993). Tesfaye (1988) cho rằng sự ưu thế và thành phần loài của ĐVKXSCL sẽ biến động khi sự ô nhiễm nước tăng lên. Đặc điểm môi trường sống của động vật không xương sống cỡ lớn Sự đa dạng thành phần loài ĐVKXSCL có tương quan thuận với chất lượng nước, do đó các hoạt động của con người có thể làm suy giảm hệ sinh vật trong nước, bất cứ các hoạt động nào của con người trong vùng có hệ thống cấp thoát nước đều có thể gây ra sự thay đổi các yếu tố lý hóa học, điều này làm tác động xấu đến quần thể ĐVKXSCL sống đáy (Haileselasie and Teferi, 2012). Các yếu tố lý hóa học của các dòng sông và suối ở các nước nhiệt đới bị ảnh hưởng rất lớn do các hoạt động của con người, do sự thay đổi việc sử dụng tài nguyên đất, hoạt động sản xuất nông 5 nghiệp và công nghiệp hóa gia tăng, tất cả các hoạt động này làm ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến tốc độ dòng chảy và điều đó gây ảnh hưởng đến quần thể ĐVKXS sống đáy (Pringle et al., 2000; Wishart et al.

Ngoài ra, sự phân bố và sự ưu thế của các sinh vật thủy sinh trong quần thể động vật đáy phụ thuộc vào nhiều yếu tố, Bazzanti and Seminara (2004) cũng cho rằng những khác biệt về độ phong phú và thành phần loài của sinh vật đáy là do sự khác nhau về đặc tính lý hóa học của các hệ sinh thái thủy sinh. Hai yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự phân bố của ĐVKXSCL là tính chất nền đáy và vật chất lơ lửng trong tầng đáy của thủy vực. Hơn nữa, một số yếu tố lý hóa học cũng ảnh hưởng đến sinh khối và tính đa dạng của ĐVKXSCL bao gồm: độ dốc của thủy vực, nhiệt độ nước và chiều rộng của thủy vực (Newlon and Rabe, 1977). Theo Voshell and Reese (2002), các yếu tố thủy lý quan trọng ảnh hưởng đến sự phân bố của động vật đáy bao gồm nhiệt độ nước, thể tích nước, lưu tốc dòng chảy, tính chất nền đáy và mối quan hệ năng lượng.

Mặt khác, kết quả của nhiều nghiên cứu cũng cho thấy các yếu tố môi trường nước cũng ảnh hưởng nhiều đến biến động quần thể ĐVKXSCL (Subramanian and Sivaramakrishnan, 2007). Tương tự, Sittilert (1985) cho rằng có mối quan hệ có ý nghĩa giữa tính đa dạng thành phần loài ĐVKXSCL với các yếu tố môi trường nước bao gồm DO, pH và độ mặn khi nghiên cứu ở sông Thachin, Thái Lan. Do vậy, các yếu tố môi trường nước cũng được sử dụng nhiều trong quan trắc sinh học như là: độ mặn, nhiệt độ nước, pH, DO, BOD, TSS, TDS… Lớp Chân bụng (Gastropoda) thuộc ngành Thân mềm, cơ thể đã có đầy đủ các hệ, thụ tinh trong, đẻ trứng. Lớp Chân bụng có phần thân xoắn chóp làm cơ thể mất đối xứng hai bên.

Thích ứng với đời sống bò chậm trên giá thể. Lớp Chân bụng là lớp phong phú nhất trong ngành, chiếm 75 – 80% số loài thân mềm hiện đang sống. Phần lớn Chân bụng sống ở biển, một số sống ở nước ngọt, ở cạn và số ít ký sinh ngoài trên cơ thể động vật (trai, da gai,…). Lớp Chân bụng phân bố rất rộng, trong nước ngọt, nước mặn, trên cạn.

Số loài ở nước mặn và nước lợ nhiều hơn hẳn so với số loài ở nước ngọt. Ở cạn, chỉ có bộ Mắt đỉnh (Stylommotopphra) và một số mang trước (ví dụ họ Cyclophoridae). Một số có phổi chuyển thứ sinh sang sống ở nước ngọt (Basommatophora). Ở biển, chân bụng có thể sống từ vùng ven bờ tới độ sâu 5000m.

Một số ốc có phổi có thể sống ở độ cao 5500m. Một số ốc mang trước thích nghi với 6 đời sống trôi nổi trong tầng nước mặt ở biển như Janthinidae, Heteropoda, Pteropoda. Phần lớn chân bụng bò chậm ở đáy. Một số sống bám, ít hoặc không di động.

Bên cạnh các loài sống tự do còn có các loài ký sinh ở sao biển, cầu gai, hải sâm và trai. Ốc có phổi ưa sống ở nơi ẩm, giàu mùn bã thực vật. Mùa lạnh hoặc mùa khô, chúng có thời kỳ nghỉ hoạt động, lỗ miệng không có nắp miệng được bịt kín bởi một màng làm bằng chất nhầy do chúng tiết ra, có nhiều muối canxi. Một số ốc có mang có thể sống cả ở suối nước nóng, nhiệt độ nước tới 530C.

Riêng ốc nhồi (Pilidae) vừa có mang, vừa có phổi, sống ở nước nhưng có khả năng chịu khô cạn trong thời gian khá lâu. Đa số loài ốc ăn thực vật, mùn bã, rêu, nấm,…Một số ốc ăn thịt, chúng ăn sứa, giun,…và cả trai bằng cách đục lỗ vỏ bằng axit do chúng tiết ra (Naticidae) [1]. Các giống loài thuộc lớp Gastropoda nước ngọt là sinh vật chỉ thị và giữ vai trò quan trọng ở các thủy vực nước sạch bởi vì chúng sống hoại sinh (Saprophytic). Một số loài Gastropoda là ký chủ trung gian lây nhiễm sán lá và các ký sinh trùng khác của động vật và con người (Brown, 1994), khoảng 100 loài Gastropoda nước ngọt là ký chủ trung gian cho động vật ký sinh (sán lá) và trong số những loài Chân bụng này thì các giống loài thuộc họ Pilidae và Thiaridae được ghi nhận là nơi ẩn náu của ấu trùng sán lá (Subba-Rao, 1993).

Dillon (2000) cho rằng sự phân bố của Gastropoda trong môi trường nước ngọt phụ thuộc vào khả năng của chúng đối với môi trường nơi chúng sinh sống và tồn tại ở đó. Tỉ lệ sống Gastropoda được qui định bởi các yếu tố lý hóa học khác nhau mà các yếu tố này giữ vai trò quan trọng trong việc xác định các đặc điểm chất lượng nước có liên quan đến những loài đặc biệt. Các yếu tố lý hóa học khác nhau của vực nước, sự ô nhiễm, vấn đề bệnh tật và sự hiện diện của thực vật thủy sinh là những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sự phân bố và mức độ phong phú của các loài Gastropoda. Mật độ của Gastropoda biến động theo mùa, đạt mật độ cao vào mùa hè (Nazneen et al.

(1994)), đỉnh cao mật độ Gastropoda đạt được vào mùa thu trong khi mật độ của chúng thấp nhất vào mùa đông (Hussein et al. Quần thể Gastropda đạt số lượng cao hơn từ tháng 3 đến tháng 7 và thấp hơn từ tháng 8 đến tháng 2. Đỉnh cao của Gastropoda được ghi nhận vào tháng 6 và số lượng đạt thấp nhất vào tháng 2 (Saddozai et al. Quần thể Gastropoda có thành phần loài cao hơn vào mùa hè và thấp vào mùa đông (Saddozai et al.

Gastropoda nước ngọt ở hồ Manchar của Pakistan giai đoạn tháng 8/2011 đến tháng 07/2012 đã ghi nhận được 10 loài: Bellamya bengalensis, Bellamya naticoides, Thiara 7 tuberculata, Lymnaea acuminata chlamys, Lymnaea acuminata rufescens, Lymnaea acuminata patula, Physa acuta, Gabia arcula, Planorbis exustus and Gyraulus euphraticus. Gastropoda nước ngọt là sinh vật chỉ thị, giữ vai trò quan trọng ở các thủy vực nước sạch bởi vì chúng là sinh vật hoại sinh có thể sử dụng các vật chất hữu cơ trong môi trường nước. Chúng ăn tảo, động vật nổi và chất thải hữu cơ và là nguồn thức ăn cho nhiều loài cá, chim và con người. Strzelec and Królczyk (2004) cho rằng nhiều loài thuộc lớp Gastropoda chịu đựng được hầu hết các biến động của các yếu tố lý hóa học và sự hiện diện của chúng bị ảnh hưởng bởi chất lượng nền đáy và sự phong phú của cây cỏ thủy sinh, tác giả cho rằng ở các dòng sông nền đáy phù hợp nhất cho Gastropoda phát triển là nền đáy cát trên bề mặt có phủ một lớp mỏng vật chất hữu cơ mịn.

Ngoài ra, Supian and Ikhwanuddin (2002) cho thấy loài ốc đinh Melanoides tuberculata thuộc họ Thiaridae xuất hiện thường xuyên nhất và phân bố rộng nhất, chúng được tìm thấy ở hầu hết các thủy vực nước ngọt và đạt mật độ cao nhất vào tháng 10. Mùa vụ sinh sản chính của ốc Melanoides tuberculata diễn ra từ tháng 6 đến tháng 11 hàng năm (Pointier et al. Mặt khác, theo Flores and Zaffaralla (2012) các loài ốc thuộc họ Thiaridae thường chiếm ưu thế và duy trì bền bỉ nhất trong các hệ sinh thái khác nhau, ngoài ra Contreras-Arquieta (1998) cho rằng các loài ốc thuộc họ Thiaridae định cư nhanh, chịu đựng được các môi trường sống khác nhau là do chúng có vỏ dày và chắc, nhiều loài sinh sản đơn tính nên có khả năng tăng mật độ cao trong thời gian ngắn, tuổi thọ trung bình của loài ốc này khoảng 5 năm. Utzinger et al.

(1997) kết luận rằng sự phân bố của các loài ốc nước ngọt là kết quả của sự tương tác các yếu tố sinh thái khác nhau, chúng thể hiện khả năng chịu đựng mức ô nhiễm cao và thích nghi với sự biến động theo mùa của các yếu tố lý hóa học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu "Đánh giá tác động môi trường đến động vật không xương sống tại sông Buông, Đồng Nai" tập trung phân tích những ảnh hưởng tiêu cực hoặc tích cực mà các hoạt động kinh tế - xã hội gây ra cho quần thể động vật không xương sống, một thành phần quan trọng của hệ sinh thái sông. Kết quả của nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp giảm thiểu tác động xấu, bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý bền vững nguồn tài nguyên nước. Nghiên cứu này đặc biệt hữu ích cho các nhà quản lý môi trường, các nhà khoa học, và các tổ chức liên quan đến bảo tồn thiên nhiên.

Để hiểu rõ hơn về cách thức đánh giá chất lượng nước sử dụng động vật không xương sống, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nông nghiệp nghiên cứu phương pháp quan trắc sinh học trong đánh giá chất lượng nước trên tuyến sông hậu sử dụng động vật không xương sống cỡ lớn. Nếu bạn quan tâm đến việc đánh giá tác động môi trường của các dự án công nghiệp, hãy xem thêm Luận văn thực hiện đánh giá tác động môi trường dự án cụm công nghiệp cây bòng xã la hiên huyện võ nhai tỉnh thái nguyên. Ngoài ra, để tìm hiểu về tác động của ô nhiễm đất đến môi trường, bạn có thể xem Luận văn đánh giá mức độ ô nhiễm đất do tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật tại xã đức chính thị xã đông triều tỉnh quảng ninh, nơi nghiên cứu về một loại ô nhiễm môi trường phổ biến khác.