MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của luận án Sau hơn 30 năm kể từ khi thực hiện Đổi Mới năm 1986, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể như tăng trưởng GDP nhanh, kinh tế vĩ mô ổn định, cải thiện đời sống nhân dân, xóa đói giảm nghèo,. Đóng góp không nhỏ vào những thành công đó là chính sách hội nhập vào nền kinh tế quốc tế, đặc biệt là sự kiện Việt Nam tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007. Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng hơn thông qua việc tham gia vào nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương, đa phương và khu vực.
Tính đến nay, Việt Nam đã ký kết tổng cộng 13 FTA và đang đàm phán 03 FTA khác. Trong số các FTA đó, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) được đánh giá là Hiệp định tham vọng nhất mà Việt Nam từng tham gia; đồng thời cũng là FTA có mức độ cam kết cao nhất mà EU từng ký kết với một quốc gia đang phát triển (Ủy ban châu Âu, 2018). EVFTA vì vậy được kỳ vọng có thể mang lại lợi ích kinh tế lớn cho cả hai bên, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại và đầu tư (Ủy ban châu Âu, 2018, MUTRAP, 2017, Baker và các cộng sự, 2014). EU hiện đang là đối tác kinh tế lớn và tiềm năng của Việt Nam.
Việc ký kết EVFTA vào ngày 30/06/2019 đánh dấu một sự kiện quan trọng, đưa quan hệ hợp tác song phương lên một giai đoạn phát triển mới, toàn diện và sâu sắc hơn; đồng thời đưa Việt Nam trở thành tâm điểm thu hút của các dòng vốn đầu tư toàn cầu. Kể từ khi chính thức kết thúc đàm phán năm 2015, Hiệp định này đã góp phần thúc đẩy làn sóng FDI thứ ba vào Việt Nam (sau hai làn sóng đầu tiên lần lượt được dẫn dắt bởi sự kiện gia nhập ASEAN và sự kiện gia nhập WTO). Với mức độ cam kết mở cửa cao nhất từ trước đến nay, EVFTA có thể giúp gia tăng FDI từ cả các đối tác EU và các đối tác ngoài EU nhằm tận dụng các ưu đãi mà EU dành riêng cho Việt Nam. Bên cạnh đó, là một FTA thế hệ mới với phạm vi cam kết rộng, vượt ra ngoài các cam kết về xóa bỏ 1 thuế quan, EVFTA không chỉ tác động tích cực đến số lượng FDI mà còn có thể giúp cải thiện chất lượng dòng vốn FDI vào Việt Nam thông qua các cải cách thể chế, chính sách và môi trường đầu tư.
Điều này có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang đưa ra những điều chỉnh quan trọng trong chiến lược thu hút FDI thế hệ mới, theo đó chủ động thu hút FDI có chọn lọc, ưu tiên các dự án có giá trị gia tăng cao, công nghệ tiên tiến, quản trị hiện đại, kết nối chuỗi cung ứng toàn cầu và có tác động lan tỏa, gắn kết chặt chẽ với khu vực kinh tế trong nước; đồng thời gia tăng thu hút đầu tư từ các đối tác châu Âu và Mỹ (Bộ Kế hoạch Đầu tư, Ngân hàng Thế giới, 2018). Tuy nhiên, lợi thế trong thu hút FDI của Việt Nam từ việc sớm ký kết FTA với EU chỉ có tính chất ngắn hạn khi các đối thủ cạnh tranh chính về đầu tư trong khu vực ASEAN chưa có FTA với EU. Trong bối cảnh EU và ASEAN hướng tới ký kết một FTA chung giữa hai khối và trước mắt EU đang tiếp tục đàm phán FTA song phương với Thái Lan, Malaysia, Philippines và Indonesia, Việt Nam cần khẩn trương tận dụng triệt để “khoảng thời gian vàng” khi các nước ASEAN khác chưa có FTA với EU để thu hút dòng vốn chất lượng cao trước khi lợi thế bị triệt tiêu. Ngoài ra, bên cạnh các tác động tích cực, EVFTA cũng có thể mang đến một số tác động tiêu cực cho Việt Nam như làm giảm FDI theo chiều ngang từ EU, lợi ích từ FTA rơi vào doanh nghiệp các nước thứ ba, gia tăng sức ép cạnh tranh, áp lực và chi phí liên quan đến cải cách thể chế, chính sách,.
Các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm cũng chỉ ra rằng tác động của FTA đến FDI vào các nước thành viên là không rõ ràng. Vì vậy, việc nghiên cứu về tác động của EVFTA đối với FDI vào Việt Nam đóng vai trò vô cùng quan trọng; giúp cung cấp thông tin hữu ích cho Chính phủ và doanh nghiệp để có thể tận dụng tối đa các cơ hội và vượt qua các thách thức mà Hiệp định mang lại. Cho đến nay, các nghiên cứu đánh giá tác động kinh tế của EVFTA đối với Việt Nam chủ yếu tập trung đánh giá tác động đến thương mại, phúc lợi xã hội và tác động trong một số ngành cụ thể. Mặc dù tác động của EVFTA đối với FDI là 2 một trong những tác động được mong đợi nhất, có rất ít các nghiên cứu sâu và toàn diện về vấn đề này.
Để lấp vào khoảng trống nghiên cứu đó, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Đánh giá tác động dự kiến của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam”. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 2. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu của luận án là đánh giá tác động dự kiến của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam; từ đó đưa ra một số gợi ý chính sách để Việt Nam chủ động thu hút FDI có chọn lọc trong bối cảnh hội nhập EVFTA. Câu hỏi nghiên cứu Các câu hỏi nghiên cứu mà Luận án tập trung trả lời cụ thể như sau: - EVFTA sẽ có tác động như thế nào đến dòng vốn FDI nói chung và FDI từ EU vào Việt Nam nói riêng? - FDI vào Việt Nam trong những ngành/ phân ngành nào sẽ chịu tác động nhiều nhất từ EVFTA? - Đâu là kênh tác động chính của EVFTA đến FDI vào Việt Nam? - EVFTA mang lại những cơ hội và thách thức gì đối với Việt Nam trong việc thu hút dòng vốn FDI? - Việt Nam cần phải làm gì để tận dụng các cơ hội và vượt qua các thách thức mà EVFTA mang lại trong việc thu hút dòng vốn FDI vào Việt Nam? 3.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là tác động dự kiến của EVFTA đối với FDI vào Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu Việc ký kết EVFTA có tác động đến nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế như thương mại, đầu tư, tài chính, việc làm, GDP, giá cả,… Trong khuôn khổ luận 3 án này, tác giả tập trung nghiên cứu tác động của EVFTA đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài, bao gồm cả FDI từ EU và ngoài EU vào Việt Nam. Luận án phân tích tình hình thu hút FDI của Việt Nam nói chung và FDI từ EU vào Việt Nam nói riêng trong giai đoạn 1991-2018.
Đây là khoảng thời gian mà FDI của Việt Nam có sự gia tăng đáng kể sau khi Luật Đầu tư năm 1987 được ban hành và các số liệu về FDI theo từng năm được thống kê cụ thể. Một số thông tin và số liệu được cập nhật tới năm 2019 tùy theo mức độ sẵn có của số liệu. Để phân tích các yếu tố nước chủ nhà tác động đến FDI từ EU vào các nước đang phát triển, luận án lựa chọn nghiên cứu 12 nước đang phát triển đã ký kết FTA với EU trong giai đoạn 1990 – 2017. Danh sách 12 nước này được trình bày cụ thể ở Phụ lục 7.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 4. Ý nghĩa khoa học Trước hết, luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận về FTA, đặc biệt làm rõ hơn một số vấn đề lý luận về tác động của FTA thế hệ mới đối với FDI vào các nước thành viên. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng khung phân tích tác động của FTA đối với FDI vào các nước thành viên bao gồm các kênh tác động; các yếu tố ảnh hưởng đến tác động và tác động tổng thể của FTA đến FDI. Các nghiên cứu lý thuyết về tác động của FTA đối với FDI trước đây mới chỉ phân tích các kênh tác động một cách tương đối rời rạc và chưa tính đến các tác động nhiều chiều của FTA thế hệ mới.
Các yếu tố ảnh hưởng đến tác động của FTA đến FDI cũng chưa được phân tích một cách toàn diện. Vì vậy, việc làm rõ cơ sở lý luận về tác động của các FTA thế hệ mới đối với FDI là một đóng góp mới, nhất là trong bối cảnh các quốc gia có xu hướng ký kết các FTA toàn diện thay vì các FTA chỉ tập trung vào việc cắt giảm thuế quan như trước đây. Khung phân tích tác động của FTA đối với FDI vào các nước thành viên có thể được sử dụng để phân tích tác động của một FTA bất kỳ đến FDI vào các nước tham gia FTA. 4 Ngoài ra, bên cạnh việc tham khảo các kết quả nghiên cứu trước đây về đánh giá tác động kinh tế của EVFTA sử dụng mô hình mô phỏng cân bằng tổng thể khả toán (CGE) hay điều tra khảo sát thì luận án này sử dụng một cách tiếp cận khác sử dụng mô hình kinh tế lượng để xem xét tác động của yếu tố cùng tham gia FTA tới quyết định đầu tư của các đối tác EU sang các nước đang phát triển.
Với cách tiếp cận này, luận án có thể đưa ra dự đoán đối với tác động của việc tham gia EVFTA đối với FDI từ EU vào Việt Nam. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu như vậy có thể được áp dụng với các nghiên cứu tương tự và đặc biệt là phù hợp với việc tập trung đánh giá tác động của FTA đối với FDI thay vì đánh giá tác động kinh tế của FTA ở các khía cạnh khác như trong mô hình CGE. Ý nghĩa thực tiễn Trong các nước ASEAN, cho tới nay mới chỉ có Việt Nam và Singapore đã ký kết FTA song phương với EU – một đối tác kinh tế được đánh giá là lớn về quy mô và tốt về chất lượng. Việc sớm ký kết FTA với EU mang lại lợi thế lớn cho Việt Nam so với các nước cạnh tranh trong khu vực trong thu hút dòng vốn FDI từ các nước EU.