MỞ ĐẦU Biến đổi khí hậu hiện đang là mối quan tâm chung của toàn cầ u. BĐKH đã ngày càng trở nên rõ nét và mối quan hệ tƣơng hỗ giữa BĐKH với ĐDSH, các HST đang là chủ đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học trong nƣớc cũng nhƣ quốc tế. Các nghiên cứu gần đây đã cho thấy, khi nhiệt độ trung bình năm tăng, dẫn đến nƣớc biển dâng, làm mất đi một vùng đất canh tác trù phú và cả các vƣờn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng ngập mặn có giá trị sinh thái cao, và dẫn đến sự tuyệt chủng của nhiều loài động, thực vật quý hiếm. Sự gia tăng khí nhà kính dẫn đến quá trình axit hóa nƣớc biển và đại dƣơng.
Kết quả này tác động một cách mạnh mẽ lên các HST dƣới nƣớc nhƣ các rạn san hô, thảm cỏ biển, các loài động vật thân mềm. Trong khi đó, các vùng ĐNN đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm nhẹ các tác động của BĐKH cũng nhƣ những hệ quả mà BĐKH có thể gây ra, cụ thể là khả năng tích lũy, hấp thụ cacbon cao của ĐNN nói chung và rừng ngập mặn nói riêng, hạn chế ngập lụt và làm giảm mức độ nguy hiểm của những đợt lũ lụt tàn khốc. ĐNN còn có vai trò cực kỳ quan trọng nhƣ là các bể chứa nƣớc ngọt ở các vùng khác nhau khi mà BĐKH gây ra hạn hán nghiêm trọng tại những vùng này. Ngoài ra, ĐNN ven biển còn có khả năng bảo vệ các HST và cộng đồng ven biển khỏi thiệt hại do các trận bão, sóng lớn và xói lở bờ biển gây ra bởi BĐKH.
Viê ̣t Nam cũng không nằ m ngoài vòng xoáy của biế n đổ i khí hâ ̣u , nghiêm trọng hơn Việt Nam lại là một trong năm quốc gia chịu ảnh hƣởng nhiều nhất của BĐKH toàn cầu. Trong điều kiện BĐKH, các HST ĐNN vốn nhạy cảm bởi sự tác động của tự nhiên và con ngƣời sẽ phản ứng kém hơn trƣớc với những sự thay đổi này và có thể sẽ không tránh khỏi sự suy giảm nhanh các loài sinh vật. BĐKH ngày càng trở nên rõ nét và không chỉ tác động không nhỏ đến cộng đồng mà còn tác động mạnh mẽ lên các HSTĐNN do sự thay đổi về nhiệt độ, lƣợng mƣa và đặc biệt là tần suất và cƣờng độ của những trận lũ và hạn hán. Tuy nhiên, nếu đƣợc quản lý tốt và có các biện pháp cải tạo kịp thời các vùng ĐNN thì chúng sẽ có vai trò vô cùng lớn trong việc giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH.
Với diện tích lớn (khoảng 10 triệu ha) gần bằ ng một phần ba diện tích đất liền, hê ̣ sinh thái đấ t ngâ ̣p nƣớc ở nƣớc ta đang ngày càng bi ̣đe do ̣a trƣớc ảnh 1 z hƣởng của biế n đổ i khí hâ ̣u. HSTĐNN ở Hà Nội mang tính chất điển hình của vùng đồng bằng sông Hồng. Cùng với quá trình phát triển của khoa học kỹ thuật , đấ t ngâ ̣p nƣớc đã mang la ̣i mô ̣t giá tri ̣kinh tế lớn cho con ngƣời. Tuy nhiên cùn g với quá trình đô thị hóa và sƣ́c ép tƣ̀ biế n đổ i khí hâ ̣u , ĐNN ở Hà Nội đang ngày càng bị suy giảm diện tích và suy thoái ở mức độ nghiêm trọng.
Cho đến nay, trên thế giới và ở Việt Nam chỉ có các nghiên cứu chung về BĐKH và ĐDSH, HST, rất ít phân tích trong các trƣờng hợp cụ thể, đặc biệt là tác động của BĐKH lên các HSTĐNN. Ngoài ra hiện nay trên phạm vi cả nƣớc, các Bộ, ngành và các địa phƣơng đang xây dựng và triển khai các kế hoạch hành động thực hiện Chƣơng trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu (phê duyệt năm 2008) và Chiến lƣợc Quốc gia về biến đổi khí hậu (phê duyệt năm 2011). Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn và triển khai đề tài “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến một số hệ sinh thái đất ngập nước ở Hà Nội và đề xuất biện pháp giảm thiểu” với mục tiêu: - Điều tra, thu thập số liệu thứ cấp và đánh giá mức độ ĐDSH của khu vực nghiên cứu. - Đánh giá tác động tiềm tàng của BĐKH đến khu vực nghiên cứu.
- Đề xuất biện pháp giảm thiểu và giải pháp thích ứng với BĐKH. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1. Khái niệm biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu, mà biểu hiện là sự nóng lên toàn cầu và nƣớc biển dâng đang là một trong những thách thức lớn đối với toàn nhân loại trong thế kỷ XXI.
BĐKH đã thực sự tác động đến mọi lĩnh vực, bao gồm tài nguyên thiên nhiên, môi trƣờng, kinh tế - xã hội và sức khỏe con ngƣời. Thiên tai, các hiện tƣợng thời tiết - khí hậu cực đoan nhƣ là hệ quả của BĐKH hiện đang hoành hành ngày càng nhiều và khốc liệt ở khắp mọi nơi trên thế giới. BĐKH tác động trực tiếp tới các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và đƣợc coi là thách thức lớn cho phát triển bền vững. Theo IPCC, biến đổi khí hậu là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể đƣợc nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, đƣợc duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn.
BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thƣờng xuyên của con ngƣời, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển [28]. Nguyên nhân gây biến đổi khí hậu BĐKH có thể do hai nguyên nhân: các quá trình tự nhiên và sự ảnh hƣởng của con ngƣời. Lịch sử tiến hóa của Trái đất cũng có nhiều lần BĐKH, nhƣng xảy ra từ từ trong một thời gian dài, các sinh vật trên Trái đất đều phải thích ứng và tiến hóa nhƣng hiện nay, BĐKH có nguyên nhân là do hoạt động của chúng ta (nhân tạo), nhất là sau năm 1850 (bắt đầu thời kỳ công nghiệp) và lại xảy ra nhanh, chỉ có hơn 1 thế kỷ mà nhiệt độ Trái đất tăng 1ºC và hàm lƣợng CO₂ tăng từ 350 ppm đến 500 ppm [26]. Sau cuộc tranh luận kéo dài hơn 30 năm, cho đến nay, các nhà khoa học đã có sự nhất trí cao và cho rằng trong những thập kỷ gần đây, những hoạt động phát triển kinh tế - xã hội với nhịp điệu ngày một cao trong nhiều lĩnh vực nhƣ năng lƣợng, công nghiệp, giao thông, nông - lâm nghiệp và sinh hoạt đã làm tăng nồng độ các khí gây hiệu ứng nhà kính (N2O, CH4, H2S và nhất là CO2) trong khí quyển, làm Trái đất nóng lên, làm biến đổi hệ thống khí hậu và 3 z ảnh hƣởng tới môi trƣờng toàn cầu [27].
Nhƣ vậy nguyên nhân chính làm BĐKH Trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính nhƣ sinh khối, rừng, các HST biển, ven bờ và đất liền khác. Nhằm hạn chế BĐKH, Nghị định thƣ Kyoto đã đƣợc đƣa ra nhằm hạn chế và ổn định sáu loại khí nhà kính chủ yếu bao gồm: CO₂, CH4, N₂O, HFCs, PFCs và SF6: • CO2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn khí nhà kính chủ yếu do con ngƣời gây ra trong khí quyển. CO 2 cũng sinh ra từ các hoạt động công nghiệp nhƣ sản xuất xi măng và cán thép. • CH4 sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than.
• N2O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp. • HFCs đƣợc sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và HFC-23 là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất HCFC-22. • PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm. • SF6 sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê.
* Các biểu hiện của biến đổi khí hậu Biểu hiện của BĐKH rất phức tạp, bao gồm các dấu hiệu chính sau: - Sự nóng lên của khí quyển và Trái đất nói chung. - Sự thay đổi thành phần và chất lƣợng khí quyển có hại cho môi trƣờng sống của con ngƣời và các sinh vật trên Trái đất. Các khí nhà kính tăng: CO 2, NOx, CH4, CFC…nhất là CO2. - Sự dâng cao mực nƣớc biển do băng tan, dẫn tới sự ngập úng ở các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển.
- Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của Trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các HST và hoạt động của con ngƣời. - Lƣợng mƣa tăng hoặc giảm, lũ lụt, hạn hán, bão tuyết, băng giá và cực đoan về thời tiết diễn ra thƣờng xuyên và bất thƣờng. - Xói mòn, trầm tích tăng, sử dụng đất đai và quan hệ của đất đai thay đổi. 4 z - Sự thay đổi năng suất sinh học của các HST, chất lƣợng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, địa quyển [26].
Ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu đến đa dạng sinh học và hệ sinh thái Ở phạm vi thế giới, dƣới sự chủ trì của Ban thƣ ký công ƣớc Đa dạng sinh học, nhiều Hội thảo khoa học thế giới đã thảo luận, phân tíchcác tác động của BĐKH đến ĐDSH và HST. Ở phạm vi trong nƣớc, dƣới sự chủ trì của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, các Viện và các Trung tâm nghiên cứu về Tài nguyên và Môi trƣờng, và đặc biệt là có sự tài trợ của các tổ chức quốc tế, nhiều Hội thảo khoa học cũng đã đƣợc tổ chức với chủ đề này. Có thể nêu các nhận định chính sau đây: - BĐKH sẽ gia tăng sức ép mạnh lên HST và ĐDSH nếu nhƣ các HST này bị các sức ép khác nhƣ: chia cắt các nơi ở, mất hoặc chuyển đổi nơi ở, khai thác quá mức, các loài ngoại lai xâm hại, ô nhiễm môi trƣờng… - BĐKH và nồng độ CO2 trong không khí đã đƣợc xác nhận rõ tác động của chúng lên các HST tự nhiên và các loài. Một số loài và HST đã chứng tỏ có một số khả năng thích nghi tự nhiên, nhƣng nhiều loài khác thì chứng tỏ chúng bị tác động âm tính.
- Tổ chức IPCC AR4 đã cho biết có khoảng 10% số các loài bị tuyệt chủng ở mức rủi ro cao, mỗi khi nhiệt độ trung bình trên Trái Đất tăng 1oC.