Đồ án Y tế: Đánh giá sự tiếp cận của người bệnh tham gia bhyt điều trị

Đánh giá sự tiếp cận của người bệnh tham gia bhyt điều trị ngoại trú tại ttyt huyện hớn quản và thị xã bình long trong v phục vụ n

Trường đại học

Trường Đại học Lạc Hồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ án tốt nghiệp thạc sĩ

2025

137
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của sự tiếp cận thuốc thiết yếu

Sự tiếp cận thuốc thiết yếu là một yếu tố quan trọng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe hiện đại. Đây không chỉ đơn thuần là đảm bảo tính sẵn có của thuốc tại các cơ sở y tế, mà còn liên quan đến khả năng người bệnh có thể sử dụng được thuốc một cách dễ dàng, giá cả phải chăng và có chất lượng đảm bảo. Trong bối cảnh Bảo hiểm y tế bắt buộc (BHYT) hiện nay, việc nâng cao sự tiếp cận thuốc thiết yếu trở thành ưu tiên hàng đầu để cải thiện hiệu quả chăm sóc sức khỏe và giảm gánh nặng kinh tế cho người dân. Theo các nghiên cứu quốc tế, khả năng tiếp cận thuốc có ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ hài lòng của người bệnh và kết quả điều trị.

1.1. Định nghĩa sự tiếp cận thuốc thiết yếu

Tiếp cận thuốc thiết yếu bao gồm bốn yếu tố cốt lõi: tính sẵn có, khả năng chi trả, thông tin chính xác và chất lượng thuốc. Tại TTYT huyện Hớn Quản và thị xã Bình Long, việc đánh giá sự tiếp cận thuốc của người bệnh tham gia BHYT điều trị ngoại trú là cơ sở để xác định tồn tại của khoảng cách giữa nhu cầu và cung cấp.

1.2. Vai trò trong cải thiện sức khỏe cộng đồng

Thuốc thiết yếu đóng vai trò then chốt trong việc điều trị các bệnh lý phổ biến. Khi người bệnh có khả năng tiếp cận đầy đủ thuốc, tỷ lệ tuân thủ điều trị cao hơn, dẫn đến cải thiện kết quả sức khỏe và giảm tái nhập viện. Nâng cao sự hài lòng của người bệnh thông qua đảm bảo tính sẵn có thuốc là mục tiêu quan trọng của các cơ sở y tế cơ sở.

II. Tình hình tiếp cận thuốc tại các trung tâm y tế

Kết quả nghiên cứu tại TTYT Bình Long và Hớn Quản cho thấy những khác biệt đáng kể trong khả năng tiếp cận thuốc thiết yếu. Tại TTYT thị xã Bình Long, tỷ lệ đơn thuốc được đáp ứng đầy đủ đạt 78%, trong khi TTYT Hớn Quản chỉ đạt 70%. Sự chênh lệch này phản ánh chất lượng quản lý dượcsự chuẩn bị tài chính khác nhau giữa hai cơ sở. Bên cạnh đó, mức độ tự chi trả của người bệnh cũng khác biệt: tại Bình Long là 30.000 VNĐ/lần khám, nhưng tại Hớn Quản lên đến 63.000 VNĐ/lần khám. Điều này cho thấy gánh nặng kinh tế khác nhau trong việc tiếp cận thuốc thiết yếu.

2.1. Tỷ lệ đáp ứng nhu cầu thuốc

TTYT Bình Longtỷ lệ đáp ứng nhu cầu thuốc cao hơn (78%) so với TTYT Hớn Quản (70%). Sự khác biệt này có thể do quản lý kho dược, hệ thống cung ứng thuốctình trạng tài chính của các cơ sở khác nhau. Để nâng cao sự tiếp cận thuốc, cần cải thiện quản lý dượcđảm bảo tính sẵn có liên tục tại cả hai địa điểm.

2.2. Gánh nặng chi trả của người bệnh

Chi phí tự trả phản ánh mức độ bảo vệ tài chính cho người bệnh. TTYT Hớn Quản với mức chi trả 63.000 VNĐ/lần khám cao gấp đôi TTYT Bình Long. Điều này ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận thuốc của người dân có thu nhập thấp, làm giảm tính công bằng trong chăm sóc sức khỏe. Cần có chính sách hỗ trợ để giảm gánh nặng kinh tế cho người bệnh.

III. Đánh giá mức độ hài lòng của người bệnh

Sự hài lòng của người bệnh là chỉ số quan trọng phản ánh chất lượng dịch vụ y tế. Nghiên cứu cho thấy mức độ hài lòng trung bình tại TTYT Bình Long (3,79 điểm) cao hơn so với TTYT Hớn Quản (3,56 điểm) trên thang đo từ 1-5. Sự khác biệt này liên quan mật thiết đến khả năng tiếp cận thuốc thiết yếuchất lượng dịch vụ. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng bao gồm phương diện hữu hình (cơ sở vật chất, trang thiết bị), sự đảm bảo (độ chính xác điều trị), sự tin cậy (chuyên môn của nhân viên) và sự đồng cảm (thái độ phục vụ). Nâng cao sự hài lòng của người bệnh yêu cầu cải thiện toàn diện các khía cạnh này.

3.1. So sánh mức độ hài lòng giữa hai cơ sở

TTYT Bình Long đạt mức độ hài lòng 3,79 điểm, cao hơn TTYT Hớn Quản 0,23 điểm. Sự chênh lệch này có thể do cơ sở vật chất tốt hơn, quản lý dược hiệu quả hơn và khả năng tiếp cận thuốc tốt hơn. Cải thiện sự hài lòng đòi hỏi đầu tư từng khía cạnhquản lý chất lượng liên tục.

3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng

Năm yếu tố chính tác động đến sự hài lòng của người bệnh: Khả năng tiếp cận, Sự đảm bảo, Sự tin cậy, Sự đồng cảmPhương diện hữu hình. Trong đó, phương diện hữu hình có tầm quan trọng lớn, bao gồm cơ sở vật chấttrang thiết bị y tế. Khả năng tiếp cận thuốc cũng là yếu tố then chốt ảnh hưởng đến mức độ hài lòng chung của người bệnh tham gia BHYT.

IV. Kiến nghị cải thiện sự tiếp cận thuốc thiết yếu

Để nâng cao sự tiếp cận thuốc thiết yếucải thiện sự hài lòng của người bệnh tại TTYT huyện Hớn Quản và thị xã Bình Long, cần thực hiện các biện pháp toàn diện. Trước hết, cần tăng cường quản lý dược bằng cách optimizing kho dược, cải thiện hệ thống cung ứngáp dụng công nghệ thông tin. Thứ hai, giảm gánh nặng chi trả cho người bệnh thông qua điều chỉnh danh mục thuốc BHYT, tăng tỷ lệ chi trả cho các thuốc thiết yếucấp phát voucher cho người có hoàn cảnh khó khăn. Thứ ba, cải thiện cơ sở vật chấtđào tạo nhân viên để nâng cao chất lượng dịch vụ. Cuối cùng, giám sát và đánh giá thường xuyên sự tiếp cận thuốc để điều chỉnh chiến lược phù hợp.

4.1. Cải thiện quản lý dược và cung ứng thuốc

Tối ưu hóa quản lý dược là chìa khóa để đảm bảo tính sẵn có thuốc thiết yếu. Cần áp dụng hệ thống quản lý kho hiện đại, dự báo nhu cầu thuốc chính xác và rà soát định kỳ danh mục thuốc thiết yếu. Tăng cường hợp tác giữa TTYT với nhà cung cấp thuốc để ổn định giá cảđảm bảo chất lượng. Đầu tư công nghệ thông tin giúp theo dõi tình trạng kho dượccảnh báo sớm khi thuốc sắp hết.

4.2. Giảm gánh nặng chi trả và chính sách hỗ trợ

Giảm chi phí tự trả của người bệnh cần điều chỉnh danh mục thuốc BHYT, tăng tỷ lệ thanh toán cho thuốc thiết yếu từ 70% lên 90%. Cần hỗ trợ tài chính cho người nghèo, cấp phát voucher thuốcgiảm giá khám chữa bệnh cho đối tượng bảo vệ xã hội. Chính sách này sẽ cải thiện sự tiếp cận thuốc, giảm gánh nặng kinh tếnâng cao sự hài lòng của người bệnh tham gia BHYT.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Nhân quyền và mục tiêu thiên niên kỷ trong việc tiếp cận thuốc 1.1 Nhân quyền trong chăm sóc sức khoẻ Năm 1948, đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua Nghị Quyết 217, công bố bản tuyên ngôn về Nhân Quyền trên toàn thế giới. Điều đầu tiên của bản tuyên ngôn đã nêu rằng tất cả mọi người khi sinh ra đều có quyền tự do và bình đẳng. (Đại hội đồng Liên hiệp quốc, 1948) Mỗi cá nhân điều có quyền tự do, nên mọi người đều được hưởng tất cả quyền lợi về kinh tế, văn hóa, xã hội, bao gồm cả quyền được chăm sóc sức khỏe. Nó thể hiện cụ thể tại điều hai mươi lăm của bản tuyên ngôn nhân quyền.

Theo đó bản tuyên ngôn nêu rằng “mọi người đều được quyền hưởng mức sống phù hợp với sức khỏe, được chăm sóc y tế, các dịch vụ xã hội khác bất kể người đó đang trong hoàn cảnh kinh tế ổn định hay ngoài tầm kiểm soát của họ”. Để đạt được mục tiêu này Liên Hiệp Quốc và các nước thành viên phải không ngừng cố gắng xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, y tế, kèm theo đó là sự tôn trọng và tuân thủ “Quyền Con Người”. Do đó tháng 4 năm 1948, sau nhiều hội nghị Liên Hiệp Quốc đã thành lập Tổ chức Y Tế Thế Giới Sau khi ra đời, WHO đưa ra Hiến Chương mà điều đầu tiên là đạt được mức độc chăm sóc sức khỏe cao nhất cho tất cả mọi người. (WHO, 1948) Từ đây Hiến Chương trở thành văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên qui định quyền được hưởng những tiêu chuẩn sức khỏe cao nhất một cách bình đẳng, không có sự phân biệt màu da, dân tộc, kinh tế, tôn giáo hay lãnh thổ.

Để thực hiện được quyền này WHO đã đối đầu với nhiều khó khăn, và tìm kiếm giải pháp thích hợp để đạt được hiệu quả một cách tối ưu nhất.2 Quyền được chăm sóc sức khoẻ gắn liền với quyền tiếp cận thuốc Góp phần giải quyết những khó khăn thách thức trong việc chăm sóc sức khỏe ban đầu của người dân, năm 1978 trong hội nghị quốc tế về chăm sóc sức khỏe ban đầu tại Kazakhstan tuyên bố Alma-A-Ta đã ra đời, với sự tham gia 143 quốc gia thành viên bỏ phiếu tán thành, thống nhất mục tiêu chăm sóc sức khỏe ban đầu (PHC) gồm 10 nội dung (WHO, 2000). 4 Trong đó đáng chú ý nhất là lời kêu gọi Chính phủ các nước, tất cả nhân viên y tế và người dân trên toàn thế giới hãy chung tay bảo vệ, thúc đẩy chăm sóc sức khỏe ban đầu cho con người, đạt một mức nhất định đến năm 2000. Dù vậy, để đạt được mục tiêu cần có sự quyết tâm và gắn kết từ hệ thống chính trị đến y tế của từng quốc gia, giữa các quốc gia và các vùng lãnh thổ cũng cần có sự phối hợp chặt chẽ. Trước chiều hướng phát triển của thế giới, tại phiên họp thứ hai mươi hai của Văn phòng cao ủy quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội (ICERS) năm 2000, một lần nữa tái khẳng định quyền được chăm sóc sức khỏe của con người trong bình luận chung số mười bốn (UN Economic and Social Council, 2000).

Trong đó đưa ra các hướng dẫn để các quốc gia thực hiện tùy theo khả năng kinh tế, năng lực từng nước. Trong khuôn khổ bình luận đã nêu bật các yếu tố mấu chốt có liên quan để đảm bảo quyền được chăm sóc sức khoẻ của người dân. Cụ thể; - Yếu tố đầu tiên nhắc đến là "Thuốc phải luôn sẵn có" đảm bảo sẵn sàng cung cấp khi người bệnh có nhu cầu sử dụng phòng điều trị bệnh. - Yếu tố thứ hai là "Phải dễ dàng tiếp cận với mọi người" mang tính tiếp cận từ mặt vật lý đến khả năng tiếp cận thông tin, bởi trong thời kỳ chuyển mình của công nghệ internet thì đây thật sự là một yếu tố mấu chốt để người bệnh có thể nâng cao khả năng tiếp cận được với thuốc.

- Yếu tố thứ ba "Giá cả phải ở mức hợp lý", ‘mức hợp lý’ ở đây là phù hợp với cả những nước phát triển và kém phát triển, là hợp lý giữa các cơ sở y tế thuộc chính phủ với các cơ sở tổ chức doanh nghiệp và phù hợp với khả năng kinh tế từng người bệnh. - Yếu tố cuối cùng là "Thuốc phải luôn đảm bảo mặt chất lượng". Chất lượng được hiểu là chất lượng-hiệu quả điều trị, thuốc được sản xuất trên dây chuyền tiêu chuẩn chất lượng chung của thế giới. Không dựa trên sự chênh lệch tiêu chuẩn phụ thuộc vào kinh tế.

Trên góc độ nhu cầu, người nghèo mặc dù có nhu cầu điều trị nhưng vẫn tiếp tục chịu đựng đau đớn của bệnh tật thậm chí chết vì những căn bệnh có thể phòng ngừa, bởi họ hầu như không có khả năng chi trả cho những dịch vụ chăm sóc sức khoẻ. 5 Trên góc độ cung cấp dịch vụ, cơ cấu thị trường lợi nhuận và phát triển kinh tế tư nhân thì nhóm những người nghèo bị bỏ qua, nếu không muốn nói đã bị lãng quên. Những doanh nghiệp dược phẩm, nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe được hình thành nên một chuỗi các yếu tố trung gian để kiếm lợi. Những nghiên cứu cho chăm sóc sức khỏe bị “biến dạng” và người bệnh nhận được là những “khu rừng trị liệu”.

Điều này rõ ràng đã mang lại gánh nặng cho các nước kém phát triển không chỉ rào cản cho mục đích tiếp cận thuốc mà còn rào cản cả về kinh tế, khiến người nghèo- và cả các nước kém phát triển bị tụt lại vì gánh nặng bệnh tật. Để tình trạng này không xảy ra thì chính phủ các tổ chức, chính phủ các nước cần đưa ra biện pháp để cải thiện, nâng cao khả năng tiếp cận thuốc của người dân.3 Mục tiêu thiên niên kỷ trong tiếp cận thuốc Có thể thấy, muốn đạt được mục tiêu, hiệu quả trong chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người dân thì yếu tố tiên quyết thứ nhất là thuốc phải luôn sẵn có và giá cả phải phù hợp. Đây là một thách thức lớn đối với nhiều quốc gia, tuy nhiên, với sự nỗ lực của các nước và việc áp dụng các khuyến nghị của ICERS, chính phủ các nước dần tìm ra giải pháp thiết thực hơn giúp nâng cao khả năng tiếp cận thuốc của người dân. Cụ thể, năm 2004 WHO đưa ra mục tiêu thiên niên kỷ cho việc tiếp cận thuốc trong hệ thống tiếp cận thuốc quốc gia bằng bốn khối mục tiêu chính (WHO, 2004): - Lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc thiết yếu quốc gia hợp lý cho mục đích điều trị: theo đó các quốc gia phải dựa trên mô hình bệnh tật, xây dựng danh mục thuốc thiết yếu, đưa ra những khuyến cáo, hướng dẫn điều trị phù hợp đảm bảo hiệu quả, an toàn và kinh tế.

- Giá cả phải chăng: chính phủ các nước đưa ra chính sách tạo sự cạnh tranh lành mạnh về giá thuốc, thực hiện đàm phán giá một cách công bằng cho các thuốc trong danh mục thuốc thiết yếu, xoá bỏ hoặc giảm thuế phí cho các thuốc thiết yếu, ưu tiên, khuyến khích sản xuất thuốc trong nước…từ đó làm giảm giá thuốc. - Tài chính bền vững: bằng cách tăng nguồn tài trợ công cho y tế, đặc biệt là cho các thuốc thiết yếu, tìm kiếm các nguồn tài trợ từ những tổ chức, trong và ngoài nước tạo nguồn vốn bảo trợ bền bỉ cho hệ thống y tế quốc gia. 6 - Hệ thống y tế đáng tin cậy: chính sách, quy định đảm bảo chất lượng thuốc, tạo điều kiện xuất nhập khẩu, trong việc mua bán, lưu hành thuốc, phát triển nền tảng y học cổ truyền… phát huy thế mạnh của từng quốc gia. Với 4 khối mục tiêu WHO đưa ra có thể thấy rằng, việc có thể thấy vấn đề thuốc phải luôn sẵn có là yếu tố tiên quyết, bên cạnh đó vấn đề giá cả cũng là yếu tố hết sức quan trọng trong việc giải quyết vấn đề đáp ứng nhu cầu khám, điều trị của người dân.

Nhưng để thực hiện được điều này cần có sự phối hợp giữa chính phủ doanh nghiệp và người dân để hình thành một hệ thống y tế mà ở đó thuốc luôn có sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu người bệnh.4 Danh mục thuốc thiết yếu là điều kiện đảm bảo tiếp cận thuốc của người dân Với mục đích nâng cao khả năng tiếp cận thuốc, các chuyên gia y tế của WHO và chính phủ các nước không ngừng đưa ra chính sách, giải pháp để khắc phục khó khăn. Năm 1976 cuộc tham vấn đầu tiên của các chuyên gia WHO đã tổng hợp danh mục các thuốc cơ bản lên đến 200 loại hoạt chất dựa theo danh sách nhu cầu sử dụng ở mỗi quốc gia (Mirza. Năm 1977 Danh mục thuốc thiết yếu đầu tiên của WHO đã được thông qua, với 208 loại dược chất (Mirza. Z, 1995), nhưng danh mục này đã bị chỉ trích vì một số chuyên gia y tế cho rằng WHO đang cố gắng hạn chế quyền kê đơn của các bác sĩ.

Tuy nhiên, tuyên bố AL-MA-A-TA như hồi chuông thứ hai cảnh báo sự bất bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe ban đầu (PHC) cho người dân. Bản tuyên bố đã một lần nữa khẳng định vai trò của thuốc thiết yếu trong PHC. Do đó, mặc dù có nhiều tranh cãi, phản đối cho bảng danh mục thuốc thiết yếu năm 1977, nhưng Hội đồng WHO vẫn tiếp tục kiến nghị, soạn thảo một danh sách riêng các loại thuốc thích hợp cho PHC. Trong báo cáo thứ 2 của Ủy ban chuyên gia WHO đã tiếp tục đưa ra một danh sách gồm 23 loại thuốc được lấy từ danh sách ban hành lần đầu, để làm mẫu cho PHC mỗi quốc gia.

Tuyên bố Alma-Ata là một cột mốc lịch sử quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe toàn cầu. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu PHC, cần tiếp tục nỗ lực và tìm kiếm những giải pháp sáng tạo. Theo đó năm 1988 WHO tiếp tục đưa ra hướng dẫn phát 7 triển chính sách thuốc quốc gia (NDP). Chính sách này được các nước tiếp nhận và phát triển rộng rãi theo khả năng và mô hình từng quốc gia.

Theo đánh giá của WHO (WHO, 2003) một phần ba dân số thế giới không có khả năng tiếp cận với thuốc thiết yếu. Do đó, kể từ lần ban hành danh mục thuốc thiết yếu đầu tiên năm 1977 với 205 loại thuốc đến hiện tại sau 23 lần cập nhật, danh mục thuốc thiết yếu đã có 502 loại thuốc cho người lớn và 361 thuốc cho trẻ em (WHO, 2024).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ