Tổng quan nghiên cứu

Tiếp cận thuốc thiết yếu là quyền cơ bản của con người trong hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu, đồng thời là tiêu chí cốt lõi phản ánh mức độ công bằng và hiệu quả quản lý y tế công cộng. Báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho thấy khoảng hai tỉ người trên toàn cầu đang gặp khó khăn trong việc tiếp cận danh mục thuốc thiết yếu, dẫn đến nhiều rủi ro về sức khỏe và kinh tế. Tại Việt Nam, mặc dù tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm Y tế (BHYT) toàn dân đã đạt mức ấn tượng 90,85%, song tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng và thiếu thuốc cục bộ sau đại dịch Covid-19 vẫn diễn ra ở nhiều cơ sở khám chữa bệnh công lập. Tại tỉnh Bình Phước, báo cáo của ngành y tế địa phương ghi nhận có thời điểm các bệnh viện chỉ đáp ứng được khoảng 60% nhu cầu thuốc và 30% vật tư y tế phục vụ khám BHYT.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Tổ chức Quản lý Dược của học viên Nguyễn Quân Bình (Trường Đại học Lạc Hồng, năm 2025) thực hiện đề tài "Đánh giá sự tiếp cận của người bệnh tham gia BHYT điều trị ngoại trú tại TTYT huyện Hớn Quản và thị xã Bình Long trong việc tiếp cận thuốc thiết yếu". Nghiên cứu hướng đến hai mục tiêu cụ thể: Thứ nhất, đánh giá thực trạng cung ứng và khả năng tiếp cận thuốc thiết yếu theo đơn ngoại trú BHYT; thứ hai, đo lường mức độ hài lòng cùng các nhân tố tác động đến trải nghiệm của người bệnh. Nghiên cứu được triển khai thực địa từ ngày 20/09/2024 đến 20/10/2024 trên tổng quy mô 768 người bệnh tại Trung tâm Y tế (TTYT) thị xã Bình Long (khu vực thành thị) và TTYT huyện Hớn Quản (khu vực nông thôn). Luận văn mang lại giá trị thực tiễn quan trọng, cung cấp bức tranh dữ liệu so sánh cụ thể, giúp các nhà quản trị bệnh viện và cơ quan bảo hiểm địa phương tối ưu hóa danh mục dự thầu, nâng cao chỉ số hài lòng của bệnh nhân và giảm gánh nặng tài chính tự chi trả.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng vững chắc của các cam kết quốc tế và lý thuyết quản trị chất lượng y tế hiện đại:

  • Tuyên bố Alma-Ata (1978) và Mục tiêu thiên niên kỷ của WHO (2004): Định hình 4 trụ cột tiếp cận thuốc thiết yếu quốc gia bao gồm: Lựa chọn danh mục hợp lý dựa trên mô hình bệnh tật; Giá cả phải chăng thông qua cơ chế đấu thầu minh bạch; Tài chính y tế bền vững nhờ quỹ BHYT; và Hệ thống cung ứng tin cậy bảo đảm chất lượng dược phẩm.
  • Khung chính sách Bao phủ Y tế Toàn dân (UHC): Hướng đến bảo đảm mọi người dân nhận được dịch vụ chăm sóc sức khỏe đầy đủ mà không gặp áp lực tài chính nghiêm trọng, bám sát các quy định tại Luật Bảo hiểm Y tế sửa đổi năm 2014 và Thông tư 28/2024/TT-BYT cập nhật 493 hoạt chất tân dược cùng 242 thuốc dược liệu.
  • Mô hình chất lượng dịch vụ SERVQUAL (Parasuraman, 1988): Bộ khung đo lường 5 khía cạnh chất lượng dịch vụ cấp phát thuốc ngoại trú, gồm: Khả năng tiếp cận (tính sẵn có của thuốc và chi phí hợp lý), Sự tin cậy (độ chính xác khi cấp phát và nhãn mác rõ ràng), Sự đảm bảo (năng lực chuyên môn của dược sĩ và thời gian chờ), Sự đồng cảm (thái độ giao tiếp, tôn trọng quyền riêng tư) và Phương diện hữu hình (cơ sở vật chất, quầy phát thuốc, trang thiết bị hỗ trợ).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp giữa phân tích hồi cứu đơn thuốc và khảo sát phỏng vấn trực tiếp người bệnh:

  • Quy mô và cách chọn mẫu: Cỡ mẫu được tính toán theo công thức ước lượng tỷ lệ quần thể vô hạn với độ tin cậy 95% (Z = 1,96) và sai số cho phép 5% (e = 0,05), xác định tối thiểu 384 mẫu cho mỗi trung tâm. Tác giả đã tiến hành thu thập mẫu ngẫu nhiên từ 20 đến 40 lượt mỗi ngày trong khung thời gian từ 20/09/2024 đến 20/10/2024, đạt tổng cộng 768 người bệnh và đơn thuốc hoàn chỉnh tại 2 cơ sở.
  • Tiêu chuẩn chọn mẫu: Bệnh nhân từ đủ 18 tuổi trở lên, khám điều trị ngoại trú có thẻ BHYT, tự nhận thuốc tại quầy dược và tự nguyện tham gia trả lời phiếu khảo sát.
  • Công cụ và xử lý số liệu: Thang đo Likert 5 mức độ được chuẩn hóa qua thử nghiệm sơ bộ 30 mẫu với hệ số Cronbach’s Alpha đều đạt trên 0,60 và tương quan biến - tổng trên 0,30. Số liệu được mã hóa, làm sạch bằng phần mềm chuyên dụng. Tác giả sử dụng các kiểm định phi tham số Kolmogorov-Smirnov, Shapiro-Wilk và Mann-Whitney U vì dữ liệu không tuân theo phân phối chuẩn, kết hợp phân tích tương quan Spearman và mô hình hồi quy đa tuyến tính để tìm ra các biến số ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa trên 768 đơn thuốc và người bệnh tại hai TTYT đã ghi nhận nhiều chỉ số định lượng phản ánh rõ sự khác biệt giữa hai khu vực:

  • Tỷ lệ đáp ứng thuốc BHYT: Tại TTYT thị xã Bình Long, 78% đơn thuốc (299 đơn) được đáp ứng đầy đủ, trong khi 22% (85 đơn) có chỉ định bệnh nhân phải tự mua thêm bên ngoài. Tại TTYT huyện Hớn Quản, tỷ lệ đáp ứng thuốc chỉ đạt 70% (267 đơn), đồng nghĩa 30% (117 đơn) người bệnh phải mua thêm thuốc tự túc.
  • Gánh nặng chi phí tự chi trả: Người bệnh tại Hớn Quản phải tự chi trả trung bình khoảng 63.000 VNĐ/lần khám, cao hơn gấp 2,1 lần so với mức chi trả trung bình 30.000 VNĐ/lần khám của người bệnh tại Bình Long.
  • Cơ cấu thuốc phải mua thêm: Tại TTYT Bình Long, thuốc thiếu tập trung vào nhóm điều trị dạ dày chiếm 22% (24 trường hợp), bệnh lý mắt chiếm 21% (23 trường hợp), kháng viêm/giảm đau chiếm 20% (22 trường hợp) và kháng sinh chiếm 16% (17 trường hợp); trong đó 76% là thuốc chủ trị và 62% phục vụ bệnh cấp tính. Ngược lại, tại TTYT Hớn Quản, thuốc thiếu chủ yếu là kháng viêm/giảm đau chiếm tới 48% (63 trường hợp), đái tháo đường chiếm 18% (22 trường hợp), tăng huyết áp chiếm 12% (16 trường hợp); với 55% thuộc nhóm hỗ trợ điều trị và 62% cho bệnh cấp tính.
  • Mức độ hài lòng của người bệnh: Điểm hài lòng chung tại TTYT Bình Long đạt 3,79/5 điểm, cao hơn mức 3,56/5 điểm tại TTYT Hớn Quản. Trọng số tác động có sự khác biệt rõ rệt: Khía cạnh "Phương diện hữu hình" có hệ số ảnh hưởng mạnh nhất đến sự hài lòng tại Bình Long, trong khi "Sự tin cậy" vào trình độ chuyên môn và tính chính xác của nhân viên y tế lại chiếm ưu thế tác động tại Hớn Quản.
+-------------------------------------------------------------------------+
|                    SO SÁNH CÁC CHỈ SỐ CHÍNH GIỮA 2 TTYT                 |
+--------------------------+---------------------+------------------------+
| Tiêu chí                 | TTYT TX Bình Long   | TTYT Huyện Hớn Quản    |
+--------------------------+---------------------+------------------------+
| Tỷ lệ đáp ứng đơn BHYT   | 78% (299/384 đơn)   | 70% (267/384 đơn)      |
| Tỷ lệ đơn phải mua thêm  | 22% (85/384 đơn)    | 30% (117/384 đơn)      |
| Chi phí tự chi trả TB    | 30.000 VNĐ/lượt     | 63.000 VNĐ/lượt        |
| Điểm hài lòng chung      | 3,79 / 5,00 điểm    | 3,56 / 5,00 điểm       |
| Yếu tố ảnh hưởng lớn     | Phương diện hữu hình| Sự tin cậy chuyên môn  |
+--------------------------+---------------------+------------------------+

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch về tỷ lệ đáp ứng thuốc (78% so với 70%) và mức chi phí tự chi trả phản ánh đặc thù kinh tế - xã hội giữa trung tâm đô thị và địa bàn nông thôn. Tại TTYT Bình Long, điều kiện kho bãi, quy mô điều trị lớn hơn (trên 200 giường) và quy trình thầu tập trung tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc dự trữ đa dạng các nhóm thuốc chuyên khoa. Ngược lại, tại TTYT Hớn Quản (quy mô 100 giường), nhóm đối tượng khảo sát có tới 54,4% làm nghề nông và 50,3% trên 60 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh mạn tính cao (48,7%), khiến việc thiếu hụt cục bộ các thuốc điều trị phối hợp huyết áp, tiểu đường và giảm đau cơ xương khớp tạo áp lực tài chính trực tiếp lên người dân.

Dữ liệu so sánh với các công trình nghiên cứu của các tác giả trước đây tại các bệnh viện công lập cho thấy điểm tương đồng: người bệnh ngoại trú luôn đánh giá cao thái độ phục vụ và năng lực dược sĩ. Đáng chú ý, phân tích hồi quy trong luận văn chỉ ra rằng biến số "Khả năng tiếp cận thuốc" chưa có mối tương quan tác động trực tiếp mang tính quyết định tới sự hài lòng chung. Điều này được lý giải do tâm lý người bệnh tại tuyến huyện thường có kỳ vọng linh hoạt, sẵn sàng chấp nhận tự mua thêm các thuốc hỗ trợ hoặc biệt dược thay thế nếu được nhân viên y tế giải thích cặn kẽ, minh bạch với thái độ đồng cảm.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để tình trạng thiếu thuốc cục bộ và nâng cao chất lượng dịch vụ dược ngoại trú, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  • Tối ưu hóa công tác lập kế hoạch đấu thầu và dự trù danh mục thuốc BHYT: Ban Giám đốc cùng Hội đồng Thuốc và Điều trị tại 2 TTYT cần ứng dụng mô hình phân tích ABC/VEN, bám sát cơ cấu bệnh tật thực tế (đặc biệt là 48,7% bệnh mạn tính tại Hớn Quản và nhóm bệnh tiêu hóa, mắt tại Bình Long). Mục tiêu nâng tỷ lệ đáp ứng đủ đơn thuốc BHYT lên trên 85% trong chu kỳ đấu thầu 2025-2026.
  • Nâng cấp hạ tầng cơ sở vật chất và tiện ích khu vực cấp phát thuốc: Đầu tư cải tạo không gian chờ tại quầy phát thuốc ngoại trú, lắp đặt hệ thống bốc số tự động, màn hình LCD hiển thị tên và loa gọi số điện tử. Ban lãnh đạo TTYT Bình Long cần ưu tiên triển khai ngay trong quý 2 năm 2025 nhằm tăng chỉ số "Phương diện hữu hình" lên mức trên 4,20 điểm.
  • Chuẩn hóa quy trình thao tác chuẩn (SOP) và đào tạo kỹ năng giao tiếp: Khoa Dược cần rà soát lại quy trình cấp phát 5 bước, tăng cường khâu kiểm tra đối chiếu đơn và dán nhãn hướng dẫn sử dụng rõ ràng. Tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng tư vấn, lắng nghe cho 100% dược sĩ trực quầy vào đầu năm 2025 để củng cố "Sự tin cậy" tại TTYT Hớn Quản.
  • Thiết lập kênh giám sát chi phí đồng chi trả và công khai giá thuốc: Phòng Kế hoạch Nghiệp vụ phối hợp bộ phận Giám định BHYT niêm yết công khai bảng giá thuốc, kiểm soát chặt chẽ tình trạng chỉ định mua ngoài, phấn đấu giảm chi phí tự chi trả bình quân của bệnh nhân ngoại trú xuống dưới mức 25.000 VNĐ/lần khám trước cuối năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang tính ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng:

  • Ban Giám đốc và Trưởng khoa Dược các Trung tâm Y tế tuyến quận, huyện: Sử dụng phương pháp khảo sát và bộ chỉ số định lượng trong luận văn làm tài liệu chuẩn mực để tự đánh giá năng lực cấp phát thuốc và nâng cao điểm quản lý chất lượng bệnh viện.
  • Dược sĩ lâm sàng và nhân viên quầy phát thuốc BHYT: Tham khảo quy trình tư vấn thực tế, kỹ thuật kiểm soát đơn thuốc và phương pháp giao tiếp nhằm giảm thiểu sai sót, gia tăng sự gắn kết với người bệnh.
  • Cơ quan Bảo hiểm Xã hội và Sở Y tế địa phương: Có thêm cơ sở dữ liệu thực nghiệm về tỷ lệ thiếu thuốc và gánh nặng chi phí tiền túi của người dân, từ đó điều chỉnh chính sách phân bổ ngân sách quỹ khám chữa bệnh BHYT hợp lý giữa khu vực đô thị và nông thôn.
  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Dược học/Quản lý Y tế: Sử dụng luận văn như một tài liệu tham khảo điển hình về phương pháp luận kết hợp mô hình SERVQUAL, kỹ thuật phân tích biến số phi tham số và thiết kế bảng hỏi chuẩn hóa trong nghiên cứu dược cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

Khả năng tiếp cận thuốc BHYT giữa TTYT Bình Long và TTYT Hớn Quản khác nhau như thế nào? Tại TTYT Bình Long (đô thị), tỷ lệ đơn thuốc đáp ứng đủ nhu cầu đạt 78%, cao hơn đáng kể so với mức 70% tại TTYT Hớn Quản (nông thôn). Sự khác biệt này bắt nguồn từ quy mô giường bệnh, năng lực dự trữ kho dược và điều kiện hạ tầng cung ứng giữa hai địa bàn.

Mức chi phí tự chi trả của người bệnh ngoại trú tại hai cơ sở y tế là bao nhiêu? Người bệnh tham gia BHYT tại TTYT Hớn Quản phải tự bỏ tiền túi mua thuốc ngoài trung bình khoảng 63.000 VNĐ cho mỗi lần khám, cao hơn gấp đôi so với mức tự chi trả trung bình 30.000 VNĐ của người bệnh tại TTYT Bình Long.

Yếu tố nào có tác động mạnh nhất đến sự hài lòng của người bệnh tại từng trung tâm? Phân tích hồi quy cho thấy tại TTYT Bình Long, yếu tố "Phương diện hữu hình" (không gian phòng chờ, quầy thuốc sạch sẽ, thiết bị hiện đại) tác động lớn nhất; trong khi tại TTYT Hớn Quản, "Sự tin cậy" vào tay nghề chuyên môn và sự chính xác của dược sĩ là yếu tố quyết định.

Những nhóm thuốc nào thường xuyên bị thiếu và người bệnh phải tự mua ngoài nhiều nhất? Tại Bình Long, thuốc thiếu chủ yếu thuộc nhóm bệnh lý dạ dày (22%), chuyên khoa mắt (21%) và kháng viêm/giảm đau (20%). Tại Hớn Quản, thuốc thiếu tập trung cao nhất ở nhóm kháng viêm/giảm đau (48%), đái tháo đường (18%) và tăng huyết áp (12%).

Vì sao nghiên cứu ghi nhận khả năng tiếp cận thuốc chưa tác động trực tiếp đến sự hài lòng chung? Người bệnh ngoại trú tuyến huyện có tâm lý thông cảm với tình trạng khan hiếm thuốc chung sau dịch bệnh. Nếu nhân viên y tế phục vụ nhiệt tình, hướng dẫn dùng thuốc chi tiết và giải thích minh bạch, mức độ hài lòng tổng thể của họ đối với cơ sở y tế vẫn duy trì ở mức tích cực.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng tiếp cận thuốc thiết yếu trên 768 người bệnh BHYT ngoại trú tại 2 trung tâm y tế đặc trưng cho khu vực đô thị và nông thôn của tỉnh Bình Phước.
  • Tỷ lệ đáp ứng đủ đơn thuốc BHYT đạt mức khá, dao động từ 70% (Hớn Quản) đến 78% (Bình Long), nhưng vẫn còn từ 22% đến 30% bệnh nhân phải tự chi trả thêm tiền túi từ 30.000 đến 63.000 VNĐ mỗi lượt khám.
  • Điểm hài lòng chung đạt mức tích cực từ 3,56 đến 3,79 điểm, chịu tác động chi phối chính bởi "Phương diện hữu hình" tại khu vực thành thị và "Sự tin cậy chuyên môn" tại khu vực nông thôn.
  • Đóng góp cốt lõi của đề tài là cung cấp hệ thống bằng chứng thực nghiệm giá trị, giúp ngành y tế địa phương điều chỉnh danh mục mời thầu thuốc giai đoạn 2025-2026 sát với cơ cấu bệnh mạn tính.
  • Các cơ sở y tế tuyến huyện cần sớm triển khai số hóa quy trình cấp phát thuốc và nâng cấp cơ sở vật chất phòng chờ ngay trong năm 2025 để nâng cao toàn diện chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân.