Chương 1 đã trình bày các nội dung tổng quát của đề tài như tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu mà đề tài áp dụng trong đề tài, ý nghĩa của đề tài cũng như bố cục của Luận văn. Trong chương 2, nghiên cứu sẽ trình bày các nội dung liên quan đến cơ sở lý luận liên quan đến mục tiêu nghiên cứu và đưa ra mô hình nghiên cứu lý thuyết cho đề tài. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết về Tín dụng ngân hàng và vay tiêu dùng 2.1 Tín dụng ngân hàng Tín dụng là một phạm trù kinh tế gắn liền với nền kinh tế hàng hoá, sự ra đời và vận động của tín dụng được bắt nguồn từ đặc điểm của sự chu chuyển vốn tiền tệ và sự cần thiết sinh lợi của vốn tạm thời nhàn rỗi cũng như nhu cầu về vốn nhưng chưa tích luỹ được, trong cùng một thời điểm đã hình thành một quan hệ cung cầu về tiền tệ giữa một bên là người thiếu vốn (đi vay) và một bên là người thừa vốn (cho vay). Căn cứ theo khoản 01 điều 03 quy chế cho vay của Tổ chưc tín dụng (TCTD) đối với khách hàng (ban hành kèm theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc NHNN) thì “cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả vốn lẫn lãi”.
Tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa Ngân hàng (TCTD) với bên đi vay (là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó Ngân hàng (TCTD) chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho Ngân hàng (TCTD) khi đến hạn thanh toán. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế: Tín dụng ngân hàng là cầu nối giữa cung và cầu về vốn trong nền kinh tế. Trong nền kinh tế thường xuyên có một số các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh có một bộ phận vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi được tách ra khỏi quá trình tái sản xuất của các doanh nghiệp như: tiền khấu hao tài sản cố định để tái tạo lại tài sản cố định nhưng chưa mua vì có sự chênh lệch về thời gian giữa việc bán sản phẩm và việc mua nguyên vật liệu; tiền trả lương cho người lao động nhưng chưa đến hạn trả; khoản tiền tích luỹ để tái sản xuất mở rộng nhưng chưa đủ điều kiện để đầu tư. Các khoản tiền tệ trên đây luôn được các doanh nghiệp tìm cách đầu tư kiếm lời.
Ngoài ra còn có các khoản tiền để dành của dân cư, khi 7 chưa có nhu cầu sử dụng, họ cũng muốn đầu tư để kiếm lời. Tất cả tạo thành nguồn vốn tiềm tàng trong nền kinh tế. Trong khi đó có một số doanh nghiệp, cá nhân thiếu vốn để phục vụ cho nhu cầu kinh doanh của mình; một số cá nhân trong xã hội cần vốn để cải thiện sinh hoạt hoặc đối phó với những rủi ro trong cuộc sống; Ngân sách Nhà nước bị thâm hụt, Nhà nước cần vốn để bù đắp sự thâm hụt đó đảm bảo cân đối thu chi cho nền kinh tế; Tín dụng ngân hàng góp phần tạo sự ổn định về mặt xã hội: Tín dụng cá nhân góp phần khai thác triệt để các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội rồi lưu thông các nguồn vốn này một cách trôi chảy và hiệu quả, từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao. Tín dụng cá nhân giúp kích cầu trong nền kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, thúc đẩy sản xuất trong nước.
Do đó thu hút được nhiều lực lượng lao động tham gia xây dựng, sản xuất tạo công ăn việc làm, hướng đến các mục tiêu xã hội như xóa đói, giảm nghèo, tăng thu nhập, giảm tệ nạn xã hội góp phần ổn định trật tự xã hội; Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện để phát triển kinh tế với các nước: Mỗi một quốc gia muốn phát triển nền kinh tế của mình thì không thể chỉ dựa vào tiềm năng của đất nước mà còn phải mở rộng quan hệ kinh tế ra bên ngoài, tham gia vào nền kinh tế thế giới, bởi lẽ không có một nước nào lại có thể hội tụ đầy đủ các tiềm năng để phát triển kinh tế mọi mặt, mà các nước đều chỉ có lợi thế so sánh của mình, do đó nó thường phát sinh quan hệ vay mượn lẫn nhau mà chủ yếu là vốn đầu tư. Vì vậy, tín dụng ngân hàng đã trở thành một trong những phương tiện nối liền kinh tế các nước với nhau. Thông qua các hình thức như nhận uỷ thác đầu tư, mở và thanh toán thư tín dụng, bảo lãnh hàng hoá xuất nhập khẩu, chuyển tiền nhanh đi các nơi.tín dụng ngân hàng đã trực tiếp tham gia trong quan hệ thanh toán quốc tế, các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, tài trợ cho các hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu, đầu tư chiều sâu, đôi rmới công nghệ và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất trong nước thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển nhằm phục vụ tốt cho hoạt động xuất nhập khẩu góp phần tăng trưởng kinh tế và mở ra sự giao lưu giữa nước ta với các nước khác trên thế giới. Ngoài ra với việc tín dụng ngân hàng nhận các nguồn tài trợ như ODA, ESAF.từ các nước cấp tín dụng cũng như các 8 tổ chức tín dụng quốc tế với mục đích tài trợ cho nền kinh tế đã mang lại những kết quả to lớn về kinh tế xã hội đồng thời tăng cường mối quan hệ tốt đẹp giữa nước ta với các nước trên thế giới.2 Vay tiêu dùng Căn cứ vào Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi, bổ sung năm 2017: Cho vay tiêu dùng có thể được hiểu là một trong các hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng, trong đó các khoản vay được cấp cho cá nhân, hộ gia đình bởi ngân hàng hoặc các công ty tài chính để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của khách hàng.
Tùy vào từng đối tượng khách hàng, mục đích vay, mức cho vay hay thời hạn cho vay,… mà tổ chức tín dụng có thể cho vay tiêu dùng có hoặc không có tài sản bảo đảm. Hiện nay, cho vay tiêu dùng thường được khách hàng cá nhân, hộ gia đình sử dụng để tài trợ cho các chi phí như mua nhà, mua xe, giáo dục, y tế, du lịch… Đặc điểm của cho vay tiêu dùng: Thứ nhất, qui mô của từng hợp đồng vay thường nhỏ dẫn đến chi phí tổ chức cho vay cao. Dù giá trị khoản vay là lớn hay nhỏ thì nhân viên ngân hàng vẫn phải thực hiện đầy đủ các bước trong qui trình tín dụng, dẫn tới chi phí quản lí món vay này tương đương với chi phí cho doanh nghiệp vay một món lớn để sản xuất kinh doanh; Thứ hai, cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kì. Nó tăng lên trong thời kì nền kinh tế mở rộng, khi mà mọi người dân cảm thấy lạc quan về tương lai.
Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào sui thoái, rất nhiều cá nhân và hộ gia đình cảm thấy không tin tưởng sẽ hạn chế vay mượn từ ngân hàng; Thứ ba, nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng hầu như ít co dãn với lãi suất. Người tiêu dùng quan tâm đến khoản tiền họ phải trả hàng tháng hơn là lãi suất. Mức thu nhập và trình độ dân trí tác động rất lớn đến việc sử dụng các khoản tiền vay của người tiêu dùng; Thứ tư, nguồn trả nợ có thể biến động lớn. Chênh lệch giữa lương, thưởng thu nhập với chi phí sinh hoạt của cá nhân, hộ gia đình chính là nguồn để hoàn trả gốc và lãi cho ngân hàng.
Các yếu tố này lại dễ dàng bị ảnh hưởng khi có sự thay đổi về các điều kiện khách quan và chủ quan: Điều 9 kiện kinh tế, xã hội, tiến bộ khoa học kĩ thuật, sức khỏe…; Thứ năm, tư cách của khách hàng là yếu tố khó xác định. Xác định tư cách khách hàng là quan trọng quyết định thiện chí trả nợ của khách hàng. Tuy nhiên, việc thu thập thông tin của nhóm khách hàng này khó đầy đủ và chính xác, dẫn tới ngân hàng đưa ra quyết định sai lầm, rủi ro tín dụng là điều khó tránh khỏi. Các dịch vụ cho vay tiêu dùng hiện nay gồm có cho vay thế chấp và cho vay tín chấp, cùng là dịch vụ cho vay tiêu dùng nhưng 2 loại hình này có những sự khác biệt nhất định: Cho vay thế chấp là hình thức cho vay tiêu dùng yêu cầu tài sản đảm bảo (tài sản thế chấp).
Theo đó, để được ngân hàng cấp vốn vay thế chấp, người đi vay phải thế chấp các tài sản có giá như bất động sản (nhà, đất,…) hoặc động sản (xe cộ và các tài sản có giá khác). Sở dĩ ngân hàng yêu cầu tài sản thế chấp vì khoản vay nào cũng tiềm ẩn những rủi ro nhất định, tài sản đảm bảo là điều kiện bắt buộc để ngân hàng thu hồi vốn trong trường hợp xảy ra rủi ro. Tài sản đảm bảo này vẫn hoàn toàn là của khách hàng và không hề bị ảnh hưởng gì trong quá trình vay vốn, khách hàng vẫn có thể sử dụng bình thường. Các tài sản thế chấp chỉ bị thu hồi trong trường hợp khách hàng mất khả năng trả nợ; Cho vay tiêu dùng tín chấp là hoạt động cho vay không yêu cầu tài sản đảm bảo, vốn vay tín chấp được cấp gần như dựa hoàn toàn vào uy tín của người đi vay.
Tất nhiên, uy tín khi đi vay vốn tín chấp phải được chứng minh bằng một số thông tin cụ thể ví dụ thu nhập, các hóa đơn, hợp đồng có giá trị liên quan đến người đi vay. Lợi ích của cho vay tiêu dùng: Đối với ngân hàng: Mở rộng mối quan hệ với khách hàng; Góp phần đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, phân tán rủi ro. Đối với khách hàng: Được hưởng các tiện ích trước khi tích lũi đủ tiền, cần thiết cho những nhu cầu cấp bách.