CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DỊCH VỤ ĐĂNG KÝ KINH DOANH 1. Lý luận cơ bản về sự hài lòng của doanh nghiệp về dịch vụ Đăng ký kinh doanh 1. Tổng quan về Đăng ký kinh doanh 1. Lý luận về đăng ký kinh doanh Một trong những thủ tục hành chính do các cơ quan quản lý hành chính nhà nước thực hiện hiện nay đang được quan tâm xem xét, đánh giá, có tác động mạnh đến việc cải thiện môi trường kinh doanh ở Việt Nam đó là thủ tục đăng ký kinh doanh.
Đây là thủ tục đầu tiên trong quá trình gia nhập thị trường của bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào. Để xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trước hết Nhà nước cần khuyến khích mọi chủ thể trong xã hội phát huy mọi tiềm năng của mình, mở rộng hoạt động kinh doanh, không ngừng tìm tòi và sáng tạo để sản xuất ra những sản phẩm hàng hoá, dịch vụ mới đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Trong Hiến pháp và luật của hầu hết các quốc gia, quyền tự do kinh doanh với tư cách là một trong những quyền cơ bản của công dân đều được đề cao và tôn trọng. Điều 33 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng đã quy định “Mọi người đều có quyền tự do kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm”.
[4] Tự do kinh doanh cũng như quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp và mưu cầu hạnh phúc là những quyền công dân rất cơ bản được đảm bảo trong nền kinh tế thị trường phát triển. Tự do kinh doanh được hiểu là bất kỳ một công dân, tổ chức nào khi đã có đủ điều kiện do pháp luật quy định, nếu có nhu cầu đều có quyền tiến hành hoạt động kinh doanh. Không một cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào có quyền ngăn cản hoặc hạn chế quyền tự do kinh doanh của họ. Quyền tự do kinh doanh trước hết là quyền lựa chọn ngành nghề kinh doanh, quy mô, địa điểm kinh doanh, quyền tuyển chọn và thuê mướn lao động, quyền tổ chức và quản lý hoạt động kinh doanh.
Tuy nhiên, để đảm bảo tính hợp pháp cho hoạt động kinh doanh của mình, tránh sự can thiệp trái pháp luật của các tổ chức, cá nhân khác cũng như đảm bảo cho lợi ích của Nhà nước, 9 lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác không bị xâm phạm, trước khi chính thức tham gia các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và các quan hệ pháp luật khác trên thương trường, những chủ thể kinh doanh này cần phải đăng ký hoạt động kinh doanh của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do đó có thể khẳng định rằng, đăng ký kinh doanh cũng là một trong những công cụ giúp cho việc thực hiện quyền tự do kinh doanh của công dân. Đăng ký kinh doanh là việc Nhà nước ghi nhận về mặt pháp lý sự ra đời của một chủ thể kinh doanh. Kể từ thời điểm được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, chủ thể kinh doanh có đầy đủ năng lực pháp luật (hay tư cách chủ thể) để tiến hành hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Nhà nước cung cấp những bảo đảm đầy đủ về mặt chính trị - pháp lý để chủ thể kinh doanh có điều kiện thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Đăng ký kinh doanh được coi là một thủ tục hành chính – tư pháp bắt buộc, theo đó chủ thể kinh doanh đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và công khai hoá trước giới thương nhân về sự ra đời cũng như hoạt động kinh doanh của mình. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền về đăng ký kinh doanh có nghĩa vụ xem xét các điều kiện và cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho chủ thể kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật. Trong suốt quá trình tiến hành hoạt động kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh được coi là một bằng chứng pháp lý ghi nhận tư cách chủ thể, tính hợp pháp của hoạt động kinh doanh và khẳng định sự bảo hộ của Nhà nước đối với chủ thể kinh doanh.
Đặc điểm của đăng ký kinh doanh. Hành vi đăng ký kinh doanh làm phát sinh mối quan hệ pháp lý giữa một bên là chủ thể kinh doanh và bên kia là cơ quan nhà nước có thẩm quyền xung quanh việc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là một chứng thư pháp lý (hay một văn bản mang tính pháp lý) do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho chủ thể kinh doanh theo trình tự, thủ tục luật định để ghi nhận sự tồn tại về mặt pháp lý của chủ thể đó và hoạt động kinh doanh của họ. Tính chất hành chính – tư pháp của đăng ký kinh doanh được thể hiện ở những khía cạnh sau: Để được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hay thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh, chủ thể kinh doanh phải tuân thủ những trình tự, thủ tục về đăng ký kinh doanh theo luật định, cụ thể là việc hoàn thiện, nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh hoặc thông báo thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Về phần mình, trong phạm vi thẩm quyền, cơ quan nhà nước đó có 10 nghĩa vụ tiếp nhận hồ sơ, đối chiếu với các điều kiện do pháp luật quy định để cấp hoặc từ chối cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh cho chủ thể kinh doanh. Quy trình này cũng phải được thực hiện theo đúng các bước và thời hạn như luật định.[5] Với việc được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, chủ thể kinh doanh công khai hoá sự ra đời của mình với giới thương nhân, đồng thời tư cách chủ thể của họ cũng được Nhà nước công nhận về mặt pháp lý. Kể từ thời điểm này, chủ thể kinh doanh có đầy đủ năng lực pháp luật để nhân danh mình tham gia vào các quan hệ kinh tế, dân sự và các quan hệ pháp luật khác. Đặc điểm, đối tượng và trình tự của đăng ký kinh doanh Đặc điểm của đăng ký kinh doanh Thứ nhất ĐKKD là một trong những dịch vụ hành chính công do cơ quan QLNN trực tiếp thực hiện.
Thứ hai theo quy định trong Luật Doanh nghiệp ĐKKD cũng là thủ tục đầu tiên để tiến hành hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp. Thứ ba bất kỳ một doanh nghiệp nào khi đăng ký gia nhập thị trường đều phải thực hiện theo một khung pháp lý chung gồm các TTHC sau: 1) ĐKKD, 2) Đăng ký mã số thuế (nay đã gộp vào một) và 3) Đăng ký giấy phép khắc dấu (nay là công bố mẫu con dấu). Hiện nay, theo quy định pháp luật hiện hành đã có sự điều chỉnh và sẽ đề cập cụ thể ở phần sau. Thứ tư để thành lập 1 trong 4 loại hình doanh nghiệp (công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh) thì nhà đầu tư sẽ thực hiện thủ tục ĐKDN với cơ quan ĐKKD cấp tỉnh nơi doanh nghiệp dự định đặt trụ sở chính.
Đối tượng đăng ký kinh doanh Đối tượng của ĐKKD theo Luật Doanh nghiệp gồm có:(1) Doanh nghiệp tư nhân; (2) Công ty cổ phần; (3) Công ty hợp danh; (4) Công ty trách nhiệm hữu hạn (gồm công ty TNNH một thành viên và công ty TNNH hai thành viên trở lên). [5] Trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh. Trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh là những công đoạn (những bước) và thời hạn thực hiện mà cá nhân, tổ chức và cơ quan đăng ký kinh doanh phải tuân thủ trong quá trình đăng ký kinh doanh và đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh do pháp luật quy định. Thông thường, việc đăng ký kinh doanh được tiến hành theo các bước: [8] 11 Nộp và tiếp nhận hồ sơ đăng ký kinh doanh; Xem xét tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký kinh doanh và cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Công bố nội dung đăng ký kinh doanh.
Và thủ tục đăng ký kinh doanh hiện tại bao gồm: Đơn đăng ký kinh doanh; Điều lệ công ty (đối với Công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh); Danh sách thành viên (đối với công ty TNHH), danh sách cổ đông đối với công ty cổ phần. Chứng chỉ hành nghề, xác nhận vốn pháp định (đối với doanh nghiệp kinh doanh các các ngành nghề pháp luật yêu cầu phải có chứng chỉ hành nghề, vốn pháp định). Bản sao hợp lệ của một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân hợp pháp theo quy định. Nếu có nhu cầu thay đổi nội dung so với những nội dung đã được ghi nhận trong giấy chứng nhận ĐKKD, doanh nghiệp phải gửi thông báo bằng văn bản tới cơ quan đăng ký kinh doanh; cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm thực hiện việc đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp theo đúng thủ tục và thời hạn do pháp luật quy định.
Như vậy, Đăng ký kinh doanh - thủ tục pháp lý bắt buộc đối với việc thành lập doanh nghiệp. Thông qua đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp được ghi tên vào sổ đăng ký kinh doanh và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Kể từ thời điểm đó, doanh nghiệp có tư cách pháp lý để hoạt động kinh doanh, hành vi của doanh nghiệp mới được coi là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Thủ tục hành chính đăng ký kinh doanh Dưới góc độ quản lý nhà nước nói chung, TTHC được hiểu là công cụ, phương tiện quan trọng để các cơ quan hành chính thực hiện việc quản lý đối với từng ngành, lĩnh vực cụ thể.
Còn dưới góc độ xã hội, TTHC được xác định là cầu nối để chuyển tải các quy định cụ thể về chính sách của Nhà nước vào cuộc sống, đảm bảo cho người dân, tổ chức tiếp cận và thực hiện tốt các chính sách, trong đó, cơ bản và chủ yếu là thực hiện các quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của công dân, tổ chức.