ĐẶT VẤN ĐỀ Thông Caribê (Pinus caribaea Morelet) thuộc họ Thông (Pinaceae) có phân bố tự nhiên ở vùng Trung Mỹ. Đây là loài cây sinh trưởng nhanh, cành nhánh nhỏ, thân thẳng đẹp, tỉ lệ lợi dụng gỗ cao, có khả năng cung cấp gỗ lớn. nên đã có trên 65 nước gây trồng, chủ yếu là các nước ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Thông Caribê là loài cây trồng phù hợp với đất đồi ở nhiều tỉnh nước ta, từ vùng ven biển đến vùng Tây Nguyên và đã trở thành một trong những loài cây trồng rừng kinh tế chủ lực.
Nhằm phát huy vai trò, tác dụng của Thông Caribê góp phần đáp ứng nhu cầu sử dụng gỗ ngày càng tăng và đa dạng hiện nay của xã hội, vấn đề đặt ra là phải trồng rừng thâm canh tăng năng suất, cung cấp gỗ nguyên liệu có chất lượng và giá trị cao. Tuy nhiên thực tiễn của công tác trồng rừng Thông Caribê trong những năm qua chưa đạt được năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn đang đòi hỏi. Nguyên nhân chính là do chưa hiểu biết một cách toàn diện về điều kiện gây trồng và áp dụng biện pháp kỹ thuật thích hợp, vì vậy chưa phát huy được tiềm năng đất đai, ưu thế của loài cây trồng này. Những đóng góp mới của đề tài - Về khoa học: Xác định được ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng đến sinh trưởng rừng Thông Caribê ở vùng núi cao miền bắc Việt Nam để cung cấp gỗ lớn.
- Về thực tiễn: Đề xuất biện pháp kỹ thuật trồng thâm canh Thông Caribê ở vùng núi cao miền bắc Việt Nam để cung cấp gỗ lớn. Vì vậy, việc nghiên cứu và thực hiện luận văn “Đánh giá sinh trưởng mô hình rừng trồng Thông caribê (Pinus caribaea) tại tỉnh Cao Bằng và tỉnh Yên Bái nhằm cung cấp gỗ lớn” là cần thiết, có ý nghĩa về khoa học và thực tiễn. Mục tiêu của đề tài là xác định được ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh nhằm nâng cao năng suất và chất lượng gỗ rừng trồng Thông caribê đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu sản xuất. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Luận văn Thực hiện dựa trên cơ sở kế thừa những số liệu ban đầu và mô hình trồng rừng thâm canh của đề tài cấp bộ: “Khảo nghiệm mở rộng một số loài có triển vọng và biện pháp kỹ thuật trồng rừng ở vùng núi cao miền Bắc Việt Nam” do Ths.
Bùi Trọng Thuỷ là chủ nhiệm và tôi là cộng tác viên chính thực hiện đề tài này. Do điều kiện thời gian thực hiện của đề tài cấp bộ có hạn (2012 -2016) chưa thu thập và đánh giá được khả năng sinh trưởng của những năm tiếp theo, nên đề tài luận văn này đã kế thừa và tiếp tục đánh giá cả về số lượng và chất lượng gỗ rừng trồng của mô hình làm cơ sở đề xuất các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh ở tại tỉnh Cao Bằng và tỉnh Yên Bái để hoàn thiện luận văn theo chương trình đào tạo Thạc sĩ của Trường Đại học Lâm nghiệp khóa 2016-2018. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Nhằm tăng năng suất và chất lượng rừng trồng đã có nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới, từ khảo nghiệm loài, khảo nghiệm xuất xứ, khảo nghiệm giống để chọn loài, xuất xứ hoặc giống phù hợp với đặc điểm sinh thái và lập địa nơi trồng.
Ngoài ra, cũng có nhiều nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc và nuôi dưỡng rừng. Trong phạm vi tổng quan vấn đề nghiên cứu của đề tài có thể xem xét tới các khía cạnh liên quan đến các nội dung nghiên cứu của đề tài như: 1. Các nghiên cứu khảo nghiệm xuất xứ Thông caribê Thông caribê (Pinus caribaea Morelet) là loài hạt trần được trồng nhiều nhất ở vùng nhiệt đới. Các chương trình trồng rừng trên toàn thế giới bao gồm 4 châu lục lên tới khoảng 90,000 ha mỗi năm, làm cho là loài hạt trần chiếm ưu thế nhất trong trồng rừng trên thế giới.
Có 4 lý do để Thông caribê trở thành loài cây hạt trần được trồng nhiều nhất là: (1) tăng trưởng và phát triển nhanh; (2) chống chịu tốt với côn trùng và bệnh; (3) chất lượng tốt của sợi gỗ; (4) có thể thích nghi tốt trong các môi trường sống khác nhau. Việc chọn Thông caribê cho các chương trình trồng rừng vùng nhiệt đới chủ yếu được xác định dựa trên việc sử dụng trong ngành công nghiệp giấy và các sử dụng khác như cho sản phẩm gỗ và gỗ củi. Vì vậy nó được biết đến như một loài cây sinh trưởng nhanh và đa mục đích. Tuy nhiên một vấn đề chính hiện nay là sản lượng hạt giống của loài này bên ngoài xuất xứ của nó còn rất thấp và chi phí nhập khẩu hạt giống này là quá đắt đối với nhiều quốc gia kém phát triển (Berlyn, Kohls et al.
[18] Một khảo nghiệm quốc tế do Viện nghiên cứu Lâm nghiệp thuộc trường Đại học Oxford thực hiện với các xuất xứ của loài Pinus caribaea Morlet and P. oocarpa Schiende ở khu vực trung Mỹ và vùng Caribê được thực hiện từ những năm đầu 1960. Đến đầu những năm 1970 hạt của chúng được khảo nghiệm ở trên 50 quốc gia với hàng trăm các mô hình thực nghiệm. Kết quả khảo nghiệm đã chỉ ra sự khác nhau giữa các xuất xứ của loài Pinus caribaea.
Với xuất xứ P. caribaea LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. caribaea có hình thân đẹp, cành nhánh nhỏ và có mật độ sợi gỗ cao, có thể chống chịu được với loài sâu đục ngọn của vùng Đông Nam Á. Tuy nhiên xuất xứ này có tỉ lệ sống thấp ở giai đoạn đầu đặc biệt là ở vùng nhiệt đới.
bahamensis có đặc điểm giống như xuất xứ P. caribaea nhưng có sự chống chịu với gió kém hơn. Xuất xứ coastal của P. hondurensis có tăng trưởng rất tốt, hình thân đẹp, vỏ mỏng và có thể chống chịu được gió.
Cành nhánh nhỏ, tuy nhiên có hiện tượng ngọn sinh trưởng dạng đuôi cáo, nhược điểm của xuất xứ này là mật độ sợi gỗ thấp và loài này dễ bị sâu đục ngọn tấn công ở vùng Đông Nam Á. Với xuất xứ có nguồn gốc inland của P. hondurensis có sự rất khác nhau về tăng trưởng với hầu hết ở các khảo nghiệm có tăng trưởng rất thấp tuy nhiên có một số lại có tăng trưởng rất cao, về tỷ trọng gỗ ở xuất xứ này lại cao hơn xuất xứ có nguồn gốc coastal, ngọn ít có xu hướng biểu hiện dạng đuôi cáo và ra hoa kết hạt sớm. Hình dáng thân thẳng chống chịu với gió tốt nhưng cành nhánh không được tốt như xuất xứ có nguồn gốc coastal và ít chịu được với sâu đục ngọn.
Xuất xứ có nguồn gốc insular (Guanaja) của P. hondurensis có tăng trưởng và tỷ trọng gỗ cao nhưng kém chống chịu với gió và có cành nhánh cong qoeo, tỉa cành tự nhiên kém, ít chịu được với sâu đục ngọn (Birks and Barnes 1990) [19] Thông caribê được đưa vào trồng tại phía Nam Trung Quốc từ năm 1961 với xuất xứ Pinus caribaea var. caribaea từ Cuba và xuất xứ từ Guatemala Pinus caribaea var. hondurensis, Pinus caribaea var.
bahamensis được giới thiệu vào năm 1973. Tuy nhiên cho tới tận 1983 khảo nghiệm xuất xứ mới được thực hiện trên một số lập địa. Kết quả khảo nghiệm cho thấy có sự khác nhau về chất lượng gen trong tăng trưởng giữa các xuất xứ và P. bahamensis cho tăng trưởng tốt nhất (Wang, Malcolm et al.[32] Năm 1988 một nghiên cứu thực hiện để tìm ra xuất xứ tốt nhất phục vụ cho trồng rừng thương mại và xây dựng vườn giống được tiến hành khảo nghiệm với 5 xuất xứ gồm 47 gia đình được xây dựng tại Planaltina, Brazil.
Các xuất xứ đưa vào khảo nghiệm gồm có xuất xứ Poptun (Guatemala), Gualjoco, Los Limones, El Porvenir và Santa Cruz de Yojoa (Honduras). Đánh giá sau 12 năm tuổi kết quả LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 khảo nghiệm cho thấy xuất xứ Poptun và Gualjoco có trữ lượng cao nhất, xuất xứ Los Limones và El Porvenir ít có hiện tượng phân nhánh và hình dạng ngọn đuôi cáo. Kết quả khảo nghiệm các xuất xứ so sánh với P. hondurensis được khảo nghiệm tại các vùng khác của Brazil, Colombia và Venezuela cho thấy ít có sự ảnh hưởng tác động qua lại lớn giữa lập địa với nguồn gốc xuất xứ và các gia đình đưa vào khảo nghiệm giống như các loài thông khác (Moura and Dvorak 2001).
[23] Số liệu tăng trưởng ở tuổi 15 từ một nghiên cứu về so sánh tăng trưởng di truyền giữa 4 dòng gồm P. hondurensis, và cây lai F1 và F2 giữa hai dòng P. hondurensis, cây con được trồng trên 3 lập địa khác nhau tại đông nam Queensland, Úc. Số liệu tăng trưởng cho thấy 17,6, 23,0, 23,7 và 23,5 m3/năm tương ứng cho các dòng PEE, PCH, F1 và F2.
Nghiên cứu đã đưa ra khuyến cáo rằng nên sử dụng cây lai F1 cho mục đích trồng rừng lấy gỗ tại toàn bang Queensland (Dieters and Brawner 2007).[20] Tóm lại, qua các khảo nghiệm của loài Pinus caribaea Morelet với nhiều xuất xứ khác nhau cho thấy xuất xứ Pinus caribaea var. hondurensis là có ưu điểm hơn cả, điều này cũng trùng khớp với một số nghiên cứu của Việt Nam cho thấy xuất xứ này đã được trồng và được chuyển hóa làm rừng giống tại Đại Lải cho thấy rừng trồng từ nguồn giống này có mức sinh trưởng là trội hơn cả so với các xuất xứ khác trên nhiều vùng sinh thái và được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn khuyến nghị sử dụng nguồn giống này cho trồng rừng rộng rãi. Các nghiên cứu chọn giống và trồng rừng trên các dạng lập địa khác nhau Các dạng lập địa khác nhau, nhất là các loại đất ở độ cao khác nhau ảnh hưởng rất rõ đến năng suất chất lượng rừng trồng. Vì vậy, các nhà khoa học trên thế giới đã chú ý đến việc khảo nghiệm và chọn giống cho các dạng lập địa khác nhau cũng như ở các độ cao khác nhau từ rất sớm, điển hình là các nghiên cứu; Năm 1987 một nghiên cứu về phục hồi rừng bằng 83 loài cây đã được tiến hành, tỷ lệ sống và sinh trưởng của các loài cây được trồng khảo nghiệm trên lập địa là đồng cỏ tại nam Kalimantan, Indonesia.
Khảo nghiệm được thiết kế ngẫu nhiên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 theo từng block và được lặp lại 6-8 lần, 5 hàng trên một plot.