Lời mở đầu. 5 Phần thứ nhất: Tổng hợp kết quả rà soát. Mục tiêu và bối cảnh Rà soát. Giới hạn phạm vi rà soát.
Giới hạn về nội dung. Giới hạn về phạm vi các cam kết mở cửa. Giới hạn về quy định pháp luật Việt Nam được rà soát. Tổng hợp kết quả Rà soát.
Về các lĩnh vực dịch vụ mà Việt Nam có cam kết mở cửa. Về mức độ mở cửa các lĩnh vực dịch vụ. 21 Phần thứ hai: Bảng Rà soát tóm tắt. 39 Phần thứ ba: Bảng Rà soát chi tiết.
67 Danh mục từ viết tắt EVFTA: Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu EU: Liên minh châu Âu FTA: Hiệp định Thương mại tự do MA: Tiếp cận thị trường MFN: Đối xử tối huệ quốc NT: Đối xử quốc gia PLVN: Pháp luật Việt Nam TPP: Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương VN: Việt Nam WTO: Tổ chức Thương mại Quốc tế phần thứ nhất Tổng hợp kết quả Rà soát i. mục tiêu và bối cảnh rà soát 10 ii. giới hạn phạm vi rà soát 12 iii. Tổng hợp kết quả rà soát và các Kiến nghị 16 10 TỔNG HỢP KẾT QUẢ RÀ SOÁT I.
Mục tiêu và bối cảnh Rà soát Việt Nam đưa ra cam kết mở cửa các thị trường dịch vụ cho đầu tư nước ngoài lần đầu tiên trong khuôn khổ Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) năm 2002. Tuy nhiên phải tới cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007, các cam kết này mới thực sự bao trùm cho các đối tác thương mại. Sau gần 10 năm với chỉ một số cam kết mở cửa hạn chế trong khuôn khổ các đàm phán Hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương, Việt Nam lại một lần nữa đưa ra các cam kết mở rộng hơn đáng kể ở một số các lĩnh vực với hai Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới là Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA). Theo thống kê, chỉ trong WTO Việt Nam đã có cam kết mở cửa ở cả 11 ngành dịch vụ với hàng trăm phân ngành dịch vụ, với các mức độ mở cửa khác nhau.
Với TPP và EVFTA, số lượng các lĩnh vực có cam kết mở cửa và mức độ mở cửa gia tăng thêm đáng kể. Tuy nhiên, cho tới nay chưa từng có một rà soát đầy đủ nào về các lĩnh vực dịch vụ và mức độ mở cửa mà Việt Nam đã cam kết trong các Hiệp định này, cũng không có đánh giá tổng thể nào về hiện trạng các quy định về mở cửa các thị trường dịch vụ của Việt Nam trong so sánh với các cam kết này Từ góc độ của các nhà đầu tư nước ngoài, tình trạng thiếu minh bạch này gây ra rất nhiều cản trở đối với dự định đầu tư vào các lĩnh vực dịch vụ cũng như mở rộng quy mô, lĩnh vực hoạt động ở Việt Nam. Đối với các nhà đầu tư trong nước, tình trạng này cũng gây khó khăn cho việc dự liệu kế hoạch kinh doanh, cạnh tranh cũng như hợp tác với đối tác nước ngoài, nếu có. Từ góc độ thể chế, sự phức tạp, thiếu rõ ràng, thiếu thống nhất trong các chính sách mở cửa thị trường dịch vụ này đã và sẽ làm giảm đáng kể hiệu quả tự do hóa trong các lĩnh vực dịch vụ.
Tình trạng này cũng được cho là nguyên nhân chính ảnh hưởng nghiêm trọng tới hiệu quả thực thi các Hiệp định, cam kết liên quan. RÀ SOÁT PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỚI CÁC CAM KẾT WTO, EVFTA, TPP VỀ MỞ CỬA DỊCH VỤ CHO ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 11 Nghiên cứu Rà soát này được thực hiện nhằm góp một phần vào quá trình minh bạch hóa các cam kết, chính sách về mở cửa thị trường dịch vụ thông qua việc (i) xác định rõ và so sánh các lĩnh vực mở cửa thị trường và mức độ mở cửa từng thị trường dịch vụ của Việt Nam trong WTO, TPP và EVFTA (ii) nhận diện và tập hợp quy định pháp luật hiện hành về việc mở cửa các thị trường dịch vụ trong từng lĩnh vực liên quan; (iii) phân tích đánh giá hiện trạng pháp luật so với các cam kết mở cửa trong WTO, EVFTA và TPP, qua đó đánh giá mức độ tương thích của pháp luật Việt Nam với cam kết mở cửa từng lĩnh vực trong mỗi Hiệp định này và (iii) xây dựng các đề xuất để minh bạch hóa và thực thi hiệu quả các cam kết mở cửa các thị trường dịch vụ trong các Hiệp định này. Nghiên cứu Rà soát này là nỗ lực đầu tiên của cộng đồng doanh nghiệp nhằm minh bạch hóa hệ thống chính sách, pháp luật của Việt Nam liên quan tới việc mở cửa các thị trường dịch vụ đồng thời cũng là căn cứ để đề xuất, khuyến nghị các cơ quan hữu quan trong việc thống nhất các nguyên tắc trong thực thi các cam kết quốc tế về mở cửa, tranh thủ cơ hội từ mở cửa để tăng cường hiệu quả cạnh tranh của các thị trường dịch vụ, qua đó góp phần quan trọng vào sự phát triển của cả nền kinh tế. 12 TỔNG HỢP KẾT QUẢ RÀ SOÁT II.
Giới hạn phạm vi rà soát Trong khuôn khổ quy mô cũng như thời gian, Nghiên cứu Rà soát này không bao trùm hết tất cả các vấn đề liên quan tới mở cửa thị trường dịch vụ của Việt Nam theo các cam kết quốc tế mà chỉ tập trung vào khía cạnh mở cửa cho đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các lĩnh vực dịch vụ của Việt Nam trong khuôn khổ các cam kết của WTO, TPP và EVFTA, 03 Hiệp định có các cam kết mở cửa thị trường dịch vụ rộng nhất và mạnh nhất. Giới hạn về nội dung Như vậy, về mặt nội dung, Nghiên cứu Rà soát này sẽ tập trung vào đánh giá cam kết WTO, TPP, EVFTA và hiện trạng mở cửa thị trường dịch vụ cho đầu tư nước ngoài ở các khía cạnh: - Các hình thức hiện diện thương mại (chi nhánh, văn phòng đại diện, hợp đồng hợp tác kinh doanh, liên doanh, 100% vốn đầu tư nước ngoài); - Các biện pháp ảnh hưởng tới tới việc cung cấp dịch vụ của nhà đầu tư nước ngoài theo các hình thức hiện diện thương mại nói trên. Với phạm vi này, Nghiên cứu Rà soát không bao gồm các vấn đề (cam kết và quy định pháp luật) trong các khía cạnh sau đây: - Mở cửa đầu tư trong các lĩnh vực sản xuất hàng hóa - Mở cửa các thị trường dịch vụ cho nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài theo hình thức cung cấp qua biên giới mà không phải là đầu tư (các Mode 1 – Cung cấp dịch vụ ở nước khác; Mode 2 – Tiêu dùng ở nước khác; Mode 4 – Di chuyển thể nhân); - Mở cửa các thị trường dịch vụ cho đầu tư gián tiếp nước ngoài (góp vốn, mua cổ phần trên thị trường chứng khoán). RÀ SOÁT PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỚI CÁC CAM KẾT WTO, EVFTA, TPP VỀ MỞ CỬA DỊCH VỤ CHO ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 13 Ngoài ra, Nghiên cứu Rà soát này cũng không thực hiện đối với lĩnh vực Tài chính, ngành dịch vụ thứ 7 trong số 11 ngành dịch vụ mà Việt Nam có cam kết mở cửa.
Lý do của việc loại trừ này là trong khuôn khổ TPP, dịch vụ tài chính (bao gồm ngân hàng và các dịch vụ liên quan, bảo hiểm và các dịch vụ liên quan, chứng khoán) là ngành dịch vụ duy nhất có cam kết riêng cả về mở cửa và các cơ chế nguyên tắc, không cùng cơ chế với tất cả các dịch vụ khác. Trong khi đó dịch vụ tài chính lại được áp dụng chung cơ chế với các dịch vụ khác trong WTO và EVFTA. Do đó, việc so sánh trên cùng một mặt bằng giữa các cam kết TPP về tài chính với các cam kết WTO và EVFTA trong lĩnh vực này là không phù hợp. Giới hạn về phạm vi các cam kết mở cửa Trên thực tế, trong khi các cam kết mở cửa thị trường dịch vụ của Việt Nam được nêu chủ yếu là trong WTO, TPP và EVFTA, Việt Nam vẫn có những cam kết mở cửa một số thị trường dịch vụ rải rác và đơn lẻ trong nhiều Hiệp định, Điều ước, thỏa thuận quốc tế khác.
Với giới hạn ở các cam kết WTO, TPP và EVFTA, Nghiên cứu Rà soát này không bao gồm các cam kết mở cửa thị trường dịch vụ trong các nhóm Hiệp định sau: - Các Hiệp định thương mại song phương (ví dụ Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ, Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam – Nhật Bản, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc…) - Các Hiệp định thương mại khu vực khác (ví dụ Các gói đàm phán dịch vụ trong ASEAN, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Á Âu…) - Các Hiệp định/Điều ước quốc tế trong một số lĩnh vực dịch vụ cụ thể (ví dụ các Hiệp định song phương về vận tải giữa Việt Nam với các nước…). Liên quan tới hiệu lực pháp lý của các cam kết được rà soát, các đánh giá, bình luận và đề xuất trong Nghiên cứu này được thực hiện với giả định/thực tế rằng: - Các cam kết WTO đã thực hiện hết lộ trình đến 11/1/2017 (10 năm sau thời điểm Việt Nam gia nhập WTO): do đó chỉ tính các cam kết có lộ trình sau 10 năm trở đi; - Các cam kết TPP và EVFTA được giả định là sẽ có hiệu lực với Việt Nam. WTO, TPP và EVFTA là các Hiệp định có phạm vi rất rộng, bao trùm cùng lúc nhiều nhóm cam kết trong nhiều lĩnh vực thương mại, đầu tư, có quan hệ chặt chẽ và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau (ví 14 TỔNG HỢP KẾT QUẢ RÀ SOÁT dụ các cam kết về trợ cấp, về mua sắm công… có thể ảnh hưởng tới đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực dịch vụ nhất định).