Nghiên cứu ô nhiễm asen trong nước khoan và ảnh hưởng đến sức khỏe con người

Luận án tiến sĩ phân tích hus nghiên cứu sử dụng các chỉ thị hóa sinh để đánh giá mức độ ô nhiễm asen trong nước khoan và mối, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án
103
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ Ô NHIỄM ASEN TRONG NƯỚC NGẦM VÀ NHU CẦU PHÁT TRIỂN CÔNG CỤ PHÂN TÍCH NHANH

1.1. Nguyên tố asen trong tự nhiên và đời sống

1.2. Vấn đề ô nhiễm asen trong nước giếng khoan trên thế giới và ở Việt Nam

1.3. Nhu cầu phát triển công cụ phân tích nhanh, phục vụ cho nhiệm vụ đánh giá hiện trạng ô nhiễm asen trong nước giếng khoan

1.4. Biosensor sử dụng vi khuẩn chuyển gen để phân tích asen trong nước

1.4.1. Biosensor sử dụng các tế bào vi khuẩn

1.4.2. Biosensor vi khuẩn đáp ứng đặc hiệu với asen và có gắn các gen chỉ thị khác nhau

1.4.3. Gen kháng asen ở vi khuẩn E. Các gen chỉ thị thường được sử dụng trong biosensor vi khuẩn

1.4.4. Ứng dụng thực tiễn của các biosensor sử dụng vi khuẩn biến đổi gen có đáp ứng với asen

1.5. Sử dụng các biomarker trong nghiên cứu thâm nhiễm asen trên người

1.5.1. Tác hại tới sức khoẻ gây ra bởi nhiễm độc asen

1.5.2. Sử dụng các biomarker trong nghiên cứu thâm nhiễm asen trên người

1.5.3. Vai trò của các biomarker trong đánh giá nguy cơ nhiễm độc

1.5.4. Sử dụng chỉ số hàm lượng asen trong tóc để đánh giá mức độ thâm nhiễm lâu dài asen từ nước giếng khoan

1.5.5. Sử dụng chỉ số các thành phần asen methyl hoá trong nước tiểu để đánh giá mức độ thâm nhiễm asen hiện tại và cung cấp số liệu minh hoạ cơ chế nhiễm độc asen ở người

2. CHƯƠNG 2: NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mẫu nước giếng khoan, mẫu tóc và mẫu nước tiểu

2.2. Mẫu biosensor sử dụng các chủng vi khuẩn chỉ thị

2.3. Thiết bị, hoá chất và chất chuẩn

2.4. Phương pháp

2.4.1. Nuôi, cấy chuyển và giữ giống vi khuẩn chỉ thị asen

2.4.2. Phân tích hàm lượng asen hoà tan trong dung dịch trung tính bằng vi khuẩn chỉ thị

2.4.3. Thí nghiệm chọn thời gian vi khuẩn chỉ thị E. coli luxAB tiếp xúc với asen và tối ưu hoá lượng cơ chất n-decanal. Thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của hàm lượng sắt trong nước tới khả năng sử dụng sinh học asen đối với vi khuẩn chỉ thị

2.4.4. Phương pháp phân tích asen trong dung dịch bằng quang phổ hấp thụ nguyên tử nối ghép thiết bị sinh khí hydrua asin (AsH3)

2.4.5. Phương pháp xử lý mẫu tóc

2.4.6. Phân tích các dạng asen hữu cơ trong nước tiểu bằng kỹ thuật nối ghép sắc ký trao đổi ion với phổ khối cảm ứng plasma (IC- ICPMS)

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Chọn lựa và tối ưu phương pháp phân tích hàm lượng asen trong nước giếng khoan bằng biosensor sử dụng vi khuẩn chỉ thị

3.2. So sánh khả năng phân tích asen bằng ba chủng vi khuẩn E. coli có các gen chỉ thị khác nhau là lacZ, gfp và luxAB

3.3. Tối ưu hoá và xây dựng qui trình phân tích asen trong nước giếng khoan bằng chủng vi khuẩn E.

3.4. Ứng dụng biosensor vi khuẩn để đánh giá ô nhiễm asen trong nước giếng khoan tại Việt Nam

3.5. Mối tương quan giữa ô nhiễm asen trong nước giếng khoan với mức độ thâm nhiễm asen trên người

3.5.1. Mức độ tích luỹ asen trong các mẫu tóc

3.5.2. Mối tương quan giữa ô nhiễm asen trong nước giếng khoan, nước đã lọc với hàm lượng asen trong tóc

3.5.3. Mối tương quan giữa ô nhiễm asen trong nước giếng khoan, nước đã lọc với hàm lượng các dạng asen methyl hoá trong nước tiểu

KẾT LUẬN

KIẾN NGHỊ VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN

Tóm tắt

I. Tổng quan về ô nhiễm asen trong nước khoan và sức khỏe con người

Ô nhiễm asen trong nước khoan là một vấn đề nghiêm trọng tại nhiều quốc gia, đặc biệt là ở Việt Nam. Nước ngầm thường chứa asen với nồng độ cao, gây ra nhiều tác hại cho sức khỏe con người. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, mức asen an toàn trong nước uống là 10 µg/l. Tuy nhiên, nhiều khu vực ở Việt Nam có nồng độ asen vượt quá mức này, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh nghiêm trọng như ung thư và bệnh tim mạch.

1.1. Nguyên nhân ô nhiễm asen trong nước khoan

Ô nhiễm asen trong nước khoan chủ yếu do sự hòa tan của asen từ các lớp trầm tích tự nhiên. Các khu vực đồng bằng trũng, nơi có điều kiện thiếu oxy, thường có nồng độ asen cao. Ngoài ra, hoạt động khai thác mỏ và sử dụng hóa chất trong nông nghiệp cũng góp phần làm tăng nồng độ asen trong nước.

1.2. Tác động của ô nhiễm asen đến sức khỏe con người

Asen có thể gây ra nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, bao gồm rối loạn sắc tố da, bệnh tiểu đường, và ung thư. Nghiên cứu cho thấy, việc tiếp xúc lâu dài với asen có thể dẫn đến các bệnh mãn tính và giảm chất lượng cuộc sống.

II. Vấn đề ô nhiễm asen trong nước giếng khoan tại Việt Nam

Tình trạng ô nhiễm asen trong nước giếng khoan tại Việt Nam đang trở thành một vấn đề cấp bách. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nồng độ asen trong nước giếng khoan ở một số tỉnh như Hà Nam và Hà Tây có thể lên tới hàng trăm µg/l. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân mà còn gây ra những lo ngại về an toàn thực phẩm.

2.1. Tình hình ô nhiễm asen tại các khu vực cụ thể

Nhiều khu vực ở miền Bắc Việt Nam, đặc biệt là đồng bằng sông Hồng, đã ghi nhận nồng độ asen cao trong nước giếng khoan. Các nghiên cứu cho thấy, khoảng 2,2% trong số 620.000 giếng đã được kiểm tra có nồng độ asen vượt mức cho phép.

2.2. Các biện pháp kiểm soát ô nhiễm asen

Để giảm thiểu ô nhiễm asen, cần có các biện pháp kiểm soát hiệu quả như cải thiện hệ thống cấp nước, sử dụng công nghệ lọc nước hiện đại và nâng cao nhận thức cộng đồng về nguy cơ từ asen.

III. Phương pháp phân tích ô nhiễm asen trong nước khoan

Việc phát triển các phương pháp phân tích nhanh và chính xác hàm lượng asen trong nước khoan là rất cần thiết. Các biosensor sử dụng vi khuẩn chỉ thị đã được nghiên cứu và phát triển để phục vụ cho việc đánh giá ô nhiễm asen một cách hiệu quả.

3.1. Công nghệ biosensor trong phân tích asen

Biosensor sử dụng vi khuẩn chuyển gen có khả năng phát hiện asen trong nước với độ nhạy cao. Công nghệ này cho phép phân tích nhanh chóng và chính xác, giúp người dân dễ dàng kiểm tra chất lượng nước.

3.2. Ưu điểm của phương pháp phân tích sinh học

Phương pháp phân tích sinh học không chỉ nhanh chóng mà còn thân thiện với môi trường. Việc sử dụng vi khuẩn chỉ thị giúp giảm thiểu hóa chất độc hại trong quá trình phân tích, đồng thời cung cấp kết quả đáng tin cậy.

IV. Ứng dụng thực tiễn của các phương pháp phân tích asen

Các phương pháp phân tích asen hiện đại đã được áp dụng trong nhiều nghiên cứu thực tiễn. Kết quả từ các nghiên cứu này không chỉ giúp đánh giá tình trạng ô nhiễm mà còn cung cấp thông tin quan trọng cho các chính sách bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

4.1. Kết quả nghiên cứu về ô nhiễm asen

Nghiên cứu cho thấy, nồng độ asen trong nước giếng khoan ở một số khu vực cao hơn mức cho phép, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người dân. Các số liệu thu thập từ nghiên cứu đã được sử dụng để xây dựng các chính sách bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

4.2. Đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm asen

Cần có các giải pháp đồng bộ như cải thiện hệ thống cấp nước, tăng cường giám sát chất lượng nước và nâng cao nhận thức cộng đồng về nguy cơ ô nhiễm asen. Các biện pháp này sẽ giúp bảo vệ sức khỏe người dân và giảm thiểu tác động của ô nhiễm asen.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu ô nhiễm asen

Nghiên cứu về ô nhiễm asen trong nước khoan là rất cần thiết để bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Các kết quả nghiên cứu hiện tại đã chỉ ra mức độ ô nhiễm nghiêm trọng và cần có các biện pháp khẩn cấp để giải quyết vấn đề này. Tương lai của nghiên cứu sẽ tập trung vào việc phát triển các công nghệ phân tích mới và cải thiện các chính sách quản lý nước.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu ô nhiễm asen

Nghiên cứu ô nhiễm asen không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tác động của nó đến sức khỏe mà còn cung cấp cơ sở cho các chính sách bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.

5.2. Hướng đi tương lai trong nghiên cứu và ứng dụng

Tương lai của nghiên cứu sẽ tập trung vào việc phát triển các công nghệ mới, cải thiện phương pháp phân tích và nâng cao nhận thức cộng đồng về ô nhiễm asen. Điều này sẽ góp phần bảo vệ sức khỏe và môi trường sống cho người dân.

18/07/2025
Luận án tiến sĩ hus nghiên cứu sử dụng các chỉ thị hóa sinh để đánh giá mức độ ô nhiễm asen trong nước khoan và mối tương quan với thâm nhiễm asen trên người

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Đảm bảo chất lượng nước ăn và nước sinh hoạt cho cộng đồng dân cư tại khu vực nông thôn là một trong những vấn đề trọng tâm của chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu hiện nay tại Việt Nam. Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Mê kông là hai khu vực tập trung đông dân nhất nước ta với dân số tương ứng 17,7 triệu và 16,9 triệu, chiếm gần 42,7% trong tổng số khoảng 80,9 triệu dân của cả nước (theo số liệu điều tra dân số năm 2003 của Tổng cục Thống kê). Ngoại trừ tại các thành phố, thị trấn có hệ thống cấp nước sạch tập trung từ các nhà máy nước, còn lại hầu hết dân cư sống xa đô thị đều phải tự khai thác và sử dụng các nguồn nước khác như nước mặt (nước sông, hồ), nước ngầm (nước giếng khơi, giếng khoan), nước mưa. Để tránh một số bệnh như tiêu chảy, đau mắt, giun sán, v.v…do sử dụng nước sông, nước hồ gây ra, ngày nay hầu hết các hộ dân tại hai khu vực trên đã tự khoan giếng để lấy nước ngầm sử dụng cho các sinh hoạt hàng ngày như ăn uống, tắm giặt [5].

Nhưng người dân lại có nguy cơ đối mặt với một ô nhiễm mang tính tự nhiên, đó là sự có mặt của nguyên tố asen (thạch tín) trong nước ngầm [78]. Asen khi thâm nhập hàng ngày vào cơ thể kể cả ở hàm lượng thấp cũng gây ra những tác hại cho sức khoẻ như: gây hoại tử các vết loét ở tay, chân, làm rối loạn sắc tố da, sừng hoá gan bàn tay, gan bàn chân, thậm chí liên quan tới bệnh tiểu đường, tim mạch, ung thư bàng quang, ung thư gan, v. Do những tác hại lâu dài của asen lên sức khoẻ con người, ngày nay Tổ chức Y tế thế giới đã đề nghị mức giới hạn asen trong nước uống là 10g/l, Bộ Y tế Việt Nam cũng đã ban hành tiêu chuẩn về asen trong nước uống là 10g/l thay cho tiêu chuẩn Việt Nam năm 1995 là 50g/l [1, 2]. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ những năm cuối của thế kỷ 20, thảm hoạ nhiễm độc asen do dùng nước giếng khoan đã được phát hiện tại các nước nam Á như Ấn Độ (vùng Tây Bengan), Bănglađet và Trung Quốc (vùng cao nguyên Nội Mông) [22, 78, 98].

Ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về tình trạng ô nhiễm asen trong nước ngầm, nước cấp tại khu vực Hà Nội và một số tỉnh lân cận [6, 13]. Mức độ ô nhiễm asen tại một số tỉnh như Hà Nam, Hà Tây, phía nam Hà Nội được coi là nghiêm trọng ngang với các quốc gia bị ô nhiễm nặng nhất. Đó là các kết quả ban đầu dựa trên việc phân tích hàm lượng asen của khoảng 14 nghìn trên tổng số 620 nghìn giếng, chiếm tỷ lệ 2,2%. Như vậy, số giếng đã được điều tra vẫn rất ít so với số giếng còn lại cần được biết có ô nhiễm asen hay không.

Đây là bài toán cần giải quyết sớm không những chỉ ở Việt Nam mà còn ở cả các nước khác đang chịu ô nhiễm asen [22]. Các thiết bị có khả năng phân tích chính xác hàm lượng asen lại tập trung hầu hết ở các phòng thí nghiệm hiện đại, các viện nghiên cứu, các trường đại học. Các phương pháp phân tích asen hiện trường theo nguyên tắc hoá học hiện đang được sử dụng khá phổ biến nhưng độ tin cậy lại chưa cao. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, chế tạo các công cụ phân tích asen nhanh, hiệu quả, chính xác theo nguyên tắc sinh học là hướng đi mới của các nhà khoa học trên thế giới.

Để phát triển phép đo asen nhanh, một số biosensor dựa trên vi khuẩn chỉ thị asen đã được thiết kế trong phòng thí nghiệm nhờ việc lắp ghép gen cảm ứng đặc hiệu asen với gen chỉ thị tạo ra tín hiệu đo được [15, 74, 82, 85]. Tuy nhiên độ tin cậy, khả năng ứng dụng thực tiễn để phân tích asen trong nước giếng khoan vẫn chưa được thử nghiệm, nhất là khi khả năng sử dụng sinh học asen (bioavailability) đối với vi khuẩn chỉ thị bị giảm đi bởi các thành phần hoá học khác trong nước. Để đánh giá mức độ thâm nhiễm asen ở người, các biomarker như hàm lượng asen trong tóc, hàm lượng các dạng asen hữu cơ bài tiết trong nước tiểu được sử dụng khá phổ biến. Vấn đề ô nhiễm asen trong nước ngầm đã 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được phát hiện tại Việt Nam nhưng số lượng công trình công bố về sự thâm nhiễm asen trong quần thể có phơi nhiễm asen do dùng nước giếng khoan vẫn còn rất hạn chế.

Để góp phần vào việc triển khai ứng dụng công cụ phân tích asen bằng biosensor sử dụng vi khuẩn chỉ thị asen biến đổi gen, đánh giá mức độ thâm nhiễm asen ở người và đề xuất giải pháp giảm thiểu nhiễm độc asen, luận án đã được thực hiện với chủ đề: “NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG CÁC CHỈ THỊ HÓA SINH ĐỂ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ Ô NHIỄM ASEN TRONG NƢỚC GIẾNG KHOAN VÀ MỐI TƢƠNG QUAN VỚI THÂM NHIỄM ASEN TRÊN NGƢỜI”, gồm hai mục tiêu sau: 1. Chọn lựa và tối ƣu phƣơng pháp phân tích hàm lƣợng asen trong nƣớc giếng khoan bằng biosensor sử dụng vi khuẩn chỉ thị 2. Đánh giá mối tƣơng quan giữa ô nhiễm asen trong nƣớc giếng khoan với mức độ thâm nhiễm asen trên ngƣời Kết quả thu được của luận án góp phần vào việc ứng dụng thành quả của công nghệ sinh học vào nhiệm vụ bảo vệ môi trường thông qua việc nghiên cứu xây dựng quy trình phân tích asen trong nước bằng vi khuẩn chỉ thị biến đổi gen. Luận án cũng đưa ra các bằng chứng về ô nhiễm asen trong nước sinh hoạt lấy từ giếng khoan, mức độ thâm nhiễm asen trên người do sử dụng các nguồn nước này.

Với các kết quả đó, bản luận án đóng góp một phần nhỏ bé vào việc thực hiện các nhiệm vụ của chương trình Quốc gia về Asen trong nước ngầm. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. Vấn đề ô nhiễm asen trong nƣớc ngầm và nhu cầu phát triển công cụ phân tích nhanh 1. Nguyên tố asen trong tự nhiên và đời sống Asen là nguyên tố hoá học thuộc nhóm V của bảng tuần hoàn Mendeleep, cùng nhóm với các nguyên tố N, P, Sb và Bi.

Asen có thể tồn tại trong các hợp chất vô cơ và hữu cơ với bốn mức hoá trị là -3, 0, +3 và +5. Nguyên tố asen không tan trong nước, các muối của asen có độ tan khác nhau phụ thuộc vào pH, lực ion và thế ôxy hoá khử của môi trường. Ví dụ trong môi trường trường mang tính khử và pH thấp As(III) sẽ chiếm ưu thế, ngược lại trong môi trường mang tính ôxy hoá và pH cao As(V) sẽ là dạng bền hơn [78, 97]. Asen có mặt trong hơn 200 loại khoáng khác nhau với nồng độ trung bình khoảng 2mg/kg.

Phổ biến nhất là các asenopyrit như orpiment As2S3, realgar AsS, mispikel FeAsS, loellingite FeAs2, nicolite NiAs, cobalite CoAsS, tennantite Cu12As4S13, v.v… Từ các quặng này, quá trình phun trào núi lửa đã chuyển asen từ đất vào không khí. Việc khai thác mỏ cũng rửa trôi các muối asen trong quặng và gây ô nhiễm asen trong nước mặt tại các khu vực xung quanh mỏ. Trong tầng nước ngầm, quá trình hoà tan asen xảy ra theo cơ chế khử, tạm thời được giải thích như sau: các phản ứng sinh học, hoá học diễn ra trong lòng đất đã tiêu hao ôxy và tạo nên môi trường mang tính khử. Sắt (III) - dạng kết tủa trong quặng sẽ chuyển thành sắt (II) - dạng dễ tan trong nước.

Quá trình này đồng thời làm cho asen rời khỏi quặng sắt và tan trong nước ngầm. Một số khu vực đồng bằng thấp trũng, thường xảy ra lụt lội là nơi nước ngầm thiếu ôxy và có thế khử thấp (Eh < 100mV), ví dụ như Bănglađet, đồng bằng sông Gange, Ấn Độ, đồng bằng sông Hồng, Việt Nam. Và cũng chính tại đây, ô nhiễm asen trong nước ngầm đã được phát hiện trong thập kỷ vừa qua [13, 60, 78]. Trong công nghiệp, asen được tạo ra nhờ quá trình khử ôxyt asen (As2O3) với than, ôxyt asen là sản phẩm phụ của quá trình luyện kim và thường có trong bụi 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khói của quá trình nung quặng, nhất là luyện đồng.

Khoảng 70% sản lượng asen tạo ra trên thế giới được dùng trong ngành xử lý gỗ, đó là các hợp chất asenat crom đồng (CCA), 22% dùng trong nông nghiệp, còn lại trong công nghiệp thuỷ tinh và dược phẩm. Từ vài trăm năm trước đây asen đã được dùng phổ biến trong ngành thuộc da, là thành phần quan trọng của nhiều chất tạo màu, thuốc trừ côn trùng như các muối asenate của chì, natri, canxi, kẽm. Thuốc trừ cỏ cho công nghiệp trồng bông là mononatri methylasonate, axit dimethylasinic. Trong dược phẩm, dung dịch 1% kaliasenate (thuốc Fowler) đã được dùng để chữa bệnh bạch cầu, bệnh vảy nến, thấp khớp, hen, giang mai, v.

Tuy nhiên các sản phẩm trên đã bị hạn chế sử dụng từ những năm 1974 trên toàn thế giới, khi các hoá chất nông nghiệp chứa clo ra đời và trong y học người ta đã thay thế bằng nhiều thuốc kháng sinh mới. Với độc tính rất cao nên asen đã được dùng khá phổ biến làm thuốc độc giết người từ thời Trung cổ cho tới giữa thế kỷ 19 mới bị hạn chế do con người lúc đó đã có cách để phát hiện asen. Hiện nay, các hợp chất asen vẫn được dùng trong các ngành công nghiệp gỗ (chất bảo quản gỗ), công nghiệp thuỷ tinh (tạo độ trong suốt của thuỷ tinh), chế tạo vật liệu bán dẫn (galiasenit), nông nghiệp (chất làm rụng lá) [41, 97]. Do sự tồn tại vốn có trong môi trường tự nhiên nên asen có mặt ở tất cả các bộ phận của sinh quyển, tuy nhiên với các dạng hoá học và nồng độ khác nhau.

Trong mẫu nước, mẫu đất asen thường ở trạng thái vô cơ, ví dụ các muối asenite, asenate. Ngược lại trong mẫu thực vật, động vật thì asen ở trạng thái hữu cơ, ví dụ asenocholine, asenobetain. Nồng độ asen trung bình trong không khí tại các vùng nông thôn, xa khu công nghiệp nằm trong khoảng 0,02- 4 ng/m3, tại đô thị khoảng 3-200 ng/m3, còn ở các khu công nghiệp và vùng lân cận có thể lên tới 1000 ng/m3, đặc biệt ở các khu công nghiệp luyện kim màu [97]. Trong phần trên của nước biển, asen có mặt với nồng độ khoảng 1-2 µg/l.

Hàm lượng asen cũng thấp khoảng 10 µg/l ở vùng nước bề mặt như sông, hồ. Tuy nhiên, khi ở gần nguồn phát thải ô nhiễm như các vùng mỏ, nhà máy luyện kim thì lượng asen trong nước bề mặt có thể cao tới 5 mg/l.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ