Đặt vấn đề Hiện nay, cùng với sự phát triển chung của đất nước về kinh tế, chính trị, xã hội và đời sống của người dân cũng đã được cải thiện vượt bậc. Đi đôi với sự phát triển của xã hội và đời sống của người dân được nâng cao kéo theo đó là ô nhiễm môi trường và dịch bênh đang là một vấn nạn trong xã hội hiện nay. Theo báo cáo của Bộ y tế, tính đến tháng 10 năm 2007, cả nước có tới 1087 bệnh viên, trong đó có tới 1023, bệnh viên công, 64 bệnh viện tư với tổng số 140.000 giường bệnh. Bên cạnh đó, còn có 14 bệnh viện dự phòng, 189 trung tâm y tế dự phòng tuyến tỉnh, 680 trung tâm y tế huyện, 100 cơ sở nghiên cứu và đào tạo y dược và 181 công ty, xí nghiệp sản xuất thuốc, 10.999 Trạm y tế xã, phường.
Tổng chất thải rắn phát sinh từ các cơ sở y tế năm 2005 là vào khoảng 300 tấn/ngày, trong đố có 40 tấn/ngày là chất thải y tế nguy hại. Đến năm 2006, tính chung tỉ lệ bệnh viện có hệ thống xử ly nước thải là 37% và chỉ có 30% đạt tiêu chuẩn cho phép [12], [24]. Ô nhiễm môi trường do nước thải sinh hoạt gây ra được các chuyên gia môi trường đánh giá đang ở mức rất nghiêm trọng, thực trạng này đã được thể hiện trong nhiều báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Số liệu thống kê mới đây cho thấy, trung bình một ngày Hà Nội thải 458000 m3 nước thải, trong đó 41% là nước thải sinh hoạt, 57% nước thải công nghiệp, 2% nước thải bệnh viện.
Chỉ có khoảng 4% nước thải được xử lý. Phần lớn nước thải không được xử lý đổ vào các sông Tô Lịch và Kim Ngưu gây ô nhiễm nghiêm trọng 2 con sông này và các khu vực dân cư dọc theo sông [25], [18], [19]. Theo một số công trình nghiên cứu trước đây đá tiến hành điều tra về thực trạng cũng như các ảnh hưởng chất thải Y tế và nước thải sinh hoạt đối với môi trường. Qua điều tra cho thấy ở nhiều bệnh viện lớn đóng tại thành phố, nước thải cũng chỉ qua bể phốt rồi đi thẳng ra cống.
Khi đó Nước thải sinh hoạt chiếm trên 30% tổng lượng thải trực tiếp ra các sông hồ, hay kênh rạch dẫn ra sông. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số vi khuẩn E. coli, Coliforms trung bình biến đổi từ 1.500MNP/100ml ở các vùng ven sông Tiền và sông 2 Hậu, tăng lên tới 3800-12.500MNP/100ML ở các kênh tưới tiêu. Nước thải một phần chất hữu cơ và vẫn còn rất nhiều vi sinh vật gây bệnh [20], [8].
Nguồn nước thải Y tế và nước thải sinh hoạt đang là một trong những nguồn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và có thể là nguồn gây nhiễm bệnh cho các cộng đồng dân cư [20]. Xuất phát từ yêu cầu về các chỉ tiêu đối với nước thải Y tế và nước thải sinh hoạt, tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá mức độ ô nhiễm vi sinh vật gây bệnh trong nước thải trên địa bàn thành phố Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu Đánh giá thực trạng ô nhiễm vi sinh vật gây bệnh trong một số mẫu nước thải sinh hoạt và một số mẫu nước thải bệnh viện trên địa bàn thành phố Thái Nguyên. Yêu cầu nghiên cứu Khảo sát sơ bộ tình hình ô nhiễm nước thải sinh hoạt và nước thải Y tế trên địa bàn thành phố Thái Nguyên.
Đánh giá được sự ô nhiễm của vi khuẩn gây bệnh trong mẫu nước thải sinh hoạt và mẫu nước thải Y tế trên địa bàn thành phố Thái Nguyên. Xác định một số đặc tính sinh vật, hóa học của một số vi khuẩn phân lập được trong mẫu nghiên cứu. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Ý nghĩa khoa học Giúp sinh viên củng cố và hệ thống lại kiến thức đã học vào thực tế, đồng thời làm quen với các thoa tác kỹ thuận trong nghiên cứu khoa học. Biết được các phương pháp nghiên cứu một vấn đề khoa học, xử lý và phân tích số liệu, cách trình bày một bài báo cáo khoa học.
- Ý nghĩa thực tiễn Sử dụng một số phương pháp xác định vi sinh vật, khảo sát được thực trạng ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt và nước thải bệnh viện trên địa bàn thành phố Thái Nguyên. 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Khái niệm chung. Khái niệm nước thải Nước thải là chất lỏng được thải ra sau quá trình sử dụng của con người và đã thay đổi tính chất ban đầu của chúng.
Thông thường nước thải được phân loại theo nguồn gốc phát sinh. Đây cũng là những cơ sở cho việc lựa chọn công nghệ xử ly nước thải [25]. Nước thải sinh hoạt. Đây là loại nước thải phát sinh từ quá trình sinh hoạt của con người như vệ sinh, giặt giũ, chế biến thực phẩm,… tại các khu dân cư, khu vực hoạt động thương mại, công sở, trường học, bệnh viện và các cơ sở tương tự khác.
Thành phần của loại nước thải này tương đối dơn giản, bao gồm các chất hữa cơ dễ phân hủy (cacbon hydrat, protein, dầu mỡ,…), chất khoáng (photphat, nito, magie,…) và vi sinh vật [25]. Khái niệm về nước thải bệnh viện Nước thải bệnh viện là loại nước thải gây tác động đến môi trường. Nếu xét về góc độ hoá học thì tuy nước thải BV có chứa nhiều thành phần hữu cơ nhưng về các chỉ tiêu hoá chất cũng ít chỉ nhiều thành phần chất tẩy rửa, chất hoạt động bề mặt, sinh phẩm. Nhưng nó có chứa thành phần gây bệnh dịch như khuẩn, virut.
Thực trạng nguồn nước thải sinh hoạt và nguồn nước thải bệnh viện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Thực trang,tính chất, đặc điểm của nước thải bệnh viên. Thực trạng nước thải bệnh viên. Theo báo cáo năm 2011, các bệnh viện đa khoa huyện Phú Bình, Định Hóa và Võ Nhai số lượt bệnh nhân đến khám lần lượt là 51.000 lượt, đạt 85% kế hoạch năm.
Tuy nhiên, hiện trạng cơ sở hạ tầng đã xuống cấp, đặc biệt các công trình xử lý môi trường đã xuống cấp nghiêm trọng, chất thải phát sinh được xử lý không đạt yêu cầu [26], [2]. 4 Chất thải lỏng truyền nhiễm từ các phòng xét nghiệm, phẫu thuật, dịch lỏng từ cơ thể người bệnh, đặc biệt là dịch, máu thải phải được khử trùng tại khu xét nghiệm, phòng phẫu thuật, điều trị, buồng bệnh trước khi xả vào hệ thống nước thải chung. Nước thải Y tế chứa BOD (Biochemical oxygen Demand), COD(Chemical Oxygen Demand) , Tổng N, Tổng P, và tổng Coliforms, H2S cao, cần được xử lý tại hệ xử lý nước thải đáp ứng tiêu chuẩn xả thải. Công nghệ xử lý nước thải BV với đặc thù ô nhiễm vi sinh vật, ô nhiễm các chất hữu cơ và dinh dưỡng cần được khử trùng và giám sát trước khi xả thải.
Để đạt được hiệu quả khử trùng cao thì các chỉ tiêu như BOD, COD và đặc biệt hàm lượng amoni phải ở mức thấp cho phép. Bên cạnh đó, yêu cầu phân tách riêng từng dòng thải để xử lý chuyên biệt, vừa đảm bảo vi sinh vật môi trường, đảm bảo hệ xử lý nước thải Y tế hoạt động hiệu quả, chi phí xử lý thấp. Vì vậy, cần phải có nghiên cứu đánh giá hiện trạng, đề xuất các biện pháp cải thiện [24], [5]. Thành phần tính chất nước thải bệnh viện Nguồn gốc phát sinh nước thải bệnh viện Nước thải bệnh viện là một dạng của nước thải sinh hoạt và chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số lượng nước thải sinh hoạt của khu dân cư.
Tuy nhiên nước thải bệnh viện cực kỳ nguy hiểm về phương diện vệ sinh dịch tễ, bởi vì ở các bệnh viên tập trung người mắc bệnh là nguồn của nhiều loại bệnh với bệnh nguyên học đã biết hoặc đôi khi còn chưa biết đối với khoa học hiện đại. Nước thải bệnh viện ngoài ô nhiễm thông thường (ô nhiễm khoáng chất và ô nhiễm các chất hữa cơ) còn chưa các tác nhân gây bệnh, trứng giun, virut. Chúng đạc biệt nhiều nub ở bệnh viện có khoa chuyền nhiễm (lây). Còn nguy hiểm hơn về phương diện dịch tễ là nước thải của bệnh viện dịch tễ chuyên khoa, các trại điều dưỡng bệnh lao và những cơ sở lây bệnh khác.
Ô nhiễm trong điều kiện bệnh viện vào hệ thống thoát nước từ những thiết bị vệ sinh như hố xí, nhà tắm, chậu rửa mặt, từ giặt giũ, rửa thực phẩm, bát đĩa, từ việc làm vệ sinh phòng…khi mà những đối tượng đó tiếp xúc với người bệnh, kể cả từ các phòng đặc biệt khác của bệnh viện [7], [24], [8]. Quan trọng là phải xác định đúng lượng nước thải của bệnh viện trong một ngày để tính toán hệ thống thoát nước và lựa chọn sơ đồ công nghệ xử l nước thải 5 bênh viện. Người ta chấp nhận rằng tiêu chuẩn thoát nước bằng tiêu chuẩn cấp nước, do vậy hiển nhiên lượng nước mà bênh viện dùng trong một ngày sẽ chính là lượng nước thải trong một ngày. Theo nhiều tiêu chuẩn quốc gia của các nước thì lượng nước cấp tính trên một giường đối với các bệnh viện và nhà an dưỡng thông thường là 200- 250 l/ngày, còn nhiều tiêu chuẩn trên, ví dụ qua khảo sát ở nhiều bệnh viện thông thường ở Nga, Sec, Xlovakia, Bungari tiêu chuẩn nước cấp là 500 l/ngày [18].
thì tiêu chuẩn thải của bệnh viện là 473- 908 l/ngày (chỉ số tiêu biểu là 625 l/ngày) cho một giường bệnh. Còn ở Việt Nam theo TCVN 4470- 87 lưu lượng nước thải của bệnh viện đa khoa được xác định như sau: [16] Đối với các bệnh viện và nhà an dưỡng đặc biệt là 500 l/ngày. Tuy nhiên, thực tế lượng nước sử dụng lớn hơn 2. Nguy cơ dịch bệnh do nguồn nước ô nhiễm từ nước thải bệnh viện.
Chất thải y tế là môi trường có khả năng chứa đựng các loại vi sinh vật gây bệnh, các chất độc hại như hóa chất, chất gây độc tế bào, chất phóng xạ.Các nghiên cứu dịch tễ học trên thế giới đã chứng minh, các chất thải bệnh viện có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cán bộ, nhân viên y tế, cộng đồng dân cư nếu CTYT không được quản lý đúng cách. Các tác nhân gây bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể con người qua các đường: Qua các vết da bị xây xước hoặc bị thương, qua đường hô hấp (do hít phải), qua đường tiêu hóa), tác động gián tiếp do ô nhiễm môi trường, hoặc tiếp xúc với các tác nhân trung gian như ruồi, muỗi, chuột….