BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN NGUYỄN THỊ HỒNG LOAN ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ Ô NHIỄM VI NHỰA Ở HÀU CỬA SÔNG (Crassostrea rivularis) VÀ NGAO DẦU (Meretrix meretrix) TẠI ĐẦM THỊ NẠI, TỈNH BÌNH ĐỊNH LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC THỰC NGHIỆM Bình Định – Năm 2022 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN NGUYỄN THỊ HỒNG LOAN ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ Ô NHIỄM VI NHỰA Ở HÀU CỬA SÔNG (Crassostrea rivularis) VÀ NGAO DẦU (Meretrix meretrix) TẠI ĐẦM THỊ NẠI, TỈNH BÌNH ĐỊNH Chuyên nghành: Sinh học thực nghiệm Mã số : 8420114 Người hướng dẫn: TS. VÕ VĂN CHÍ LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu được viết trong đề tài luận văn “Đánh giá mức độ ô nhiễm vi nhựa ở hàu cửa sông (Crassostrea rivularis) và ngao dầu (Meretrix meretrix) tại đầm Thị Nại, tỉnh Bình Định” là hoàn toàn trung thực, do tôi tiến hành dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Võ Văn Chí và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin được trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Hồng Loan LỜI CẢM ƠN Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Sinh học thực nghiệm với đề tài “Đánh giá mức độ ô nhiễm vi nhựa ở hàu cửa sông (Crassostrea rivularis) và ngao dầu (Meretrix meretrix) tại đầm Thị Nại, tỉnh Bình Định” được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Công nghệ Sinh học, Khoa Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Quy Nhơn dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trong suốt quá trình thực hiện luận văn, tôi luôn nhận được sự định hướng khoa học, hỗ trợ, quan tâm, động viên của thầy hướng dẫn. Bằng tất cả sự kính trọng, lòng biết ơn, tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy, TS. Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Ban giám hiệu trường đại học Quy Nhơn, các cán bộ Phòng đào tạo sau đại học, Khoa KHTN của nhà trường, cảm ơn quý thầy cô giáo trong tổ bộ môn Sinh học ứng dụng – Nông nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các học viên trong lớp cao học Sinh học thực nghiệm K23 nói chung và bản thân tôi nói riêng hoàn thành khóa học.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ nhiệt thành, động viên và thông cảm từ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp tại trường THPT Hòa Bình mà tôi đang công tác trong suốt quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn. Quy Nhơn, ngày 29 tháng 08 năm 2022 Tác giả luận văn Nguyễn Thị Hồng Loan MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN. Lý do chọn đề tài. Mục tiêu nghiên cứu.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Ý nghĩa khoa học. Ý nghĩa thực tiễn. TỔNG QUAN TÀI LIỆU.
Những thông tin chung về rác thải nhựa và vi nhựa. Nguồn gốc của rác thải nhựa. Vi nhựa và nguồn phát sinh vi nhựa. Tình hình nghiên cứu về ô nhiễm vi nhựa.
Tình hình nghiên cứu ô nhiễm vi nhựa trên thế giới. Tình hình nghiên cứu ô nhiễm vi nhựa ở Việt Nam. Tác động của rác thải nhựa – vi nhựa đến sinh vật và con người. Nhận định các nguồn ô nhiễm rác thải nhựa ở đầm Thị Nại.
Sơ lược một vài đặc điểm của hàu cửa sông và ngao dầu. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Đối tượng nghiên cứu. Thời gian và địa điểm nghiên cứu.
Nội dung nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu. Phương pháp thu mẫu. Phương pháp xử lý và phân tích mẫu.
Phương pháp thu thập và xử lý số liệu. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN. Hình dạng vi nhựa tích tụ ở hàu cửa sông và ngao dầu. Mật độ vi nhựa tích tụ ở hàu cửa sông và ngao dầu.
So sánh mật độ vi nhựa giữa hai mùa ở mỗi loài. So sánh mật độ vi nhựa giữa hai loài trong cùng một mùa. Kích thước vi nhựa tích tụ ở hàu cửa sông và ngao dầu. Kích thước vi nhựa dạng sợi.
Kích thước vi nhựa dạng mảnh. Màu sắc vi nhựa tích tụ ở hàu cửa sông và ngao dầu. Màu sắc vi nhựa dạng sợi. Màu sắc vi nhựa dạng mảnh.
60 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. Về hình dạng vi nhựa. Về mật độ vi nhựa. Về kích thước vi nhựa.
Về màu sắc vi nhựa. 67 DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 3. Các dạng vi nhựa tìm thấy ở hàu cửa sông và ngao dầu. Kết quả so sánh mật độ sợi vi nhựa ở mỗi loài theo hai mùa.
Kết quả so sánh mật độ mảnh vi nhựa ở mỗi loài theo hai mùa. Kết quả so sánh tổng số vi nhựa tích tụ ở mỗi loài theo hai mùa. Kết quả so sánh mật độ sợi vi nhựa ở hai loài theo từng mùa. Kết quả so sánh mật độ mảnh vi nhựa ở các loài theo từng mùa.
Kết quả so sánh mật độ tổng số vi nhựa ở hai loài hàu cửa sông và ngao dầu theo từng mùa. Tương quan giữa số vi và khối lượng hàu của sông và ngao dầu. 444 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH Hình 1. Hàu cửa sông (Crassostrea rivularis) và Ngao dầu (Meretrix meretrix).
Địa điểm thu mẫu hàu cửa sông và ngao dầu trên đầm Thị Nại……. Sự phân bố chiều dài sợi vi nhựa được ghi nhận ở hàu cửa sông và ngao dầu trong mùa mưa……………………………………………………………. Sự phân bố chiều dài sợi vi nhựa được ghi nhận ở hàu cửa sông và ngao dầu trong mùa khô. Sự phân bố chiều dài sợi vi nhựa được ghi nhận ở loài hàu cửa sông trong mùa mưa và mùa khô.
Sự phân bố chiều dài sợi vi nhựa được ghi nhận ở loài ngao dầu trong mùa mưa và mùa khô. Sự phân bố diện tích các mảnh vi nhựa ở hàu cửa sông và ngao dầu trong mùa mưa. Sự phân bố diện tích mảnh vi nhựa ở hàu cửa sông và ngao dầu trong mùa khô. Sự phân bố diện tích các mảnh vi nhựa ở hàu cửa sông trong mùa mưa và mùa khô.
Sự phân bố diện tích mảnh vi nhựa ở ngao dầu trong mùa mưa và mùa khô. Phân bố màu sắc các sợi vi nhựa ở hai loài hàu cửa sông và ngao dầu trong mùa mưa. Phân bố màu sắc sợi vi nhựa ở hàu cửa sông và ngao dầu trong mùa khô. Phân bố màu sắc sợi vi nhựa ở hàu cửa sông trong mùa mưa và mùa khô.
Phân bố màu sắc các sợi vi nhựa ở ngao dầu trong mùa mưa và mùa khô. Phân bố màu sắc mảnh vi nhựa ở hàu cửa sông và ngao dầu trong mùa mưa. Phân bố màu sắc mảnh vi nhựa ở hàu cửa sông và ngao dầu trong mùa khô. Phân bố màu sắc mảnh vi nhựa ở hàu cửa sông trong mùa mưa và mùa khô.
Phân bố màu sắc mảnh vi nhựa ở ngao dầu trong mùa mưa và mùa khô. Lý do chọn đề tài Ô nhiễm môi trường do rác thải nhựa đang là vấn đề đáng quan tâm trên toàn cầu. Mỗi năm hàng triệu tấn rác nhựa được thải ra ngoài các đại dương gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống tự nhiên và cả sức khỏe con người. Mặc dù vậy, sản lượng nhựa trên toàn cầu vẫn tăng đều trong những năm qua, đạt 368 triệu tấn vào năm 2019 [83].
Việt Nam có mức độ ô nhiễm nhựa biển đứng thứ ba ở Đông Nam Á với 6%, sau Indonesia (10%), Philippines (6%) (Jambeck và cộng sự, 2015 ) [44]. Ngành nhựa Việt Nam đã tiêu thụ khoảng 5,9 triệu tấn nguyên liệu nhựa nguyên sinh, tương đương với mức tiêu thụ nhựa bình quân đầu người là 63 kg/người/năm vào năm 2017 (năm 2015 là 41kg/người/năm) [75]. Chỉ trong 3 năm, từ 2015 đến 2018 nước ta đã nhập một lượng phế liệu nhựa tăng 111% [17]. Nước ta là nước xả thải rác thải nhựa đứng thứ tư trên thế giới với khoảng 1,8 triệu tấn rác thải nhựa nhưng chỉ có 27% được tái chế [44].
Sự ô nhiễm nhựa trong môi trường nước biển được đánh giá đầu tiên vào năm 1972 (Carpenter và Smith, 1972) [26], cho đến nay nhựa được ước tính chiếm từ 50 đến 80 % tổng lượng rác trên bãi biển (Barnes và cộng sự, 2009) [24]. Rác thải nhựa khi trôi ra biển và đại dương gặp các điều kiện thuận lợi như nhiệt độ cao, cường độ phóng xạ cao, sóng và gió lớn,…sẽ phân tách thành những mẫu nhựa có kích thước nhỏ hơn rất nhiều (khoảng 1μm đến 5mm) được các nhà khoa học gọi là vi nhựa [25], [15]. Những hạt vi nhựa này một phần lắng đọng, lưu giữ trong các lớp trầm tích, phần còn lại lơ lửng tiếp tục chảy trên bề mặt và vô tình được các sinh vật thủy sinh ăn vào [14]. Từ đây, vi nhựa đã theo nguồn nước uống, theo chuỗi thức ăn đi vào cơ thể của hầu hết các nhóm ngành động vật như động vật 2 phù du [30], [78], ở động vật không xương sống [74], [85], ở cá [64], [65], [86], ở chim [20] và cả ở động vật có vú [62], [63].
Điều đáng báo động là vi nhựa đã có mặt ở hầu hết các bộ phận trong cơ thể người như máu, phổi,…[40], [52]. Một số hóa chất được sử dụng như chất phụ gia (alkylphenol, phthalates, bisphenol A, organophos phates, PBDEs) trong quá trình sản xuất nhựa để tạo ra các đặc tính bền, chống thấm, dẻo, nhẹ, chống cháy,…Mặt khác, chất dẻo trong nhựa có khả năng hấp phụ các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP) (Bakir và cộng sự, 2012, 2014) [22], [23] cũng như các kim loại (Mato và cộng sự, 2001; Turner và Holmes, 2015) [56], [84] khi chúng ở trong môi trường nước. Những chất độc hại này khi xuất hiện trong cơ thể sinh vật cũng như con người sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng như biến đổi các mô, làm thay đổi thói quen ăn uống, chậm lớn, thậm chí rút ngắn tuổi thọ [27], [29], [47], [49], [50], [51], [89]. Các vùng ven bờ ở nhiều nơi trên thế giới là nơi tích tụ một lượng lớn rác thải nhựa do con người xả ra [40].
Với đường bờ biển kéo dài hơn 3260 km, với nhiều vũng, vịnh, đầm, phá, Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển cũng như các ngành nghề du lịch. Tuy nhiên, nước ta cũng đang phải đối mặt với thực trạng ô nhiễm rác thải nhựa nói chung cũng như vi nhựa nói riêng tại các vùng ven bờ với các mức độ khác nhau [52].