Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa (CNH-HĐH) tại Việt Nam đem lại sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng nhưng đồng thời tạo ra sức ép nặng nề đối với tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường sống. Trong khu vực nông thôn, hệ thống làng nghề truyền thống đóng vai trò quan trọng đối với giải quyết việc làm và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tuy nhiên, tình trạng phát triển tự phát, quy mô phân tán và công nghệ sản xuất lạc hậu đã khiến môi trường tại nhiều làng nghề rơi vào mức "báo động đỏ", đe dọa trực tiếp đến hệ sinh thái và sức khỏe của cộng đồng dân cư.
Theo số liệu thống kê của Sở Công Thương tỉnh Thái Bình, toàn tỉnh có 241 làng nghề đã được Ủy ban nhân dân tỉnh cấp bằng công nhận tính đến cuối năm 2012 (theo Quyết định số 2970/QĐ-UBND ngày 18/12/2012, tăng 8 làng nghề so với cùng kỳ năm trước). Trong số đó, làng nghề chế biến thủy sản tại xã Thụy Hải (huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình) là điểm nóng về phát triển kinh tế biển kết hợp tiểu thủ công nghiệp. Dù mang lại nguồn thu nhập lớn cho địa phương, hoạt động sơ chế và chế biến thủy hải sản tại đây phát sinh lượng chất thải hữu cơ khổng lồ. Toàn bộ nước thải sản xuất phần lớn chưa qua xử lý được xả thẳng ra hệ thống kênh mương thoát nước chung, khu vực trong và ngoài đê, gây ô nhiễm nghiêm trọng khu vực cảng Tân Sơn và vùng biển ven bờ.
Nhằm đánh giá khoa học và toàn diện mức độ suy thoái môi trường nước tại địa bàn, đề tài khóa luận tốt nghiệp được xây dựng với hệ thống mục tiêu xác định:
- Mục tiêu chung: Đánh giá ảnh hưởng của nước thải từ hoạt động chế biến thủy sản tới sức khỏe và môi trường, từ đó đề xuất giải pháp nhằm cải thiện ô nhiễm môi trường nước tại làng nghề chế biến thủy sản xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá thực trạng môi trường nước tại làng nghề chế biến thủy sản xã Thụy Hải.
- Xác định được mức độ ô nhiễm nguồn nước tại làng nghề.
- Tìm hiểu những ảnh hưởng của môi trường nước làng nghề đến sức khỏe người dân.
- Đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại làng nghề chế biến thủy sản xã Thụy Hải.
- Đối tượng nghiên cứu: Nước thải phát sinh từ hoạt động chế biến thủy sản và hiện trạng các nguồn nước (nước mặt ven biển, nước ngầm, nước sinh hoạt) tại làng nghề xã Thụy Hải.
- Phạm vi không gian: Làng nghề chế biến thủy sản xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình; kết hợp làm việc cùng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Thái Thụy và thực hiện phân tích tại Phòng thí nghiệm Khoa Môi trường – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01/2014 đến tháng 04/2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập nền tảng lý luận dựa trên các khái niệm quy chuẩn về làng nghề nông thôn, môi trường, ô nhiễm nước, bản chất hình thành của nước thải và nguồn thải công nghiệp chế biến thủy sản. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước được phân tích chi tiết gồm ba nhóm:
- Chỉ tiêu vật lý: Độ pH, nhiệt độ, màu sắc, độ đục, tổng hàm lượng chất rắn (TS), tổng chất rắn lơ lửng (SS/TSS), tổng chất rắn hòa tan (DS), chất rắn dễ bay hơi (VSS, VDS).
- Chỉ tiêu hóa học: Độ kiềm toàn phần, độ cứng (Ca²⁺, Mg²⁺), oxy hòa tan (DO), nhu cầu oxy hóa học (COD), nhu cầu oxy sinh hóa (BOD₅), hàm lượng sắt tổng số (Fe), clorua (Cl⁻), sulfat (SO₄²⁻), hợp chất nitơ và phospho.
- Chỉ tiêu vi sinh: Khuẩn Escherichia coli (E. coli) và tổng số vi khuẩn Coliform.
Hệ thống cơ sở pháp lý và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia được viện dẫn làm thước đo đánh giá gồm: Luật Bảo vệ môi trường 2005; Luật Tài nguyên nước 2012; các Nghị định số 80/2006/NĐ-CP, Nghị định số 179/1999/NĐ-CP, Nghị định số 149/2004/NĐ-CP, Nghị định số 34/2005/NĐ-CP, Nghị định số 88/2007/NĐ-CP; Thông tư số 46/2011/TT-BTNMT; Quyết định số 16/2007/QĐ-TTg, Quyết định số 1216/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 2289/QĐ-UBND tỉnh Thái Bình; Chỉ thị số 01/1998/CT-TTg và Chỉ thị số 20/1998/CT-UB tỉnh Thái Bình. Các quy chuẩn đối chiếu trực tiếp gồm: QCVN 11:2008/BTNMT (nước thải công nghiệp chế biến thủy sản), QCVN 10:2008/BTNMT (nước biển ven bờ), QCVN 09:2008/BTNMT (nước ngầm).
Tác giả vận dụng phối hợp 5 phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và định lượng:
- Phương pháp kế thừa tài liệu: Thu thập dữ liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và số liệu quản lý môi trường từ UBND xã Thụy Hải và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Thái Thụy.
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp (Điều tra xã hội học): Thiết kế và phát phiếu điều tra phỏng vấn trực tiếp 50 hộ dân tại xã Thụy Hải (bao gồm cả các hộ trực tiếp làm nghề chế biến thủy sản và các hộ không làm nghề) nhằm khảo sát nhận thức môi trường, nguồn nước sử dụng và tình hình bệnh tật.
- Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm: Lấy mẫu nước thải hiện trường và phân tích 11 thông số (pH, BOD₅, COD, DO, TSS, Clo, Fe, NH₄⁺, Tổng N, Tổng P, Coliform) tại Phòng thí nghiệm Khoa Môi trường – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Các phương pháp chuẩn quốc gia được áp dụng bao gồm: TCVN 6492:2011 (pH), TCVN 6001:2008 (BOD₅), TCVN 4564:1988 (COD), TCVN 5499:1995 (DO theo phương pháp Winkler), TCVN 6625:2000 (TSS), TCVN 6494:1999 (Clo), TCVN 6177:1996 (Fe), TCVN 5988:1995 (NH₄⁺), TCVN 5987:1995 (Tổng N theo Kjeldahl), TCVN 6202:2008 (Tổng P), TCVN 6187:1996 (Coliform).
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu các giá trị đo đạc thực nghiệm với giá trị giới hạn tối đa cho phép theo các Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia hiện hành.
- Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê, tổng hợp dữ liệu thô và vẽ biểu đồ so sánh bằng phần mềm Microsoft Excel.
Nguồn dữ liệu bao gồm số liệu đo đạc thực tế tại địa phương năm 2014, số liệu thống kê của Cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản (Nafiqad), Viện Nghiên cứu Hải sản (Viện NCHS), Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) và các báo cáo định kỳ của huyện Thái Thụy.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Phần mở đầu xác lập tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh các làng nghề chế biến thủy sản tại huyện Thái Thụy đang phát triển mạnh mẽ về mặt sản lượng nhưng lại thiếu hệ thống xử lý môi trường đồng bộ. Tác giả công bố rõ ràng hệ thống mục tiêu nghiên cứu (mục tiêu chung và 4 mục tiêu cụ thể), làm rõ ý nghĩa khoa học trong việc tích lũy kỹ năng nghiên cứu thực nghiệm và ý nghĩa thực tiễn đối với công tác quy hoạch, quản lý môi trường nước tại địa phương ven biển.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương tổng quan hệ thống hóa cơ sở lý luận và bức tranh thực tế về ngành chế biến thủy sản trên ba quy mô:
- Trên thế giới: Sản lượng khai thác toàn cầu năm 2011 đạt 90,4 triệu tấn (khai thác biển chiếm 78,9 triệu tấn, nội đồng chiếm 11,5 triệu tấn). Nhu cầu chế biến tăng mạnh tại các khu vực Châu Á, Châu Âu, Bắc Mỹ; đơn cử Thái Lan xuất khẩu surimi năm 2013 đạt 23.685 tấn (trị giá 72,7 triệu USD) và các tập đoàn lớn như Thai Union Frozen Products (TUF) mở rộng mạng lưới toàn cầu.
- Tại Việt Nam: Đến năm 2012, toàn quốc có 570 cơ sở chế biến quy mô công nghiệp và hàng nghìn cơ sở gia công thủ công hộ gia đình với tổng công suất khoảng 2,5 triệu tấn sản phẩm/năm, kim ngạch xuất khẩu đạt 4,2 tỷ USD vào năm 2009. Tuy nhiên, hoạt động này gây ô nhiễm nghiêm trọng: sản xuất 1 tấn tôm thành phẩm thải ra 0,75 tấn phế thải; 1 tấn cá tra phi lê phát sinh 1,8 tấn phế liệu. Khảo sát của Viện NCHS và Bộ NN&PTNT cho thấy nước thải chế biến có BOD vượt 10–30 lần, COD vượt 9–19 lần quy chuẩn; 15,92% cơ sở chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải và 70,52% thiết bị không có bộ phận xử lý khí thải.
- Tại Thái Bình và huyện Thái Thụy: Tỉnh có 52 km bờ biển, sản lượng khai thác năm 2012 đạt 49.000 tấn với 1.479 tàu cá (tổng công suất 75.000 CV). Riêng huyện Thái Thụy có 27 km bờ biển, 147 doanh nghiệp, cơ sở, hộ và 4 làng nghề chế biến hải sản (tại các xã Thụy Xuân, Thụy Trường, Thụy Hải, Thụy Lương và thị trấn Diêm Điền) thu hút 2.000 lao động. Một số cơ sở quy mô lớn như Công ty Thiên Lý (sản xuất 7.000 tấn bột cá từ 2009 đến 2014, doanh thu 124 tỷ đồng), Công ty TNHH Rich Beauty (vốn đầu tư 3 triệu USD, chế biến tôm cá đông lạnh xuất khẩu Nhật Bản). Tại huyện Thái Thụy, hàm lượng BOD trong nước thải chế biến nông sản, thực phẩm thường dao động từ 120 đến 300 mg/l, vượt quy chuẩn từ 4 đến 10 lần.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết phương pháp tiếp cận đối tượng nước thải làng nghề xã Thụy Hải; thời gian nghiên cứu kéo dài 4 tháng (01/2014 – 04/2014). Tác giả mô tả chi tiết quy trình lấy mẫu, các phương pháp phân tích 11 thông số lý hóa và vi sinh theo TCVN tại phòng thí nghiệm chuyên ngành, quy trình phỏng vấn xã hội học đối với 50 hộ gia đình và quy chuẩn kỹ thuật áp dụng làm căn cứ đánh giá.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương kết quả tập trung phân tích các khía cạnh tự nhiên, sản xuất và ô nhiễm thực tế tại xã Thụy Hải:
- Điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội: Xã có diện tích 693,70 ha, địa hình bằng phẳng thuộc châu thổ sông Hồng (độ cao từ 0,70 đến 1,25 m), khí hậu nhiệt đới gió mùa ven biển với lượng mưa trung bình 1.788 mm/năm (mùa hè chiếm 80%). Có 3 nhóm đất chính gồm đất cồn cát (370 ha), cát giồng (35 ha) và đất mặn sú vẹt (280 ha). Nước ngầm có độ khoáng hóa cao (2,5 – 16,3 g/l) không thể dùng cho sinh hoạt. Dân số toàn xã là 4.963 người (1.500 hộ). Tổng giá trị sản xuất năm 2012 đạt 28 tỷ đồng (kinh tế biển chiếm 38,5%, chế biến xuất khẩu chiếm 9,2%, dịch vụ – TTCN chiếm 43,2%), tốc độ tăng trưởng 13%, thu nhập bình quân đầu người đạt 5,2 triệu đồng/năm.
- Hiện trạng sản xuất và quy trình công nghệ: Nguyên liệu tôm và cá trung bình tại một cơ sở khoảng 70 tấn/tháng; sử dụng 30.000 thùng carton/tháng, 4 tấn muối/tháng, 1.500 kg than/tháng và điện năng tiêu thụ 200 KW/ngày. Tác giả khảo sát chi tiết 3 quy trình công nghệ gồm:
- Quy trình sản xuất cá nướng: Tiếp nhận $\rightarrow$ ngâm dung dịch muối đá 2% ($\le 4^\circ\text{C}$, $\le 30$ phút) $\rightarrow$ xử lý nguội $\rightarrow$ chặt lát $\rightarrow$ phân loại, tẩy rửa bằng chlorine $\rightarrow$ rửa nước muối $\rightarrow$ nướng $\rightarrow$ đóng túi $\rightarrow$ làm lạnh $\rightarrow$ rà loại bỏ kim loại $\rightarrow$ đóng kiện, nhập kho.
- Quy trình sản xuất tôm bóc vỏ: Tiếp nhận $\rightarrow$ đắp đá bảo quản ($<4^\circ\text{C}$) $\rightarrow$ bóc đầu, rút ruột $\rightarrow$ rửa trong nước lạnh ($6^\circ\text{C}$, chlorine 15 ppm) $\rightarrow$ đóng hộp $\rightarrow$ làm lạnh ($-10^\circ\text{C} \div -15^\circ\text{C}$) $\rightarrow$ rà kim loại $\rightarrow$ đóng kiện, nhập kho.
- Quy trình sản xuất tôm chín đông lạnh: Tương tự quy trình bóc vỏ nhưng có thêm công đoạn ngâm chlorine 15 ppm và luộc chín trước khi bóc vỏ và làm lạnh sâu.
- Hiện trạng cấp và thoát nước: 62% số hộ điều tra sử dụng nước máy (31 hộ), 30% dùng nước giếng khoan (15 hộ), 8% dùng giếng đào (4 hộ). Toàn bộ nước thải không có hệ thống gom riêng mà chảy chung vào cống thoát nước mưa rồi đổ ra cảng Tân Sơn và biển.
- Đánh giá hiện trạng ô nhiễm nước thải: Toàn xã có 30 hộ chế biến cá, thải lượng nước thải bình quân mỗi hộ từ 15 đến 20 m³/ngày (điển hình hộ Tô Thị Hường, Nguyễn Thị Hòa thải 30–50 m³/ngày). Hầu hết xả thẳng, chỉ có Công ty Rich Beauty và hộ Trần Danh Tuyên có trạm xử lý (song chắn rác $\rightarrow$ bể cân bằng $\rightarrow$ bể điều hòa sục khí $\rightarrow$ bể bùn hoạt tính hiếu khí).
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng hợp các phát hiện nghiên cứu về sự quá tải của hệ sinh thái tiếp nhận nước thải chế biến, khẳng định ô nhiễm hữu cơ và vi sinh là hai vấn đề nghiêm trọng nhất. Tác giả đưa ra các kiến nghị mang tính thực thi đối với Ủy ban nhân dân huyện Thái Thụy và các đơn vị liên quan nhằm kiểm soát nguồn thải và hỗ trợ người dân chuyển đổi công nghệ xử lý.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận cung cấp bộ số liệu định lượng về chất lượng nước thải tại 2 vị trí quan trắc đại diện của làng nghề chế biến thủy sản xã Thụy Hải vào ngày 06/03/2014, so sánh trực tiếp với Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia QCVN 11:2008/BTNMT (Cột B):
| STT |
Thông số phân tích |
Đơn vị |
Mẫu NT1 (Công ty CP Đạt Doan) |
Mẫu NT2 (Cơ sở Biển Đông) |
QCVN 11:2008/BTNMT (Cột B) |
| 1 |
pH |
- |
6,76 |
7,63 |
5,5 – 9,0 |
| 2 |
TSS |
mg/l |
528,60 |
848,64 |
100 |
| 3 |
DO |
mg/l |
3,60 |
3,90 |
- |
| 4 |
COD |
mg/l |
153,60 |
356,00 |
80 |
| 5 |
BOD₅ |
mg/l |
122,80 |
284,80 |
50 |
| 6 |
Sắt tổng số (Fe) |
mg/l |
0,106 |
0,010 |
5 |
| 7 |
Tổng Nitơ (N) |
mg/l |
104,00 |
120,86 |
60 |
| 8 |
Tổng Phospho (P) |
mg/l |
9,00 |
8,45 |
- |
| 9 |
Coliform |
MPN/100ml |
$1,1 \times 10^5$ |
5.000 |
5.000 |
Ghi chú:
- Mẫu NT1: Lấy tại cống xả của Công ty CP Nông thủy sản Đạt Doan lúc 14h28 ngày 06/03/2014.
- Mẫu NT2: Lấy tại cửa xả ra biển của Cơ sở chế biến thủy sản Biển Đông lúc 14h40 ngày 06/03/2014.
Số liệu phân tích cho thấy:
- Hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) vượt quy chuẩn từ 5,28 lần (mẫu NT1) đến 8,48 lần (mẫu NT2).
- Ô nhiễm hữu cơ biểu hiện rất cao: COD vượt từ 1,92 lần đến 4,45 lần; BOD₅ vượt từ 2,45 lần đến 5,69 lần.
- Hàm lượng Tổng Nitơ vượt giới hạn cho phép từ 1,73 lần đến 2,01 lần.
- Chỉ tiêu vi sinh Coliform tại mẫu NT1 đạt $1,1 \times 10^5\text{ MPN/100ml}$, vượt ngưỡng quy chuẩn tới 22 lần.
Tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp can thiệp cụ thể:
- Giải pháp quản lý và quy hoạch: Quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề tập trung xa khu dân cư; xây dựng hương ước làng nghề gắn liền với cam kết bảo vệ môi trường; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sản xuất.
- Giải pháp kỹ thuật - công nghệ: Tách riêng hệ thống thoát nước mưa và hệ thống thu gom nước thải chế biến; xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung ứng dụng phương pháp sinh học hiếu khí có sục khí và bể bùn hoạt tính; triệt để thu gom phế phụ phẩm (đầu cá, xương, nội tạng, vỏ tôm) để bán cho các cơ sở sản xuất bột cá và thức ăn chăn nuôi nhằm giảm tải hữu cơ vào dòng nước thải.
- Giải pháp bảo vệ sức khỏe cộng đồng: Mở rộng 100% tỷ lệ cấp nước sạch từ nhà máy nước thay thế nước giếng khoan/giếng đào; trang bị bảo hộ lao động cho công nhân chế biến và định kỳ tổ chức khám sức khỏe nghề nghiệp.
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc lượng hóa chính xác nồng độ các chất ô nhiễm đặc thù từ hoạt động chế biến thủy sản quy mô làng nghề tại Thụy Hải năm 2014, chỉ rõ sự thiếu hụt hạ tầng xử lý chất thải lỏng và cung cấp luận cứ thực tiễn cho công tác quản lý tài nguyên môi trường cấp huyện.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận được triển khai trong khuôn khổ đề tài tốt nghiệp đại học nên tồn tại một số giới hạn thực tế:
- Phạm vi quan trắc thực nghiệm chỉ thực hiện lấy mẫu nước thải tại 2 vị trí đại diện trong một đợt quan trắc (tháng 3/2014), chưa bao quát được toàn bộ biến thiên nồng độ chất ô nhiễm theo chu kỳ mùa vụ khai thác và thời tiết trong năm.
- Số lượng phiếu khảo sát xã hội học dừng lại ở quy mô 50 hộ dân, mang tính chất nhận diện sơ bộ nhận thức và sức khỏe cộng đồng.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định dựa trên phạm vi đề tài:
- Thiết lập mạng lưới quan trắc định kỳ liên tục theo mùa (mùa mưa, mùa khô, vụ cá nổi) đối với các tầng nước mặt ven biển, nước cửa sông và nước dưới đất tại xã Thụy Hải.
- Tính toán thiết kế chi tiết kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế – kỹ thuật của mô hình trạm xử lý nước thải tập trung ứng dụng công nghệ sinh học phù hợp với điều kiện tài chính của làng nghề cấp xã.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kỹ thuật Môi trường khi thực hiện các đồ án, đề tài đánh giá tác động môi trường hoặc nghiên cứu ô nhiễm làng nghề chế biến thủy hải sản.
- Cán bộ quản lý môi trường tại các phòng ban chuyên môn cấp huyện, UBND cấp xã khu vực ven biển đang gặp bài toán tương tự về xử lý nước thải sơ chế thủy sản phân tán.
- Các nội dung có giá trị tham khảo nổi bật: Sơ đồ chi tiết 3 quy trình công nghệ chế biến thủy sản (cá nướng, tôm bóc vỏ, tôm chín đông lạnh), quy trình phân tích 11 thông số nước theo các tiêu chuẩn TCVN và mô hình xử lý nước thải bằng bể bùn hoạt tính sục khí áp dụng cho cơ sở chế biến quy mô vừa và nhỏ.
Câu hỏi thường gặp
1. Khối lượng nước thải phát sinh bình quân của mỗi hộ chế biến cá tại xã Thụy Hải là bao nhiêu và được xả đi đâu?
Toàn xã có khoảng 30 hộ sản xuất chế biến cá; lượng nước thải phát sinh bình quân mỗi hộ dao động từ 15 đến 20 m³/ngày (riêng một số hộ quy mô lớn như hộ Tô Thị Hường, Nguyễn Thị Hòa phát sinh từ 30 đến 50 m³/ngày). Toàn bộ lượng nước thải này chủ yếu được xả trực tiếp ra hệ thống rãnh thoát nước chung của làng xóm rồi đổ thẳng ra cảng Tân Sơn và vùng biển ven bờ mà không qua xử lý.
2. Các chỉ tiêu ô nhiễm đặc trưng nào trong nước thải chế biến thủy sản tại Thụy Hải vượt quy chuẩn cao nhất?
Dựa trên kết quả phân tích theo QCVN 11:2008/BTNMT Cột B:
- Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) vượt từ 5,28 đến 8,48 lần (đo được 528,60 – 848,64 mg/l so với quy chuẩn 100 mg/l).
- Ô nhiễm hữu cơ (BOD₅) vượt từ 2,45 đến 5,69 lần (đo được 122,80 – 284,80 mg/l so với quy chuẩn 50 mg/l).
- Vi sinh vật Coliform tại mẫu nước thải công ty Đạt Doan đạt $1,1 \times 10^5\text{ MPN/100ml}$, vượt ngưỡng quy chuẩn cho phép 22 lần.
3. Hiện trạng sử dụng nguồn nước sinh hoạt của người dân xã Thụy Hải được ghi nhận ra sao?
Kết quả phỏng vấn 50 hộ dân cho thấy có 62% số hộ (31 phiếu) sử dụng nước máy cấp cho sinh hoạt, 30% số hộ (15 phiếu) khai thác sử dụng nước giếng khoan và 8% số hộ (4 phiếu) sử dụng nước giếng đào. Nguồn nước ngầm tại chỗ của xã bị nhiễm mặn và có độ khoáng hóa cao từ 2,5 đến 16,3 g/l nên không đảm bảo tiêu chuẩn nước ăn uống trực tiếp.
4. Quy trình xử lý nước thải của Công ty TNHH Thực phẩm Rich Beauty và hộ ông Trần Danh Tuyên gồm những công đoạn nào?
Quy trình xử lý gồm 4 bước nối tiếp: Nước thải đi qua song chắn rác để giữ lại tạp chất thô $\rightarrow$ chảy vào bể chứa nồng độ cao để ổn định tải lượng $\rightarrow$ dẫn vào bể điều tiết có máy sục khí nhằm cân bằng phụ tải hữu cơ và giảm chỉ số COD $\rightarrow$ dẫn vào bể bùn hoạt tính hiếu khí có máy thổi khí nuôi cấy vi sinh vật để phân hủy chất hữu cơ triệt để trước khi xả ra mương thoát dẫn ra biển.
5. Cơ cấu kinh tế và mức tiêu hao nguyên nhiên liệu trung bình tại một cơ sở chế biến thủy sản ở xã Thụy Hải như thế nào?
Năm 2012, cơ cấu GDP của xã gồm: kinh tế biển chiếm 38,5%, chế biến xuất khẩu thủy sản chiếm 9,2%, thương mại – dịch vụ – tiểu thủ công nghiệp chiếm 43,2%. Trung bình một cơ sở sản xuất tiêu thụ khoảng 70 tấn nguyên liệu tôm/cá/tháng, 30.000 thùng carton/tháng, 4 tấn muối/tháng, 1.500 kg than/tháng và 200 KW điện/ngày.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Phương đã phản ánh chân thực và có căn cứ khoa học về thực trạng ô nhiễm môi trường nước tại làng nghề chế biến thủy sản xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình năm 2014. Kết quả quan trắc thực tế chứng minh nước thải sản xuất chưa qua xử lý đang làm suy thoái nghiêm trọng chất lượng thủy vực ven bờ với các thông số TSS, BOD₅, COD, Nitơ và Coliform vượt quy chuẩn nhiều lần. Các giải pháp đề xuất kết hợp đồng bộ giữa quy hoạch cụm làng nghề, xây dựng hạ tầng xử lý sinh học tập trung và mở rộng mạng lưới nước sạch là những cơ sở thực tiễn có giá trị cao đối với công tác bảo vệ môi trường và sức khỏe người dân địa phương.