CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Hiện nay tiến bộ khoa học kỹ thuật mới được áp dụng vào sản xuất trong ngành phân bón, các doanh nghiệp cung cấp cho nhân dân ngày càng phong phú và đa dạng nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị cho sản phẩm cây trồng ngày càng có tính cạnh tranh, cây trồng cần phải được cung ứng đầy đủ phân bón nhất là phân hữu cơ. Tình hình hiện nay việc sử dụng phân vô cơ của người dân là quá nhiều đã làm cho đất ngày càng bạc màu và sản phẩm sản xuất ra khó đạt được tiêu chuẩn để cung cấp ra thị trường. Cùng với quá trình phát triển và hội nhập của đất nước trong những năm qua, nền kinh tế nông nghiệp áp dụng khoa học kĩ thuật đang trên đà phát triển.
Nắm bắt được nhu cầu đó và với thế mạnh và kinh nghiệm của một tập thể, cùng với đó là tiềm lực tài chính, sức mạnh đoàn kết, quyết tâm đã thúc đẩy công ty hoạt động tốt, cung cấp cho thị trường những sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng mong muốn của người tiêu dùng và góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Khái niệm môi trường và ô nhiễm môi trường Môi trường: Theo khoản 1, điều 3 Luật Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam 2014: “ Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.” (Quốc hội, 2014) Ô nhiễm môi trường: Theo khoản 8, điều 3 Luật Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam 2014: “ Là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật”. (Quốc hội, 2014) 5 Thành phần môi trường: Theo Khoản 2, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường 2014: Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác. Quan trắc môi trường: Theo Khoản 20, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường 2014: Quan trắc môi trường là quá trình theo dõi có hệ thống về thành phần môi trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi trường.
Ô nhiễm mùi: Theo tạp chí môi trường Ô nhiễm Mùi là dạng ô nhiễm không khí rất phức tạp do mùi được tạo ra từ sự kết hợp hàng trăm hợp chất khác nhau ở nồng độ rất thấp. Ô nhiễm mùi được đặc biệt quan tâm vì đặc trưng mùi hôi của nó, khả năng tác động đến sức khỏe con người, và khả năng phát tán trên diện rất rộng. Ô nhiễm không khí: Theo tạp chí môi trường, Ô nhiễm không khí là sự thay đổi lớn trong thành phần của không khí, chủ yếu do khói, bụi, hơi hoặc các khí lạ được đưa vào không khí, có sự tỏa mùi, làm giảm tầm nhìn xa, gây biến đổi khí hậu, gây bệnh cho con người và cũng có thể gây hại cho sinh vật khác như động vật và cây lương thực, nó có thể làm hỏng môi trường. Hiện trạng phân bón sử dụng tại Việt Nam 1.
Lịch sử hình thành và phát triển ngành phân bón Việt Nam Việt Nam là nước nông nghiệp với quá trình phát triển lâu đời. Những thế kỷ trước, người nông dân chủ yếu sử dụng phân bón hữu cơ tự chế từ tro, xác thực vật, phân chuồng,… để bón cho cây trồng. Từ khi công nghiệp hóa chất bắt đầu phát triển, phân bón hóa học ra đời đã thúc đẩy ngành sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh mẽ, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng. Ngành phân bón Việt Nam hình thành và phát triển theo 04 giai đoạn: 6 ▪ Giai đoạn trước 1960: Ngành nông nghiệp kém phát triển do chiến tranh, người nông dân chỉ sử dụng phân hữu cơ tự chế để bón cho cây trồng.
▪ Giai đoạn 1961 – 1980: Sản xuất và tiêu thụ phân Urê, lân ở mức thấp, các nhà máy phân bón ra đời: Nhà máy phân lân Văn Điển (1961), Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao (1962). Nhà máy đạm Hà Bắc (1975) – nhà máy đạm đầu tiên ở Việt Nam, cũng mới chỉ đáp ứng được 8% nhu cầu phân đạm cả nước, vẫn phải nhập khẩu bổ sung từ Trung Quốc. Tốc độ tăng trưởng nhu cầu phân bón giai đoạn này đạt CAGR = 6,2%/năm, nhu cầu kali cho cây trồng vẫn chưa được chú trọng. ▪ Giai đoạn 1981 – 2000: Ngành phân bón đạt tốc độ tăng trưởng cao ở hầu hết các phân khúc, tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 10,1%/năm.
Đặc biệt, sự ra đời của phân phức hợp NPK là một đóng góp rất quan trọng cho nền sản xuất nông nghiệp do đầy đủ chất dinh dưỡng và tiện lợi khi sử dụng, giúp tiết kiệm chi phí và công chăm sóc. Giai đoạn này, các nhà sản xuất trong nước đầu tư công nghệ tiên tiến để gia tăng nguồn cung cả chất và lượng. Ước tính, sản xuất toàn ngành tăng trưởng trung bình 22% giai đoạn 1991 - 1997, mức đầu tư toàn ngành tăng từ 63,5 tỷ đồng năm 1991 lên 102 tỷ đồng năm 1997. Tăng trưởng sản xuất đã nhanh chóng bù đắp phần nào nhu cầu thiếu hụt các mảng sản phẩm NPK, Urê, lân.
▪ Giai đoạn 2001 – nay, ngành phân bón tiếp tục tăng trưởng nhưng tốc độ chậm lại so với giai đoạn trước. Nhu cầu tiêu thụ phân bón đang có tốc độ tăng trưởng giảm dần, CAGR cả giai đoạn đạt 3,1%/năm. Tiêu thụ phân bón cả nước tăng từ 6,5 triệu tấn năm 2002, đến năm 2018 đạt gần 11 triệu tấn, trong khi nguồn cung trong nước vẫn tiếp tục gia tăng. Tính đến 6T/2018, cả nước có 735 cơ sở sản xuất kinh doanh phân bón được cấp phép với tổng công suất lên tới 29,5 triệu tấn/năm.
Trong đó, có 10 doanh nghiệp lớn thuộc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem) và 2 doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt 7 Nam (PVN) chiếm phần lớn sản lượng phân bón hàng năm. Còn lại là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chủ yếu tham gia vào phân khúc phân hỗn hợp NPK. Tuy vậy, phân Kali và SA vẫn phải phụ thuộc lớn vào nhập khẩu do trong nước chưa có doanh nghiệp sản xuất. Vòng đời ngành phân bón Việt Nam Hình 1.
Sản lượng tiêu thụ phân bón và tốc độ tăng trưởng trung bình năm 1961 – 2018 (Nguồn: báo cáo ngành phân bón tháng 09/2019) Ngành phân bón Việt Nam đã bước vào giai đoạn bão hòa, tốc độ tiêu thụ sụt giảm nhanh chóng, CAGR giai đoạn 2001 – 2015 chỉ dao động từ 2,5% – 3,9%/năm và giảm còn 1,96%/năm giai đoạn 2016 – 2018. Một số sản phẩm phân NPK, Urê, lân (chiếm gần 70% tổng nhu cầu phân bón) đã bắt đầu dư cung. Sản xuất phân DAP trong nước đáp ứng 35% tổng nhu cầu, phần còn lại vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu. Trong giai đoạn tới, việc triển khai các dự án NPK chất lượng cao thay thế sản phẩm nhập khẩu kỳ vọng tạo nền tảng tăng trưởng cho ngành phân bón trong nước.
Tuy nhiên mức độ cạnh tranh sẽ càng trở nên gay gắt, đòi hỏi các doanh nghiệp phải thay đổi công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng trưởng bền vững Hình 1. Sản lượng tiêu thụ phân bón và tốc độ tăng trưởng trung bình năm 1961 – 2018 8 1. Vị thế ngành phân bón Việt Nam (Nguồn: báo cáo ngành phân bón tháng 09/2019) Hình 1. Bản đồ lượng tiêu thụ phân bón trên một hecta đất canh tác Trên thế giới, lượng tiêu thụ phân bón trên một hecta đất canh tác của Việt Nam ở mức khá cao.
Năm 2016, Việt Nam tiêu thụ 430 kg phân bón trên một hecta đất canh tác, chỉ sau một số quốc gia như New Zealand (1.717 kg/ha), Malaysia (1.539 kg/ha), Ai Cập (645,5 kg/ha), Trung Quốc (503 kg/ha). Mức tiêu thụ tại Việt Nam cao gấp 3,1 lần mức trung bình thế giới (138 kg/ha năm 2016). Bản đồ lượng tiêu thụ phân bón trên một hecta đất canh tác các quốc gia trong khu vực 9 (Nguồn: báo cáo ngành phân bón tháng 09/2019) So với các quốc gia sản xuất nông nghiệp trong khu vực, Việt Nam chỉ đứng sau Trung Quốc về mức độ tiêu thụ phân bón. Các quốc gia còn lại tiêu thụ phân bón trên một hecta đất canh tác ở mức khá thấp: Ấn Độ (166 kg/ha), Thái Lan (162 kg/ha), Philippin (157 kg/ha), Campuchia (17,8 kg/ha) (số liệu năm 2016).
Nhìn chung, lượng tiêu thụ phân bón của Việt Nam ở mức cao và đang chững lại. Trong thời gian tới, khi diện tích đất canh tác không được mở rộng thêm, các kỹ thuật canh tác giúp tiết kiệm phân bón, nhu cầu phân bón ở Việt Nam được dự báo không tăng trưởng mạnh như giai đoạn trước. Nhu cầu phân bón. Nhu cầu phân bón ở Việt Nam hiện nay vào khoảng trên 10 triệu tấn các loại.
Trong đó, Urea khoảng 2 triệu tấn, DAP khoảng 900.000 tấn, phân Lân trên 1,8 triệu tấn, phân NPK khoảng 3,8 triệu tấn, ngoài ra còn có nhu cầu khoảng 400 – 500.000 tấn phân bón các loại là vi sinh, phân bón lá. Tình hình sản xuất trong nước. Phân Urea, hiện tại năng lực trong nước đến thời điểm hiện tại là 2,340 triệu tấn/năm, bao gồm Đạm Phú Mỹ 800.000 tấn, Đạm Cà Mau 800.000 tấn, Đạm Hà Bắc 180.000 tấn, Đạm Ninh Bình 560. Dự kiến cuối năm 2014, Đạm Hà Bắc nâng công suất từ 180.000 tấn/năm, cả nước sẽ có 2,660 triệu tấn/năm.
Như vậy, về Urea đến nay, sản xuất trong nước không những phục vụ đủ cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp mà còn có lượng để xuất khẩu. Phân DAP, hiện sản xuất trong nước tại nhà máy DAP Đình Vũ 330.000 tấn/năm, đến hết 2015 có thêm nhà máy DAP Lào Cai công suất 330.000 tấn/năm và theo kế hoạch của Thủ tướng từ nay đến hết năm 2015 sẽ có thêm 10 một nhà máy DAP nữa hoặc nâng công suất hiện có của DAP Đình Vũ lên thêm 330. Như vậy sau 2015 sản xuất trong nước có thể đạt tới gần 1 triệu tấn DAP/năm, cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu trong nước. Hiện tại từ nay đến hết năm 2014, chúng ta vẫn phải nhập khẩu DAP thêm từ 500.
Phân Lân: Hiện tại Supe Lân sản xuất trong nước có công suất 1,2 triệu tấn/năm, bao gồm nhà máy Lâm Thao công suất 800.000 tấn/năm, Lào Cai 200.000 tấn/năm và Long Thành 200. Sản xuất Lân nung chảy hiện tại vào khoảng 600.000 tấn/năm bao gồm nhà máy Văn Điển và nhà máy Ninh Bình. Dự kiến tương lai sẽ có thêm khoảng 500.