Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Khái quát về vấn đề nghiên cứu Biến đổi khí hậu là tất yếu của sự nóng lên toàn cầu làm tất cả các thành phần của môi trường sống như nước biển dâng cao, gia tăng hạn hán, ngập lụt, khí hậu thay đổi, nhiều loại bệnh tật xuất hiện ảnh hưởng xấu đến đời sống của con người. Nguyên nhân chính gây ra hiện tượng nóng toàn cầu là sự tăng lên của nồng độ khí nhà kính.
Khí nhà kính chỉ chiếm 1% bầu khí quyển nhưng có vai trò như một tấm chăn bao phủ trái đất, chúng giữ nhiệt sưởi ấm cho trái đất. Nhiệt độ mặt trái đất tạo nên sự cân bằng giữa năng lượng mặt trời tới bề mặt trái đất và năng lượng bức xạ của trái đất vào khoảng không gian giữa các hành tinh xung quanh chúng ta. Năng lượng mặt trời chủ yếu là các tia sóng ngắn dễ dàng xuyên qua cửa sổ khí quyển. Trong khi đó bức xạ của trái đất là bước sóng dài, có năng lượng thấp dễ dàng bị khí quyển giữ lại.
Các tác nhân gây ra sự hấp thụ sóng dài trong khí quyển là khí CO2 , bụi, hơi nước CFC,. Kết quả sự trao đổi không cân bằng về năng lượng giữa trái đất với không gian xung quanh dẫn đến sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển trái đất. Hiện tượng này diễn ra tương tự như nhà kính trồng cây và được gọi là hiệu ứng nhà kính. Theo tính toán của các nhà khoa học thì khi nồng độ CO2 trong khí quyển tăng gấp đôi thì nhiệt độ bề mặt trái đất tăng lên khoảng 30C.
Dự báo nếu không có biện pháp khắc phục hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ trái đất sẽ tăng lên 1,5 - 4,50C vào năm 2050. Trong khi đó, rừng là bể chứa Carbon, nó có vai trò đặc biệt quan trọng trong cân bằng O2, CO2 trong khí quyển, do đó nó có ảnh hưởng lớn đến nhiệt độ trái đất thông qua điều hòa các khí gây hiệu ứng nhà kính mà quan trọng nhất là CO2. Hàng năm có khoảng 100 tỉ tấn CO2 n 7 được cố định bởi quá trình quang hợp do cây xanh thực hiện và một lượng tương tự được trả lại khí quyển do quá trình hô hấp của sinh vật. Với tầm quan trọng của các bể chứa carbon ở rừng nhiệt đới, trong gần một thập niên qua, nhiều tổ chức trên thế giới đã có các nghiên cứu liên quan đến sinh khối rừng và lượng carbon tích lũy trong các hệ sinh thái rừng để đưa ra phương pháp luận hoặc các đề xuất về thể chế chính sách trong việc bảo vệ các khu rừng nhiệt đới, sử dụng đất rừng bền vững vì giá trị môi trường trong tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu.
Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế CIFOR (2007) đưa ra nhu cầu nghiên cứu để theo dõi thay đổi che phủ rừng, bể chứa carbon và chính sách để thực hiện chương trình REDD. Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới ICRAF (2007) đã phát triển các phương pháp dự báo nhanh lượng carbon lưu giữ thông qua việc giám sát thay đổi sử dụng đất bằng phân tích ảnh viễn thám, lập ô mẫu nghiên cứu sinh khối và ước tính lượng carbon tích lũy. Các phương pháp này cần được kế thừa và xem xét áp dụng một cách phù hợp hơn đối với các hệ sinh thái rừng của Việt Nam. Ở Việt Nam cho đến nay chưa có nghiên cứu đầy đủ và hoàn chỉnh về xác định sinh khối (biomass) và carbon tích lũy trong các hệ sinh thái rừng tự nhiên, các mô hình NLKH ở Việt Nam để làm cơ sở lượng giá dịch vụ môi trường hấp thụ CO2 của các kiểu rừng, canh tác NLKH khác nhau.
Nghiên cứu của Trung tâm sinh thái rừng và môi trường thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã xác định trữ lượng carbon của thảm tươi cây bụi, tương ứng với trạng thái rừng IA, IB, để cung cấp thông tin nhằm xác định đường carbon cơ sở trong các dự án trồng rừng theo cơ chế CDM. Việc xác định sinh khối tươi khô được thực hiện theo từng bộ phận thân, cành và lá. Trữ lượng carbon được xác định thông qua sinh khối khô của các bộ phận và hệ số chuyển đổi 0. Tuy nhiên nghiên cứu chấp nhận lượng carbon lưu n 8 giữ được chuyển đổi theo hệ số, chưa được phân tích hàm lượng trong từng bộ phận thực vật cụ thể.
Công ước của liên hợp quốc về biến đổi khí hậu Công ước của liên hợp quốc về biến đổi khí hậu nhằm làm ổn định các khí nhà kính (KNK) trong khí quyển ở một mức có thể ngăn chặn và hạn chế tất cả những biến đổi nguy hiểm của khí hậu. Công ước LHQ về thay đổi khí hậu đó đã được thông qua trong hội nghị thượng đỉnh về Trái đất họp tại Riode Janerio, 1992. Cho đến nay đã được 186 nước thành viên phê chuẩn công ước này. Để đưa công ước này vào hoạt động, một nghị định thư đã được soạn thảo và đưa ra thảo luận tại hội nghị Kyoto năm 1997.
Điểm quan trọng của nghị định Kyoto là sự cam kết có tính pháp lí của 39 nước phát triển nhằm giảm mức phát thải KNK của họ tối thiểu là 5,2% trong giai đoạn 2008-2012 so với các mức năm 1990. Và đây được coi là “ bước cam kết đầu tiên”. Cơ chế phát triển sạch (CDM) CDM là một trong 3 cơ chế linh hoạt của Nghị định thư Kyoto, trong đó nó cho phép các nước phát triển đạt được các chỉ tiêu về giảm phát thải KNK bắt buộc thông qua đầu tư thương mại các dự án trồng rừng tại các nước đang phát triển, nhằm hấp thụ khí CO2 từ khí quyển và làm giảm lượng phát thải KNK. Các dự án CDM có 2 mục tiêu chính là: - Nhằm giúp đỡ các nước đang phát triển, nơi sẽ thực hiện các dự án CDM đạt được mục tiêu phát triển bền vững.
- Nhằm cung cấp cho các nước phát triển có “cơ hội linh hoạt” để làm giảm chỉ tiêu phát thải KNK, và cho phép họ thu được các chửng chỉ giảm phát thải từ các dự án CDM đầu tư tại các nước đang phát triển (Ngô Đình Quế và cs, 2006) [12]. Thị trường Carbon Tháng 8 năm 2001 thị trường về mua bán chỉ tiêu phát thải khí nhà n 9 kính đã được khai trương ở London. Tại thị trường này trước tiên có 06 loại khí nhà kính sẽ được giao dịch trong đó quan trọng nhất là khí Carbon dioxit (CO2). Đơn vị đó các loại hàng hóa khí thải nhà kính được tính theo tấn khí CO2 và khối lượng quy đổi các loại khí khác.
Hiện tại, khách hàng tham gia thị trường Quốc tế tại London về chỉ tiêu phát thải gồm 34 tập đoàn và hơn 6000 doanh nghiệp nhỏ. Trong đó 34 tập đoàn Sell, Ford, Roll - Royce, Dalkia và Dupont được xem là lớn hơn cả. Để tạo nguồn hàng ban đầu, chính phủ Anh đã khuyến khích 34 tập đoàn trên khí thải để đổi lại khoản ưu đãi 215 triệu bảng Anh. Với khoản tiền này, 34 tập đoàn lớn đã thiết lập mức giá khởi điểm cho một đơn vị khí thải là 53,37 bảng Anh.
Ngày 5/2/2010 chỉnh phủ Anh đã tổ chức bán đấu giá giấy phép carbon lần thứ 9 với 4,4 triệu định mức xả thải châu Âu đã được bán ra mức 12,66 euro/tấn. Tại New Zealand tháng 8/2009 đề án thương mại phát thải đã được luật hóa và sử đổi vào tháng 11/2009. Tháng 12/2009 Công ty cổ phần tài chính dầu khí Việt Nam đưa ra bán đấu giá 350.000 CER từ dự án thu hồi và sử dụng khí đồng hành mở rộng dự án phát triển sạch (dự án CDM 0125) đầu tiên được chứng nhận giam phát thải. Tháng 4/2010 Tokyo (Nhật Bản) đã khởi động chương trình buôn bán phát thải carbon.
Trong chương trình này 1400 tổ chức chuyên sâu về năng lượng và carbon của thành phố này phải đáp ứng mục tiêu giảm thải ràng buộc về mặt pháp lý. Giai đoạn đầu của chương trình này kéo dài đến năm 2014, trong thời gian đó các tổ chức tham gia phải cắt giảm khí thải carbon ở mức 6%. Những công ty nào không tuân thủ theo các quy định mới sẽ phải nộp phạt và bị chính phủ lên án, nhưng đơn vị nào hoạt động trong hạn mức phát thải sẽ bị ra lệch cắt giảm phát thải 1,3 lần so với mức ban đầu trong suốt giai đoạn đầu tiên của chương trình. Theo nguồn tin từ Công ty phân tích thị trường Point Carbon có trụ sở tại Na Uy cho thấy sự phát triển vượt bậc về quy mô và giá trị giao dịch của thị trường Carbon.
Năm 2005 giá trị giao dịch của thị trường tài chính carbon n 10 đạt 10,908 tỷ USD với khối lượng giao dịch khoảng 718 tỷ tấn, năm 2006 đạt 31,235 tỷ USD với khối lượng 1,735 tỷ tấn, năm 2007 đạt đến mức 64,035 tỷ USD cho 2,983 tỷ tấn và đến năm 2008 đã đến mức 126,345 tỷ USD cho mức giao dịch của 4,811 tỷ tấn. Năm 2009 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính nên giá trị giao dịch của thị trường carbon giảm, với khối lượng 8,2 tỷ tấn khí thải CO2 đã được trao đổi trên thị trường mua bán hạn ngạch khí thải thế giới với giá trị giao dịch khoảng 135 tỷ USD. Chi trả dịch vụ môi trường hấp thụ CO2 của rừng Từ các dịch vụ môi trường mà những cộng đồng vùng cao có thể được đền bù (hấp thụ carbon, bảo vệ vùng đầu nguồn và bảo tồn đa dạng sinh học) thì cơ chế đền bù cho thị trường carbon được xem là một đóng góp quan trọng trong giảm nghèo. Các kế hoạch đền bù carbon hiện cũng đang tăng lên nhanh chóng chính vì vậy Smith và Scherr cho rằng có tiềm năng sinh kế từ các dự án rừng carbon.
Khái niệm trao đổi carbon vẫn đang được tranh luận, nhiều nhóm nghiên cứu môi trường cho rằng đó chính là kẽ hở cho phép các nước công nghiệp tiếp tục gây ô nhiễm thay vì tiến hành những biện pháp tốn kém để kiểm soát mức độ ô nhiễm của họ. Tuy vậy “trao đổi carbon” là một giải pháp có khả năng thực thi và đang tìm kiếm các cơ hội cho việc thực hiện trao đổi carbon nhằm đền bù cho những người nông dân vùng cao Châu Á, người đóng vai trò bảo vệ tài nguyên, những cộng đồng đó sẽ được chuẩn bị tốt hơn để hưởng lợi từ việc trao đổi carbon, khi cơ chế này trở nên khả thi hơn so với những cộng đồng mà ở đây chưa có bất kỳ loại cơ chế đền bù nào.