Đặt vấn đề Việt Nam là đất nƣớc giàu về các nguồn tài nguyên, một trong những nguôn tài nguyên quan trọng đó là tài nguyên Rừng. Việt Nam cũng là một nƣớc đƣợc mệnh danh là“Rừng vàng, biển bạc”, tuy nhiên hiện nay cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế, nhu cầu ngày càng gia tăng của con ngƣời, cũng nhƣ việc áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ mới trong khai thác, đã khiến nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng và quý giá này có những biến động phức tạp. Rừng tự nhiên ở nƣớc ta hiện nay hầu hết đều là rừng thứ sinh ở những mức độ thoái hoá khác nhau. Nguyên nhân chủ yếu là do con ngƣời khai thác lạm dụng, đốt nƣơng làm rẫy.
Độ che phủ đã giảm từ 43% năm 1943 xuống 28,4% năm 1990, làm tăng các ảnh hƣởng bất lợi của môi trƣờng sống đối với con ngƣời nhƣ bão, lũ, hạn hán, ô nhiễm không khí. Trƣớc thực trạng đáng buồn đó, Trong những năm qua, Đảng và Nhà nƣớc đã có nhiều chính sách làm diện tích rừng tăng lên.[15] Từ khi Chính phủ có chỉ thị 286/TTg (02/05/1997) về tăng cƣờng các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng, cấm khai thác rừng tự nhiên, tốc độ phục hồi rừng đã trở nên khả quan hơn. Để đạt đƣợc kết quả nhƣ trên, Chính phủ đã giao quyền sử dụng đất rừng cho các tổ chức, các cá nhân và hộ gia đình trồng, chăm sóc và quản lý bảo vệ. Những chính sách này đã góp phần tích cực trong việc làm tăng diện tích rừng, giảm diện tích đất trống đồi trọc và rừng đã dần phục hồi trở lại.
Có đƣợc kết quả đó là do những cơ chế chính sách trên của Chính phủ đã bƣớc đầu tạo đƣợc sự chuyển biến theo hƣớng xã hội hoá nghề rừng, làm cho rừng có chủ và ngƣời dân đã chủ động tham gia quản lý bảo vệ phát triển rừng. Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phƣợng Hoàng thuộc địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên là một khu rừng nguyên sinh đặc dụng, đƣợc Nhà nƣớc công nhận là di tích khảo cổ quốc gia. n 2 Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phƣợng Hoàng đƣợc thành lập ngày 01 tháng 12 năm 1999 với diện tích là 11.220 ha theo Quyết định số3841/QĐ- UB của ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Khu vực này có hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi độc đáo, có tính đa dạng sinh học phong phú với nhiều nguồn gen động thực vật quý hiếm.Theo số liệu thống kê chƣa đầy đủ của các nhà khoa học, Khu BTTN Thần Sa - Phƣợng Hoàng không những đa dạng về các kiểu sinh thái rừng mà hệ thực vật ở đây phong phú và đa dạng về thành phần loài; về thuần loài thực vật có mạch ở đây lên đến 1.096; về động vật bƣớc đầu đƣợc ghi nhận đƣợc 56 loài thú, 117 loài chim, 28 loài bò sát và 11 loài lƣỡng cƣ.
Trong đó cả thực vật và động vật rừng có tên trong sách đỏ Việt Nam và IUCN thế giới. Nhƣng thực trạng tài nguyên rừng của khu bảo tồn đang dần bị suy thoái do những tác động của con ngƣời nhƣ: đốt nƣơng làm rẫy, chăn thả gia súc, khai thác gỗ củi. Kết quả là diện tích rừng và các loài động thực vật đang bị giảm đi. Xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên là một trong 7 xã, thị trấn thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phƣợng Hoàng.
Diện tích đất lâm nghiệp chiếm trên 80%, là một trong những khu bảo tồn nguồn gen động thực vật quý hiếm, với thành phần loài thực vật khá phong phú và đa dạng,. Nhƣng hiện tƣợng phá rừng, khai thác lâm sản ngoài gỗ diễn ra thƣờng xuyên làm cho chất lƣợng rừng bị giảm sút nghiêm trọng, giảm đáng kể tính đa dạng sinh học và dẫn đến các nguy cơ gây suy thoái rừng tại khu vực này. Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “Đánh giá các nguy cơ gây suy thoái rừng tại xã Thần Sa thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu - Đánh giá đƣợc tính đa dạng các loài thực vật và nguy cơ gây suy thoái rừng tại xã Thần Sa thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phuợng Hoàng.
n 3 - Đƣa ra một số giải pháp nhằm phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học và bảo tồn đa dạng sinh học, giải pháp quản lý bảo vệ và phát triển rừng. - Bổ sung những hiểu biết về nguy cơ gây suy thoái rừng tại xã Thần Sa làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng và bảo vệ khu bảo tồn 1. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định đƣợc hiện trạng các loại rừng tự nhiên có trong xã Thần Sa - Xác định đƣợc nguy cơ gây suy thoái rừng nhƣ: chất luợng rừng, trữ luợng gỗ. - Đề xuất đƣợc các giải pháp quản lý, sử dụng nhằm bảo tồn và phát triển bền vừng tính da dạng sinh học, các biện pháp làm giảm nguy cơ gây suy thoái rừng tại khu vực nghiên cứu.
Ý nghĩa nghiên cứu 1.Trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp cho sinh viên kiểm chứng lại những kiến thức lý thuyết đã học biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tế. - Đề tài thực hiện nhằm xây dựng cơ sở khoa học cho việc đánh giá tính đa dạng sinh học các loài thực vật và các nguy cơ gây suy thoái tính đa dạng sinh học, nguy cơ gây suy thoái rừng. Đề ra các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng ở địa phƣơng nói riêng và Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phƣợng Hoàng nói chung.Trong thực tiễn sản xuất Kết quả của đề tài góp phần đánh giá đƣợc tính đa dạng, nguy cơ gây suy thoái rừng, hiện trạng sử dụng rừng. Đồng thời đƣa ra các giải pháp để bảo tồn và phát triển quản lý rừng tại khu vực nghiên cứu.
n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học Đa dạng sinh học không những cung cấp trực tiếp những phúc lợi cho xã hội nhƣ: lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, vật liệu xây dựng, năng lƣợng, mà còn có giá trị đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ sinh học, trong ứng dụng thực tiễn sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp,.nó còn là một cấu thành quan trọng trong chiến lƣợc bảo đảm an ninh lƣơng thực, xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên việc khai thác quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên và quy hoạch phát triển chƣa hợp lý đã tác động lớn tới ĐDSH, gây suy thoái ĐDSH [1] - Đa dạng về gen di truyền đƣợc thể hiện bởi sự đang dạng về gen trong mỗi loài - Đa dạng về loài sự đa dạng phong phú của các loài khác nhau cùng sinh sống trong một khu vực nhất định - Đa dạng về hệ sinh thái sự khác nhau của các hệ sinh thái Suy thoái đa dạng sinh học dẫn đến mất cân bằng sinh thái, ảnh hƣởng trực tiếp đến môi trƣờng sống của con ngƣời, đe dọa sự phát triển bền vững của trái đất. Do vậy khi hệ sinh thái bị suy thoái sẽ ảnh hƣởng đến an ninh lƣơng thực làm cho con ngƣời phải đối mặt với nguy cơ đói nghèo, suy giảm nguồn gen và đặc biệt là biến đổi khí hậu dẫn đến hàng loạt các thảm họa thiên nhiên đe dọa cuộc sống của con ngƣời.
[1] Tình hình hiện nay cho thấy việc khôi phục bảo vệ các hệ sinh thái, nguồn tài nguyên rừng, sự đa dạng loài và đa dạng di truyền để bảo tồn đa dạng sinh học, ngăn chặn sự diệt vong của các loài quý hiếm là một việc làm cấp bách. Suy thoái rừng là một trong những vấn đề mấu chốt chƣa đƣợc giải quyết trong cuộc tranh luận nhằm đi đến thỏa thuận cho cơ chế REDD tại Hội n 5 nghị thƣợng đỉnh các quốc gia thành viên lần thứ 15 về Biển đổi khí hậu(COP15). Các vấn đề sau đây đã có tác động chính đến những kết quả của tranh luận này và xác định triển khai thực thi chính sách REDD: Định nghĩa suy thoái rừng: Hiện thế giới vẫn chƣa có một định nghĩa thống nhất mang tính toàn cầu cho suy thoái rừng. Điều này cản trở nỗ lực công nhận và đo lƣờng tác động của nó vì các định nghĩa đƣợc dùng trong REDD 06ảnh hƣởng tới ƣớc lƣợng về cƣờng độ suy thoái rừng đóng góp vào tổng lƣợng phát thải khí nhà kính.
Các đại biểu của hội thảo nhất trí trong bối cảnh của REDD, suy thoái rừng nên đƣợc định nghĩa là hiện tƣợng suy giảm đo đƣợc, do con ngƣời gây ra làm suy giảm dự trữ carbon tại các vùng rừng trong một thời gian nhất định.[11] Cường độ suy thoái rừng: Suy thoái rừng đang diễn ra tại các nƣớc châu Á - Thái Bình Dƣơng, bất kể độ che phủ rừng có giảm đi, ổn định hay tăng lên. Tại một số nƣớc có độ che phủ rừng cao, suy thoái rừng có thể là xúc tác cho việc mất rừng và làm tăng phát thải. Đối với các quốc gia có độ che phủ rừng thấp hơn, rừng suy thoái không bị ảnh hƣởng nhiều từ việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng. Đối với các tình huống này, có khả năng sẽ khôi phục lại đƣợc lƣợng carbon.[11] Đánh giá suy thoái rừng: Suy thoái rừng ảnh hƣớng tới trạng thái chung của rừng một cách khó nhận thấy hơn hơn so với việc mất rừng, cần phải có các phƣơng pháp đo lƣờng và giám sát trực tiếp để hiểu đƣợc mức độ của những tác động này.
Một số quốc gia cũng lo ngại về chi phí và sự phức tạp của các phƣơng pháp này. Giải quyết suy thoái rừng:Suy thoái rừng chỉ có thể đƣợc giải quyết nếu hệ thống quản trị rừng và thị trƣờng đƣa ra các động lực thích hợp cho quản lý rừng bền vững; và nếu quyền của tất cả các bên liên quan, đặc biệt là n 6 ngƣời sử dụng rừng địa phƣơng, đƣợc chỉ ra rõ ràng. Tại mỗi quốc gia, nguyên nhân trực tiếp và tiềm ẩn của suy thoái rừng cần phải đƣợc xác định để đảm bảo rằng các quy định và ƣu đãi tạo thuận lợi cho công việc quản lý rừng bền vững hơn là để rừng bị mất và tiếp tục bị suy thoái 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nƣớc 2.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới vấn đề đa dạng sinh vật và bảo tồn đã trở thành một chiến lƣợc.Tổng số loài thực vật hiện nay trên thế giới cũng có nhiều biến động và chƣa cụ thể do chƣa có sự nghiên cứu và điều tra đầy đủ.