Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tài nguyên rừng tự nhiên tại Việt Nam qua nhiều thập kỷ chịu sức ép khai thác nặng nề và tập quán canh tác nương rẫy, dẫn đến phần lớn diện tích hiện nay là rừng thứ sinh thoái hóa ở các mức độ khác nhau. Mặc dù các chính sách bảo vệ và phát triển rừng như Chỉ thị 286/TTg (ngày 02/05/1997) của Thủ tướng Chính phủ về cấm khai thác rừng tự nhiên và chủ trương giao đất giao rừng đã thúc đẩy quá trình phục hồi, nhưng áp lực suy thoái sinh cảnh vẫn diễn biến phức tạp tại các vùng đệm và vùng lõi rừng đặc dụng.

Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng (huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên) được thành lập ngày 01/12/1999 theo Quyết định số 3841/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên với tổng diện tích 11.220 ha. Khu bảo tồn mang hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi đặc trưng, lưu trữ 1.096 loài thực vật bậc cao có mạch cùng hệ động vật đa dạng (56 loài thú, 117 loài chim, 28 loài bò sát, 11 loài lưỡng cư), đồng thời là di chỉ khảo cổ học thời kỳ đồ đá cũ. Tuy nhiên, tại xã Thần Sa – địa bàn chiếm hơn 80% diện tích đất lâm nghiệp nằm ở vùng lõi khu bảo tồn – tình trạng khai thác gỗ trái phép, thu hái lâm sản ngoài gỗ, chăn thả gia súc và chuyển đổi mục đích sử dụng đất đã làm suy giảm trữ lượng và chất lượng rừng. Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Đánh giá các nguy cơ gây suy thoái rừng tại xã Thần Sa thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên" của tác giả Nông Văn Tuần (chuyên ngành Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, 2016) được thực hiện nhằm làm rõ thực trạng này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Tác giả xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định hiện trạng các loại rừng tự nhiên hiện có trên địa bàn xã Thần Sa.
  2. Xác định các nguy cơ gây suy thoái rừng thông qua các chỉ tiêu về chất lượng rừng và trữ lượng gỗ.
  3. Đề xuất các giải pháp quản lý, sử dụng nhằm bảo tồn, phát triển bền vững tính đa dạng sinh học và giảm thiểu nguy cơ suy thoái rừng tại khu vực nghiên cứu.

Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm việc thu thập số liệu tự nhiên – kinh tế – xã hội, lập các ô tiêu chuẩn thực địa để đo đếm tầng cây gỗ, tính toán cấu trúc tổ thành và các chỉ số sinh thái, đồng thời điều tra phỏng vấn cộng đồng dân cư về hiện trạng sử dụng tài nguyên rừng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các trạng thái rừng tự nhiên (tập trung vào trạng thái IIB và IIIA1) và các cộng đồng dân cư sinh sống tại xã Thần Sa.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (tọa độ địa lý từ 105°51’12” đến 106°08’38” kinh độ Đông và 21°45’12” đến 21°56’30” vĩ độ Bắc; độ cao trung bình từ 500 m đến 600 m so với mực nước biển).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực địa và nội nghiệp được tiến hành từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Đề tài vận dụng các cơ sở khoa học về đa dạng sinh học (đa dạng di truyền, đa dạng loài, đa dạng hệ sinh thái) và lý thuyết suy thoái rừng theo khuôn khổ thảo luận cơ chế REDD tại Hội nghị thượng đỉnh COP15: suy thoái rừng được định nghĩa là hiện tượng suy giảm đo đếm được do con người gây ra đối với dự trữ carbon và cấu trúc rừng trong một khoảng thời gian nhất định.

Phân loại thảm thực vật và phân cấp trạng thái rừng trong nghiên cứu tuân thủ theo tiêu chuẩn phân loại rừng tự nhiên của Việt Nam (các trạng thái IA, IB, IC, IIA, IIB, IIIA1) và quan điểm sinh thái học của Thái Văn Trừng (1978) về nhóm loài cây ưu thế tầng tán (nhóm loài chiếm trên 50% tổng số cá thể của tầng cây cao).

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Nghiên cứu kết hợp phương pháp lâm học thực địa, ứng dụng hệ thông tin địa lý và điều tra xã hội học nông thôn:

  1. Phương pháp kế thừa số liệu và phân tích cảnh quan: Thu thập báo cáo kiểm kê đất đai của địa chính xã Thần Sa, tài liệu khí tượng thủy văn, các công trình nghiên cứu trước đó tại Khu bảo tồn. Sử dụng phần mềm MapInfo kết hợp khảo sát thực địa để phân tích, thống kê hiện trạng và diện tích các loại rừng trên toàn cảnh quan.
  2. Phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn (OTC):
    • Thiết lập ô mẫu đại diện theo tỷ lệ rút mẫu diện tích (khoảng 10 ha rừng có 1 ô đo đếm đại diện).
    • Sử dụng phương pháp ô lồng nhau theo hướng dẫn của Kurniatun và cs.: Ô tiêu chuẩn chính có diện tích 2.000 m² (50m × 40m) để đo đếm cây gỗ; bên trong bố trí ô thứ cấp 500 m² (25m × 20m) đo đếm toàn bộ cây có đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$) > 5 cm.
    • Đối với địa hình núi đá chia cắt phức tạp, áp dụng thiết kế ô tiêu chuẩn vệ tinh gồm 4 ô thứ cấp (10m × 50m) theo phương pháp Zoehrer (1980) có cải tiến.
    • Đo độ dốc bằng Clinometer và hiệu chỉnh chiều dài cạnh ô mẫu trên sườn dốc theo công thức hình học.
  3. Phương pháp đánh giá cấu trúc và đa dạng sinh học (Nội nghiệp):
    • Chỉ số giá trị quan trọng (Importance Value Index - IVI): $IVI_i = A_i% + D_i% + RF_i%$; trong đó $A_i%$ là độ phong phú tương đối, $D_i%$ là độ ưu thế tương đối (theo tiết diện thân), $RF_i%$ là tần suất xuất hiện tương đối. Loài có $IVI > 5%$ được xác định là loài có ý nghĩa sinh thái tham gia vào công thức tổ thành.
    • Mật độ tầng cây gỗ ($N$): $N = (n \times 10.000) / S$ (cây/ha).
    • Tổng tiết diện ngang ($G$) và Trữ lượng ($M$): Tính toán qua tiết diện thân $g_i = \pi \times D_{1.3}^2 / 4$ và thể tích cây đứng theo công thức lâm học quy chuẩn.
    • Chỉ số tương đồng Sorensen ($SI$): $SI = 2a / (2a + b + c)$ để so sánh thành phần loài giữa các trạng thái rừng.
    • Chỉ số đa dạng sinh học Shannon-Wiener ($H$) và chỉ số mức độ tập trung ưu thế Simpson ($Cd$): Tính toán mức độ phân bố cá thể giữa các loài trong ô tiêu chuẩn.
  4. Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA): Sử dụng công cụ phỏng vấn bán cấu trúc với bảng hỏi định sẵn trên mẫu gồm 21 hộ gia đình tại xã Thần Sa để xác định các hình thức tác động, mục đích khai thác lâm sản và nhận thức cộng đồng.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần này trình bày tính cấp thiết của việc bảo vệ tài nguyên rừng tại Việt Nam trong bối cảnh độ che phủ rừng từng sụt giảm nghiêm trọng từ 43% năm 1943 xuống 28,4% năm 1990. Tác giả giới thiệu khái quát vị trí của Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, nhấn mạnh đặc trưng sinh thái núi đá vôi độc đáo và di chỉ khảo cổ học 3 vạn năm. Khẳng định tính cấp bách của đề tài nhằm bổ sung cơ sở khoa học phục vụ công tác quản lý, phân bổ nguồn lực bảo tồn tại xã Thần Sa.

Phần 2: Tổng quan tài liệu nghiên cứu

  • Cơ sở khoa học: Phân tích ba cấp độ đa dạng sinh học, tác động của suy thoái rừng đối với suy giảm dự trữ carbon trong khuôn khổ REDD và các thách thức về phương pháp đo lường sinh thái.
  • Tình hình nghiên cứu trên thế giới: Tổng kết số liệu IUCN 2010 về đa dạng sinh vật toàn cầu (281.821 loài thực vật có hoa, 1.236 loài hạt trần, 10.212 loài tảo đỏ/lục, 17.563 loài địa y). Nêu thực trạng 40 triệu km² rừng thế giới bị thu hẹp 40% trong 300 năm, tốc độ tuyệt chủng loài gấp khoảng 100 lần so với lịch sử tự nhiên.
  • Tình hình nghiên cứu trong nước: Thống kê tài nguyên thực vật Việt Nam (gần 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 2.256 chi, 305 họ). Nêu rõ sự suy thoái rừng tự nhiên toàn quốc khi rừng giàu và rừng kín chỉ còn chiếm 4,6% (năm 2004), diện tích rừng tự nhiên cả nước năm 2008 là 10,3 triệu ha / 13,1 triệu ha tổng diện tích có rừng.
  • Điều kiện khu vực nghiên cứu: Xã Thần Sa có diện tích tự nhiên 10.144 ha (101,44 km²), địa hình núi đá chiếm 80% với độ cao 500–600 m. Khí hậu nhiệt đới gió mùa có lượng mưa trung bình 2.500 mm/năm (nhiệt độ dao động từ 13,2°C vào tháng 1 đến 34°C vào tháng 6). Đất đai gồm đất phù sa suối, đất dốc tụ thung lũng và đất feralit. Dân số toàn xã có 2.442 người, mật độ 23 người/km², gồm 6 dân tộc (Tày, Dao, H’Mông, Sán Dìu, Kinh, Nùng), hạ tầng giao thông có 12 km đường nhựa, 4 trạm biến áp cấp điện cho 8/9 xóm bản.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết đối tượng nghiên cứu gồm thảm thực vật tự nhiên và cộng đồng dân cư. Quy định hệ thống 4 nội dung nghiên cứu lớn; mô tả quy trình thiết kế ô tiêu chuẩn 2.000 m² và ô thứ cấp 500 m²; đưa ra công thức toán học tính toán các chỉ số lâm học ($IVI$, $G$, $D_{1.3}$, $H_{vn}$, $SI$, $H$, $Cd$) và phương thức phỏng vấn bán cấu trúc PRA.

Phần 4: Kết quả và phân tích kết quả nghiên cứu

Nội dung chương tập trung vào 4 nhóm kết quả chính:

1. Hiện trạng diện tích và cấu trúc các loại rừng tự nhiên

Tổng diện tích đất lâm nghiệp tại xã Thần Sa là 9.537,30 ha, chiếm tỷ lệ che phủ 94%. Thống kê diện tích theo các trạng thái rừng được tổng hợp trong bảng sau:

STT Trạng thái rừng Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
1 Trạng thái IA (Đất trống, trảng cỏ) 54,16 0,57
2 Trạng thái IB (Cây bụi, cây gỗ rải rác) 105,80 1,11
3 Trạng thái IC (Cây gỗ tái sinh rải rác) 123,50 1,29
4 Trạng thái IIA (Rừng phục hồi non) 3.272,50 34,31
5 Trạng thái IIB (Rừng phục hồi trung bình) 3.369,20 35,33
6 Trạng thái IIIA1 (Rừng nghèo kiệt) 2.612,14 27,39
Tổng 9.537,30 100,00

Phân tích cấu trúc qua các ô tiêu chuẩn đo đếm tại hai xóm Xuyên Sơn và Ngọc Sơn:

  • Trạng thái IIB: Tổng tiết diện ngang ($G$) dao động từ 5,16 đến 7,32 m²/ha; trữ lượng thân cây đứng ($M$) đạt từ 26,65 đến 36,45 m³/ha; mật độ biến động từ 450 đến 760 cây/ha.
  • Trạng thái IIIA1: Tổng tiết diện ngang ($G$) dao động từ 7,26 đến 8,32 m²/ha; trữ lượng thân cây đứng ($M$) đạt từ 39,06 đến 55,12 m³/ha; mật độ biến động từ 475 đến 815 cây/ha.

2. Chỉ số quan trọng (IVI) và đa dạng sinh học tầng cây gỗ

Kết quả phân tích $IVI$ tại 6 ô tiêu chuẩn cho thấy sự phân hóa về loài ưu thế sinh thái:

  • OTC 1 - Trạng thái IIB (Xuyên Sơn, 14 loài): Kháo ($IVI = 12,86%$), Bứa ($10,49%$), Trám ($8,98%$). Công thức tổ thành: $12,86Kh + 10,49Bu + 8,98Tra + 7,81Da + 7,81Th + 7,77Tr + 7,44Ken + 7,44Su + 6,40Ke + 5,59Sa$.
  • OTC 2 - Trạng thái IIB (Xuyên Sơn, 16 loài): Vàng anh ($IVI = 11,74%$), Lòng mang cụt ($9,64%$), Trám ($9,48%$), Kháo ($8,96%$). Công thức tổ thành: $11,74Va + 9,64Lo + 9,48Tra + 8,96Kh + 7,28Ng + 7,25La + 6,93Th + 6,77Tru + 5,20Tr$.
  • OTC 1 - Trạng thái IIB (Ngọc Sơn 2, 18 loài): Bồ đề ($IVI = 9,19%$), Sấu ($8,53%$), Trám ($7,71%$), Táu ($6,66%$). Công thức tổ thành: $9,19Bo + 8,53Sa + 7,71Tr + 6,66Ta + 6,38Ch + 6,12Ph + 6,37Sag + 5,77Bu + 5,37Nu + 5,23Da$.
  • OTC 2 - Trạng thái IIIA1 (Ngọc Sơn 1, 16 loài): Sấu ($IVI = 13,00%$), Vàng anh ($10,88%$), Dẻ ($8,44%$), Lòng mang ($7,70%$). Công thức tổ thành: $13,00Sa + 10,88Va + 8,44De + 7,70Lo + 6,80Ke + 6,26La + 6,17Th + 5,82Ma + 5,84Tr + 5,11Li + 5,10Tru$.
  • OTC 1 - Trạng thái IIIA1 (Ngọc Sơn 2, 16 loài): Bứa ($IVI = 10,34%$), Trám ($10,26%$), Kháo ($8,73%$), Trai lý ($7,31%$).
  • OTC 2 - Trạng thái IIIA1 (Ngọc Sơn 2, 15 loài): Sấu ($IVI = 9,60%$), Sau sau ($8,45%$), Sảng ($8,43%$), Bồ đề ($8,06%$).

Chỉ số đa dạng sinh học Shannon-Wiener ($H$) tại trạng thái IIB dao động từ 2,578 đến 2,806 (chỉ số ưu thế Simpson $Cd$ từ 0,011 đến 0,079). Tại trạng thái IIIA1, chỉ số $H$ đạt từ 2,602 đến 2,696 ($Cd$ từ 0,071 đến 0,082).

Ô tiêu chuẩn Trạng thái Số loài ($S$) Chỉ số đa dạng ($H$) Chỉ số ưu thế ($Cd$)
OTC 1 (Xuyên Sơn) IIB 14 2,578 0,079
OTC 2 (Xuyên Sơn) IIB 16 2,649 0,011
OTC 1 (Ngọc Sơn 2) IIB 18 2,806 0,063
OTC 2 (Ngọc Sơn 1) IIIA1 16 2,696 0,071
OTC 1 (Ngọc Sơn 2) IIIA1 16 2,642 0,077
OTC 2 (Ngọc Sơn 2) IIIA1 15 2,602 0,082

3. Hiện trạng sử dụng và các áp lực lên tài nguyên rừng

Kết quả điều tra PRA trên 21 hộ gia đình ghi nhận 7 nhóm hoạt động tác động trực tiếp vào rừng:

STT Hoạt động tác động Số phiếu ghi nhận Tỷ lệ (%)
1 Khai thác gỗ 21/21 100,00
2 Lấy củi 21/21 100,00
3 Khai thác lâm sản ngoài gỗ 18/21 85,71
4 Săn bắt động vật hoang dã 15/21 71,42
5 Chăn thả gia súc (trâu, bò, dê) 12/21 57,14
6 Xâm lấn đất rừng làm nương rẫy 6/21 28,57
7 Cháy rừng 2/21 9,52
  • Khai thác gỗ: 100% số hộ khai thác phục vụ làm nhà sàn và củi đun, 9,52% khai thác để bán. Các loài gỗ quý bị khai thác triệt để gồm Nghiến (100% số phiếu), Lát hoa (80,95%), Kháo (76,19%), Trai lý (66,67%), Xoan (52,38%), Trám (42,86%), Sấu (33,33%). Do cây gỗ lớn cạn kiệt và sự phổ biến của cưa máy cầm tay, người dân chuyển dần sang khai thác cây gỗ nhỏ và gỗ tạp.
  • Khai thác củi: 100% số hộ dùng củi để đun nấu và sưởi ấm, 9,52% khai thác củi để bán kiếm thêm thu nhập.
  • Lâm sản ngoài gỗ: 100% sử dụng cho nhu cầu sinh hoạt gia đình, 71,42% làm cây thuốc nam chữa bệnh, 28,57% đem bán.

4. Đánh giá nguyên nhân và nguy cơ suy thoái

Tác giả tổng hợp 4 nhóm nguy cơ gây suy thoái rừng chính:

  • Gia tăng dân số và nhu cầu sử dụng đất: Tập quán canh tác quảng canh, thiếu đất sản xuất dẫn đến phá rừng, đốt nương làm rẫy.
  • Sản xuất nông lâm nghiệp và chăn thả tự do: Thói quen thả rông gia súc (đặc biệt là dê, trâu bò) trong rừng tự nhiên làm gãy nát cây tái sinh và xáo trộn tầng mặt đất rừng núi đá.
  • Khai khoáng và sản xuất năng lượng: Hoạt động khai thác vàng tại địa bàn gây ô nhiễm nguồn nước và phá vỡ cảnh quan sinh thái.
  • Khai thác cạn kiệt tài nguyên sinh học: Việc sử dụng công cụ cơ giới (cưa máy) khai thác gỗ thương phẩm, cùng với áp lực săn bắt động vật hoang dã làm nghèo kiệt cấu trúc rừng nguyên sinh.

5. Đề xuất giải pháp quản lý

Đề tài xây dựng 3 nhóm giải pháp:

  • Cấp địa phương: Tăng cường tuần tra, kiểm soát lâm sản của lực lượng kiểm lâm; phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền xã Thần Sa và Ban quản lý Khu bảo tồn; xử lý nghiêm các vi phạm khai thác gỗ và khoáng sản trái phép.
  • Cấp cộng đồng: Giao khoán bảo vệ rừng gắn liền với quyền lợi; xây dựng quy ước bảo vệ rừng tại từng xóm bản; thành lập các tổ tuần tra tự quản thôn bản.
  • Cải thiện sinh kế: Hướng dẫn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; thâm canh tăng vụ trên diện tích đất nông nghiệp hiện có; phát triển kinh tế vườn rừng, trồng cây ăn quả, keo, bạch đàn; hỗ trợ người dân tiếp cận vốn vay phát triển sản xuất nhằm giảm phụ thuộc vào rừng tự nhiên.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết toàn bộ các phát hiện về diện tích, trữ lượng, chỉ số sinh thái và các áp lực nhân sinh. Kiến nghị các cấp có thẩm quyền đầu tư hạ tầng y tế, giáo dục, giải quyết dứt điểm tình trạng thiếu đất sản xuất và cấp kinh phí thỏa đáng cho công tác khoán bảo vệ rừng vùng lõi.


Kết quả và đóng góp nghiên cứu

Kết quả định lượng chính

  • Xác định tổng diện tích đất lâm nghiệp xã Thần Sa là 9.537,30 ha, trong đó trạng thái IIB chiếm diện tích lớn nhất (3.369,20 ha; 35,33%), tiếp theo là IIA (3.272,50 ha; 34,31%) và IIIA1 (2.612,14 ha; 27,39%). Các diện tích đất trống trảng cỏ (IA, IB, IC) chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ (dưới 3%).
  • Trữ lượng gỗ tầng cây đứng ở mức thấp đến trung bình: Trạng thái IIB đạt 26,65 – 36,45 m³/ha; trạng thái IIIA1 đạt 39,06 – 55,12 m³/ha.
  • Xác định được công thức tổ thành và các loài ưu thế sinh thái tầng tán tại 6 ô tiêu chuẩn, phản ánh sự suy giảm của các loài gỗ quý nhóm IIA (Nghiến, Trai lý, Lát hoa chỉ còn bắt gặp rải rác hoặc ở dạng cây tái sinh) và sự thay thế ưu thế của các loài như Kháo, Bứa, Trám, Sấu, Vàng anh, Bồ đề.
  • Định lượng 7 áp lực nhân sinh lên tài nguyên rừng qua điều tra PRA (n = 21): Khai thác gỗ (100%), lấy củi (100%), khai thác lâm sản ngoài gỗ (85,71%), săn bắt động vật (71,42%), chăn thả gia súc (57,14%), xâm lấn đất (28,57%), cháy rừng (9,52%).

Đóng góp thực tiễn của đề tài

  • Cung cấp bộ cơ sở dữ liệu thực địa chi tiết về cấu trúc mật độ, tiết diện ngang, trữ lượng và các chỉ số đa dạng loài ($H$, $Cd$, $SI$) cho các trạng thái rừng tự nhiên phục hồi trên núi đá vôi tại xã Thần Sa.
  • Phản ánh trung thực mức độ phụ thuộc sinh kế của đồng bào các dân tộc thiểu số vào tài nguyên rừng, chỉ ra mối liên hệ trực tiếp giữa việc sử dụng cưa máy cầm tay, nhu cầu dựng nhà sàn truyền thống với sự suy kiệt các loài gỗ đặc hữu như Nghiến, Lát hoa.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp quản lý rừng tích hợp giữa cấp chính quyền địa phương, tổ chức cộng đồng thôn bản và các chương trình hỗ trợ sinh kế thay thế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế: Dung lượng mẫu điều tra xã hội học còn khiêm tốn (21 phiếu phỏng vấn hộ gia đình tại một số xóm bản đại diện); thời gian điều tra thực địa giới hạn trong 4 tháng (tháng 2 đến tháng 5/2016) nên chưa theo dõi được biến động cấu trúc rừng và sinh khối tái sinh qua các mùa khác nhau trong năm; chưa thực hiện đo đếm sinh khối tầng cây tái sinh, thảm tươi và vật rơi rụng để ước lượng đầy đủ trữ lượng carbon tích lũy.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng quy mô điều tra PRA trên toàn bộ các xóm bản trong xã Thần Sa và các xã lân cận thuộc vùng lõi khu bảo tồn; thiết lập hệ thống định vị ô tiêu chuẩn định vị cố định (Permanent Sampling Plots) để quan trắc dài hạn động thái phục hồi cấu trúc và diễn thế rừng sau khi áp dụng các biện pháp khoán bảo vệ nghiêm ngặt.

Giá trị tham khảo của đề tài

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Khoa học môi trường; cán bộ kỹ thuật Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng; cán bộ kiểm lâm huyện Võ Nhai và chính quyền địa phương xã Thần Sa.
  • Phần nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Phương pháp thiết kế ô tiêu chuẩn vệ tinh và ô lồng nhau áp dụng cho địa hình núi đá vôi có độ dốc cao và chia cắt phức tạp.
    • Bộ số liệu tính toán chi tiết về chỉ số giá trị quan trọng ($IVI$), độ phong phú tương đối ($A%$), độ ưu thế tương đối ($D%$) và tần suất xuất hiện ($RF%$) của các loài cây gỗ rừng thứ sinh.
    • Ma trận tổng hợp các hình thức tác động nhân sinh và cơ cấu loài gỗ bị khai thác phục vụ xây dựng phương án giao khoán, bảo tồn rừng đặc dụng có sự tham gia của người dân bản địa.

Câu hỏi thường gặp

1. Trạng thái rừng nào chiếm diện tích lớn nhất tại xã Thần Sa trong thời gian nghiên cứu?
Trạng thái rừng phục hồi trung bình (IIB) chiếm diện tích lớn nhất với 3.369,20 ha (tương ứng 35,33% tổng diện tích đất lâm nghiệp), kế tiếp là trạng thái phục hồi non IIA với 3.272,50 ha (34,31%) và trạng thái rừng nghèo kiệt IIIA1 với 2.612,14 ha (27,39%).

2. Trữ lượng gỗ thân cây đứng của các trạng thái rừng tự nhiên IIB và IIIA1 tại xã Thần Sa đạt bao nhiêu?
Trữ lượng gỗ thân cây đứng ở trạng thái IIB dao động trong khoảng từ 26,65 m³/ha đến 36,45 m³/ha (với tổng tiết diện ngang 5,16 – 7,32 m²/ha). Ở trạng thái IIIA1, trữ lượng dao động từ 39,06 m³/ha đến 55,12 m³/ha (tổng tiết diện ngang 7,26 – 8,32 m²/ha).

3. Loài cây gỗ nào có chỉ số giá trị quan trọng (IVI) cao nhất trong các ô tiêu chuẩn nghiên cứu?
Tùy thuộc vào vị trí và trạng thái, các loài chiếm ưu thế cao nhất gồm: Kháo ($IVI = 12,86%$) tại OTC 1 - IIB Xuyên Sơn; Vàng anh ($IVI = 11,74%$) tại OTC 2 - IIB Xuyên Sơn; Bồ đề ($IVI = 9,19%$) tại OTC 1 - IIB Ngọc Sơn 2; Sấu ($IVI = 13,00%$) tại OTC 2 - IIIA1 Ngọc Sơn 1; và Bứa ($IVI = 10,34%$) tại OTC 1 - IIIA1 Ngọc Sơn 2.

4. Hai loài cây gỗ nào bị người dân khai thác nhiều nhất và nguyên nhân chính là gì?
Nghiến (100% số phiếu điều tra) và Lát hoa (80,95% số phiếu điều tra) là hai loài bị khai thác nhiều nhất. Nguyên nhân do đây là các loại gỗ quý có giá trị kinh tế cao, độ bền chống mối mọt tốt, được người dân ưu tiên khai thác để làm nhà sàn truyền thống, làm củi và bán cho các đầu mối thu mua.

5. Phương pháp ô tiêu chuẩn nào được áp dụng cho địa hình rừng núi đá vôi hiểm trở tại khu vực?
Bên cạnh ô tiêu chuẩn tập trung dạng lồng nhau diện tích 2.000 m² (50m × 40m) chứa ô thứ cấp 500 m² (25m × 20m), tác giả áp dụng ô tiêu chuẩn vệ tinh gồm 4 ô thứ cấp (10m × 50m) bố trí theo các hướng chính Tây, Bắc, Đông, Nam (theo phương pháp Zoehrer, 1980 cải tiến) kết hợp đo góc dốc bằng Clinometer để điều chỉnh chiều dài cạnh trên sườn dốc.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nông Văn Tuần đã lượng hóa hiện trạng tài nguyên rừng tự nhiên và phân tích cấu trúc tổ thành thực vật thân gỗ tại xã Thần Sa thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng phần lớn diện tích rừng tại đây thuộc trạng thái phục hồi nghèo kiệt và trung bình, trữ lượng gỗ thấp, các loài gỗ quý đặc hữu đang đứng trước nguy cơ suy kiệt do áp lực khai thác làm nhà, lấy củi và săn bắt của cộng đồng dân cư. Các giải pháp đề xuất kết hợp giữa tuần tra bảo vệ nghiêm ngặt của lực lượng chức năng, giao khoán bảo vệ rừng cấp thôn bản và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp có giá trị thực tiễn cao đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại địa phương.