Chương 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước Mảng nghiên cứu thứ nhất liên quan đến vấn đề này là các nghiên cứu đánh giá chất lượng của chương trình đào tạo. Năm 2003, trong khuôn khổ Tiểu dự án giáo dục đại học mức A, trường Đại học Ngoại thương tổ chức Hội thảo khoa học “Đánh giá chương trình đào tạo chuyên ngành kinh tế ngoại thương”.
Hầu hết các nghiên cứu trong Tiểu dự án này tập trung vào đánh giá mục tiêu, nội dung của chương trình đào tạo, số khác tập trung vào đánh giá công tác quản lý và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo chuyên ngành kinh tế ngoại thương. Phương pháp đánh giá là lấy ý kiến của sinh viên đang học, sinh viên đã tốt nghiệp, lấy ý kiến của cán bộ quản lý, các giảng viên và các nhà tuyển dụng về sự phù hợp của mục tiêu chương trình đào tạo, sự hợp lý của nội dung môn học và phương pháp tổ chức thực hiện chương trình đào tạo trên thông qua phiếu trưng cầu ý kiến và phỏng vấn. Kết quả cho thấy mục tiêu của chương trình đào tạo là phù hợp với nhu cầu của xã hội và đặc điểm tình hình của khoa Kinh tế ngoại thương, hình thức tổ chức thực hiện chương trình đào tạo hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập của sinh viên song nội dung chương trình còn phân bổ chưa hợp lý do nhiều môn nặng về lý luận kinh tế, không thiết thực như kinh tế chính trị và còn thiếu một số môn học mang tính hiện đại như các môn học về toàn cầu hóa 1. Như vậy, đây là đề tài đánh giá về chương trình đào tạo của một chuyên ngành cụ thể là Kinh tế ngoại thương, các phương pháp nghiên cứu của đề tài rất gần với phương pháp nghiên cứu mà tác giả thực hiện trong luận văn này.
Đó là lấy ý kiến của các nhà tuyển dụng và sinh viên tốt nghiệp về sự phù hợp của mục tiêu và sự hợp lý của nội dung chương trình đào tạo. Năm 2005, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) là cơ sở đào tạo đầu tiên ở Việt Nam thí điểm áp dụng Bộ tiêu chuẩn đánh giá chương trình đào tạo trong khuôn khổ của Chương trình Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á - 1 Nguồn: Đai học Ngoại Thương (2003), kỷ yếu hội thảo “Đánh giá chương trình đào tạo chuyên ngành kinh tế ngoại thương” 6 châu Âu (AUNP) để tổ chức cho 2 đơn vị trực thuộc viết báo cáo tự đánh giá về 4 chương trình đào tạo: Trường Đại học Khoa học Tự nhiên tự đánh giá chất lượng 2 chương trình đào tạo ngành Toán học (chương trình chuẩn và chương trình dành cho sinh viên tài năng), Khoa Công nghệ tự đánh giá chất lượng 2 chương trình đào tạo ngành Công nghệ thông tin (chương trình chuẩn và chương trình chất lượng cao). Trong 2 năm 2006-2007 các chuyên gia của Trung tâm Đảm bảo chất lượng đào tạo và Nghiên cứu phát triển giáo dục thuộc ĐHQGHN dự thảo các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng chương trình đào tạo trong các trường đại học thành viên và các khoa trực thuộc ĐHQGHN và ngày 30/11/2007 Giám đốc ĐHQGHN đã ký quyết định số 4447/QĐ-KĐCL ban hành bộ “Tiêu chuẩn kiểm định chương trình đào tạo” ở ĐHQGHN. Hiện đã có 4 đơn vị trong ĐHQGHN đăng ký đánh giá chương trình trong năm học 2008-2009 là Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, đánh giá chương trình đào tạo tài năng ngành Vật lý, trường Đại học KHXH&NV đánh giá chương trình chất lượng cao ngành Ngôn ngữ, trường Đại học Ngoại ngữ đánh giá chương trình chất lượng cao ngành Tiếng Anh hệ Sư phạm và trường Đại học Kinh tế đánh giá chương trình chất lượng cao ngành Kinh tế đối ngoại.
Đồng thời, ĐHQGHN đã đăng ký kiểm định chất lượng theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á (AUN) để lấy chứng chỉ quốc tế đối với chương trình đào tạo về Công nghệ thông tin của trường Đại học Công nghệ. Có thể thấy, hầu hết các nghiên cứu đánh giá chương trình đào tạo trên đây thường đánh giá chương trình đào tạo trên cơ sở kiểm định chương trình đào tạo, xem xét chương trình đào tạo đó có thích ứng được các tiêu chuẩn mà Bộ Giáo dục đào tao hay các cơ sở đào tạo xây dựng và các tiêu chuẩn có sẵn do các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đưa ra. Trong đánh giá về chương trình đào tạo của các nghiên cứu trên đây, có một phần khảo sát tình trạng việc làm và đi học tiếp sau khi tốt nghiệp, mức độ nhà tuyển dụng hài lòng với các phẩm chất của sinh viên tốt nghiệp để đánh giá chất lượng của chương trình đào tạo. 7 Mức độ thích ứng của sinh viên tốt nghiệp tại cơ sở làm việc là một trong những tiêu chí nhằm đánh giá chất lượng đào tạo.
Luận văn này không nhằm đánh giá tất cả các lĩnh vực trên mà chủ yếu đánh giá một lĩnh vực cụ thể là mức độ thích ứng của sinh viên đã tốt nghiệp đối với yêu cầu của nhà tuyển dụng. Một loạt các nghiên cứu của các nhà khoa học hàng đầu Việt Nam về đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục thực hiện như nghiên cứu của Phạm Phụ trong tác phẩm "Về khuôn mặt mới của giáo dục đại học Việt Nam” hay Phạm Xuân Thanh với các nghiên cứu trong cuốn "Giáo dục đại học: Chất lượng và đánh giá", Đỗ Thiết Thạch với bài viết "Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng EFQM và sử dụng vào việc nâng cao chất lượng trường trung cấp chuyên nghiệp - dạy nghề, cao đẳng và đại học" và Lê Đức Ngọc với bài viết "Bàn về nội hàm của chất lượng đào tạo đại học và sau đại học" cũng theo hướng này, tức là mức độ thích ứng của sinh viên tốt nghiệp đối với thị trường lao động là một trong những tiêu chí để đánh giá chất lượng của các chương trình đào tạo. Theo Phạm Xuân Thanh, để chất lượng đào tạo tại các trường được tốt, việc đánh giá và theo dõi chất lượng sinh viên tốt nghiệp là một yêu cầu bắt buộc và đã đưa ra một số tiêu chí để đánh giá tình trạng việc làm sau khi tốt nghiệp, các phẩm chất sinh viên cần có để đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động (tính sáng tạo, tự tin, có kiến thức sâu rộng…), khả năng tiếp tục học cao hơn của sinh viên tốt nghiệp, sự hài lòng của sinh viên với chất lượng giáo dục của nhà trường, sự hài lòng của các nhà tuyển dụng lao động với chất lượng giáo dục của nhà trường. Cụ thể hơn các nghiên cứu trên đây, trong đề tài “Các Giải pháp Cơ bản nâng cao Chất lượng Giáo dục Đại học” do trường Đại học Sư Phạm Tp.HCM thực hiện năm 2007 nhằm thu thập các ý kiến về chất lượng của giáo dục đại học Việt Nam, các nhà khoa học đã tập trung lấy ý kiến của các nhà giáo dục, các tổ chức sử dụng lao động và ý kiến của sinh viên tốt nghiệp về chất lượng của sản phẩm giáo dục đại học hiện nay là như thế nào và các tiêu chí mà sinh viên tốt nghiệp cần phải có.
Kết quả của đề tài cho thấy mức độ hài lòng của các các nhà giáo dục, các tổ chức sử dụng lao động về chất lượng sinh viên tốt nghiệp là không cao, hầu hết các sinh viên 8 tốt nghiệp sau khi đi làm việc các cơ quan sử dụng lao động đều phải đào tạo lại 2. Đề tài cũng khái quát được những tiêu chí về kiến thức, kỹ năng và phẩm chất mà một sinh viên tốt nghiệp cần phải có khi đi làm việc. Tuy nhiên, những tiêu chí này là chung cho tất cả các ngành học, các chương trình đào tạo chứ chưa đi vào cụ thể từng ngành học ra sao. Bên cạnh các nghiên cứu đánh giá, chất lượng sản phẩm của giáo dục đại học, cao đẳng là một tiêu chí để đánh giá hiệu quả của chương trình đào tạo thì hiện nay cũng có một số các nghiên cứu liên quan đến vấn đề mà luận văn đang tiếp cận là đào tạo theo nhu cầu xã hội.
Hướng nghiên cứu này đang là vấn đề rất được quan tâm. Các nghiên cứu trình bày trong hội thảo quốc gia "Đào tạo theo nhu cầu xã hội" do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức vào các năm 2005 và 2007 vào khả năng đáp ứng với yêu cầu thực tế của sinh viên tốt nghiệp. Tuy nhiên, các tham luận này chỉ mang tính chất lý luận chứ trên thực tế chưa có bào cáo nào xuất phát từ những kết quả nghiên cứu thực tiễn. Các báo cáo này nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc đào tạo theo nhu cầu của xã hội, trước hết, giúp cho nền kinh tế có một nguồn nhân lực có chất lượng cao, thứ hai là giảm được chi phí đào tạo lại, tiết kiệm của cải cho xã hội.
Các báo cáo cũng thống nhất là phải lấy ý kiến đóng góp của nhà tuyển dụng trong quá trình xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo3. Cũng cùng hướng tiếp cận đó, hội thảo “Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội” do Trường ĐHKHXH&NV tổ chức ngày 20/4/2009 đã ghi nhận nhiều tham luận, chủ yếu từ các góc độ hẹp và cụ thể, nhưng được minh chứng qua những con số thống kê trung thực nhất đã làm sáng rõ tính đúng đắn của nhiều nhận định từ các nhà tuyển dụng, nhà giáo dục và cả các cựu sinh viên. Kết luận chính của hội thảo là sinh viên ra trường yếu về thực hành, kém về kỹ năng và có một ”độ vênh” nhất định giữa đào tạo đại học và yêu cầu của thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội. Độ vênh đó thể hiện cả trong kiến thức và các kĩ năng cứng và mềm của sinh viên.
2 Nguồn: Bùi Mạnh Nhị (2004), Các giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng giáo dục đại học, báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ B2004-CTGD-05, Hà Nội. 3 Nguồn: Bộ giáo dục và đào tạo (2005-2007), kỷ yếu hội thảo “ Đào tạo theo nhu cầu xã hội” 9 Trên thực tế, sinh viên mới tốt nghiệp thường phải được đào tạo lại tại nơi tuyển dụng từ 6 tháng đến 1 năm. Các nội dung đào tạo lại không chỉ là chuyên môn nghiệp vụ mà cả thái độ làm việc, đạo đức nghề nghiệp, kỉ luật lao động cho đến các kĩ năng cơ bản trong việc ứng phó và giải quyết các vấn đề thực tiễn trong quá trình làm việc.