Đặt vấn đề Rừng là sản vật quý giá và có thể tái tạo được mà thiên nhiên ban tặng cho con người, rừng giữ một vai trò vô cùng to lớn đối với sự sống và hoạt động sống của con người và tất cả các sinh vật trên trái đất. Trên thực tế rừng không chỉ giữ vai trò là cơ sở cho hoạt động sống mà còn giữ vai trò điều hòa nguồn nước, điều hòa khí hậu, cải tạo đất, không khí, giảm tiếng ồn, cung cấp gỗ, lâm sản ngoài gỗ cho nhu cầu của con người, nhất là đối với đồng bào các dân tộc miền núi rừng giữ một vai trò không thể tách rời thông qua các hoạt động sinh kế từ rừng. Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới, khí hậu nhiệt đới gió mùa, hơn 3/4 diện tích là đồi núi thuận lợi cho phát triển nông lâm nghiệp. Ngành lâm nghiệp là một ngành đặc thù và giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Nước ta có hơn 25 triệu dân hoạt động sinh kế từ rừng. Tuy nhiên nạn khai thác rừng nhằm phát triển kinh tế, tạo ngoại tệ thông qua xuất khẩu, khai thác bừa bãi, khai thác lậu, đốt nương làm rẫy, đô thị hóa làm cho diện tích rừng ngày càng bị suy giảm cả số lượng lẫn chất lượng. Nước ta có tổng diện tích tự nhiên là 33,12 triệu ha trong đó 14,3 triệu ha rừng, độ che phủ là 47% năm 1943 và độ che phủ rừng suy giảm xuống còn 27,2% trong thập niên 90 của thế kỷ XX. Trước tình hình đó Đảng và Nhà Nước đã đưa ra nhiều chủ chương, chính sách nhằm bảo vệ, phát triển, gây trồng, sử dụng tài nguyên rừng một cách bền vững như các dự án PAM, 327, 661, chiến lược phát triển lâm nghiệp (2006- 2020) nhằm đưa độ che phủ rừng lên 47% năm 2020 (Bộ NN & PTNN 2005) [4].
Mô hình vườn rừng tại trường đại học nông lâm thái nguyên là một trong những mô hình đại diện cho khoa Lâm Nghiệp nói riêng và của nhà 2 trường nói chung, mô hình có sự kết hợp giữa vườn ươm, rừng trồng, vườn cây ăn quả, gồm các loại cây: keo, mỡ, lát, vải… đây là mô hình giữ vai trò quan trọng giúp sinh viên khoa lâm nghiệp vận dụng những kiến thức lý thuyết đã học vào thực tiễn tại hiện trường, thực tập rèn nghề các kiến thức như: Sản xuất cây con, chăm sóc cây con, trồng và chăm sóc rừng trồng, điều tra nhận biết được một số sâu bệnh hại cây con và rừng trồng. Mô hình sẽ giúp các kỹ sư lâm nghiệp có tay nghề thành thạo nhất trước khi ra trường và đây con là mô hình cho các khoa khác liên quan tới cây trồng học tập. Để các mô hình vườn rừng khác nói chung và mô hình vườn rừng của khoa Lâm nghiệp nói riêng phát huy được hiệu quả ngoài công tác đầu tư phát triển mô hình một cách bài bản thì việc phát hiện, phòng trừ bệnh hại đối với các cây tại mô hình vườn rừng là yếu tố quyết định trong mô hình. Tuy nhiên, tại mô hình vườn rừng hiện nay xuất hiện nhiều loại bệnh hại do nhiều nguyên nhân gây ra như: gỉ sắt lá keo, phấn trắng lá keo, khảm lá keo, khảm lá lát, cháy lá keo.
ở vườn ươm và rừng trồng tại mô hình vườn rừng. Vì vậy việc cấp thiết là tìm ra nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng và các tác động của yếu tố ngoại cảnh cũng như công tác chăm sóc quản lý vườn ươm tới sự phát sinh phát triển của bệnh hại cây, từ đó đề ra các biện pháp phòng trừ cho cây con và rừng trồng phát triển tốt. Xuất phát từ thực tế trên, nguyện vọng muốn góp phần tìm ra các biện pháp phòng trừ một số bệnh hại chủ yếu tại mô hình vườn rừng chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá mức độ hại và đề xuất một số biện pháp phòng trừ bệnh hại chính cây trồng trong mô hình vườn rừng tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, thành phố Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu Đề xuất được một số biện pháp kỹ thuật phòng trừ bệnh hại cây con và rừng trồng tại mô hình vườn rừng góp phần tạo ra giống cây tốt, rừng trồng sạch bệnh góp phần quản lý tốt mô hình.
Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được các loại bệnh hại trên đối tượng cây con và rừng trồng tại mô hình vườn rừng. - Đề xuất một số biện pháp phòng trừ bệnh hại chủ yếu đối với cây con và rừng trồng tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1. Ý nghĩa khoa học - Củng cố những kiến thức đã học cho sinh viên.
- Giúp sinh viên nắm vững những phương pháp điều tra đánh giá bệnh hại tại vườn ươm và rừng trồng. - Bước đầu biết tự chủ trong nghiên cứu một đề tài khoa học. - Biết cách tổng hợp, phân tích số liệu, đánh giá kết quả và viết một báo cáo nghiên cứu khoa học. - Đề tài là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu tiếp thu về phòng trừ bệnh hại cây con tại vườn ươm và rừng trồng.
Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất - Quá trình thu thập số liệu giúp tôi làm quen với thực tế sản xuất. - Kết quả nghiên cứu của đề tài được sử dụng làm tài liệu tham khảo vào thực tiễn sản xuất để phòng trừ bệnh hại cho cây con và rừng trồng sinh trưởng và phát triển tốt nâng cao chất lượng cây giống, rừng sản xuất đáp ứng được mục tiêu kinh doanh. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở lý luận Bệnh cây là tình trạng sinh trưởng và phát triển không bình thường của cây dưới tác động của một hay nhiều yếu tố ngoại cảnh hoặc là vật ký sinh nào đó gây nên những thay đổi trong quá trình sinh lý.
Từ đó dẫn đến những thay đổi trong chức năng cấu trúc, giải phẫu hình thái của một bộ phận nào đó trên cây hoặc toàn bộ cây làm cho cây sinh trưởng và phát triển kém, thậm chí có thể chết gây nên những thiệt hại về kinh tế (Đặng Kim Tuyến, 2005) [10]. Theo thống kê của cẩm nang ngành Lâm Nghiệp 2006 nước ta đã từng xảy ra các loại dịch bệnh nguy hiểm làm gây thiệt hại hàng chục ha rừng như: bệnh khô cành bạch đàn ở Thừa Thiên Huế làm cho 500 ha cây bị khô, ở Đồng Nai 11.000 ha, ở Quảng Trị gây hại trên 50 ha. Bệnh khô xám lá thông, bệnh rơm lá thông, bệnh khô ngọn thông, bệnh thối cổ rễ thông, bệnh vàng lá sa mộc, bệnh khô cành cây phi lao, bệnh khô héo trẩu, bệnh trổi sể tre luồng, bệnh sọc tím tre luồng, bệnh tua mực quế.đã uy hiếp nghiêm trọng hàng ngàn ha rừng và sản xuất lâm nghiệp nước ta [2]. Theo thống kê ở Mỹ thiệt hại do bệnh cây gây ra là lớn nhất chiếm 45%, sâu hại 20% và cháy rừng 17% (Cẩm nang ngành Lâm Nghiệp, 2006) [2].
Trong các hệ sinh thái, hệ sinh thái rừng tự nhiên có tính ổn định cao, không có sinh vật gây hại nghiêm trọng và nó có thể tự điều chỉnh để cân bằng còn đối với hệ sinh thái rừng trồng tính bền vững và ổn định kém, vì vậy rất dễ bị tổn thương khi bị các tác động bất lợi, do đó việc phòng trừ sâu bệnh hại rừng là cần thiết và có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự sinh trưởng cũng như tồn tại của cây rừng (Cẩm nang ngành Lâm Nghiệp, 2006) [2]. Hàng năm, dịch sâu bệnh hại rừng trồng đã gây nên những tổn thất lớn không những làm giảm chất lượng rừng, làm chết cây ước tính thiệt hại nhiều 5 tỷ đồng mà còn làm suy thoái môi trường. Theo Nghị quyết của Quốc hội khoá X kỳ họp thứ hai ngày 5/12/1997, vấn đề sâu bệnh hại rừng là vấn đề sinh học. Rừng càng được trồng trên quy mô lớn là những điều kiện thuận lợi về thức ăn cho sâu bệnh phát sinh và phát triển, tần suất dịch sẽ cao, hậu quả khó có thể lường trước được (Cẩm nang ngành Lâm Nghiệp, 2006) [2].
Năm 1968, thống kê kết quả điều tra các nguyên nhân gây bệnh ở rừng nhiệt đới của Brown thì trong tổng số 772 loài cây rừng nhiệt đới khi điều tra tỷ lệ mắc bệnh cho thấy: bệnh do nấm gây ra 83%, cây ký sinh 12%, Vi khuẩn 3,4%, Vi rút 1%, còn lại là các nguyên nhân khác. Trong rừng ôn đới có khí hậu lạnh tỷ lệ mắc bệnh do nấm chiếm từ 95% đến 97%, còn lại là các nguyên nhân khác. Như vậy bệnh cây rừng nói chung do yếu tố nấm gây nên (Đặng Kim Tuyến, 2005) [10]. Nhận biết được trạng thái bệnh và đặc trưng bệnh là những căn cứ để nhận biết và chẩn đoán bệnh cây.
Đối với nhiều bệnh thường xuyên gặp ta có thể nhận biết thông qua triệu chứng và có thể tiến hành chỉ đạo phòng trừ. Nhưng đối với những loại bệnh ít gặp và biến đổi nhiều cần phải phân tích, đối chiếu với những tài liệu và thông qua kết hợp với việc kiểm tra vật gây bệnh để tiến hành chẩn đoán. Đối với những bệnh mới cần phải kết hợp việc giám định vật gây bệnh, xác định sự xâm nhiễm để chẩn đoán (Đặng Kim Tuyến, 2005) [10]. Những nghiên cứu trên thế giới Khoa học về bệnh cây rừng hay bệnh lý học cây rừng mới hình thành từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, ở thời kỳ này đã xác lập cơ sở của khoa học bệnh cây quyết định đến toàn bộ lịch sử phát triển về sau này và mở ra con đường phát triển nhanh chóng của của khoa học bệnh cây [2].
Nhà bác học Đức Anton Đơ Bari (1831 - 1888) và nhà bác học Nga Voronin M. 6 Năm 1874, nhà khoa học người Đức Robert Hartig (1839-1901) là người đặt nền móng cho việc nghiên cứu môn khoa học bệnh cây rừng. Ông phát hiện sợi nấm trong gỗ và mỗi quan hệ giữa hình hình thành thể quả nấm tới hiện tượng mục gỗ [2]. Roger đã nghiên cứu bệnh hại cây rừng ở các nước nhiệt đới như bệnh hại lá keo, thông, bạch đàn.
Vào năm 1961, John Boyce xuất bản sách Bệnh cây rừng (Forest pathology) đã mô tả một số bệnh hại cây rừng [2]. Loài nấm hại lá Glomerlla cingulata (giai đoạn vô tính là nấm Colletotrichum gleosporioides.) làm cây trồng khô héo, rụng lá và tàn lụi từ trên xuống dưới (chết ngược) đó là nguyên nhân chủ yếu của sự thiệt hại với loài keo Acacia mangium trong vườn giống ở Papua New Guinea (FAO 1981) và Ấn Độ. Theo nghiên cứu của Lee và Goh năm 1989 loài nấm này còn hại với các loài Acacia ssp.