Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đề tài "Đánh giá mức độ hài lòng của người dân đối với việc sử dụng các công trình hạ tầng trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Na Rì, Bắc Kạn" do sinh viên Mã Phương Linh thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Đức Lâm (Khoa Kinh tế Chính trị, Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội, bảo vệ tháng 4 năm 2023).
Bối cảnh thực tiễn của nghiên cứu gắn liền với việc triển khai các văn bản chỉ đạo của Chính phủ và chính quyền địa phương, bao gồm:
- Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 22/02/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025.
- Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 08/03/2022 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025.
- Quyết định số 1304/QĐ-UBND ngày 15/07/2022 của UBND tỉnh Bắc Kạn ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới giai đoạn 2022 – 2025.
Tại huyện Na Rì, phong trào xây dựng nông thôn mới đã huy động được nguồn lực lớn từ cộng đồng. Theo báo cáo của UBND huyện Na Rì (2021), nhân dân trên địa bàn đã hiến 15.003 m² đất nông nghiệp, đóng góp trên 9.318 ngày công lao động, và đóng góp tiền mặt cùng các hiện vật quy đổi đạt gần 1 tỷ đồng. Tuy nhiên, thực tế nảy sinh nhiều bất cập trong khâu huy động sức dân và thi công: công tác giải phóng mặt bằng còn vướng mắc; một số tuyến đường sau khi cứng hóa hoặc bê tông hóa lại thiếu đồng bộ với hệ thống chiếu sáng, hoặc bị đào xới để lắp đặt đường điện sinh hoạt và cáp viễn thông; chất lượng và kỹ mỹ thuật của một số công trình chưa đáp ứng được kỳ vọng của người dân, dẫn tới sự không hài lòng và gây khó khăn cho việc vận động đóng góp trong các giai đoạn tiếp theo.
Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể như sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới và sự hài lòng của người dân.
- Phân tích, đánh giá mức độ hài lòng của người dân trong việc sử dụng các công trình hạ tầng kỹ thuật (tập trung vào trường mầm non và đường giao thông trục thôn) trên địa bàn huyện Na Rì.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của người dân đối với các công trình này.
- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng của người dân đối với việc quản lý, đầu tư và sử dụng các công trình hạ tầng kỹ thuật.
Khóa luận giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:
- Thực trạng mức độ hài lòng của người dân khi sử dụng công trình hạ tầng kỹ thuật trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Na Rì như thế nào?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân khi sử dụng các công trình hạ tầng kỹ thuật tại địa phương?
- UBND huyện Na Rì cần có những giải pháp gì để nâng cao mức độ hài lòng của người dân trong thời gian tới?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Sự hài lòng của người dân khi sử dụng trường mầm non và đường trục thôn, cùng các yếu tố tác động đến mức độ hài lòng này.
- Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn (bao gồm 02 xã đã đạt chuẩn nông thôn mới, 04 xã phấn đấu đạt chuẩn và các xã còn lại chưa đạt chuẩn).
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2019 – 2022; dữ liệu sơ cấp được điều tra khảo sát trong năm 2022.
- Phạm vi nội dung: Tập trung đo lường 3 khía cạnh chính của công trình hạ tầng kỹ thuật: chất lượng công trình, tính thẩm mỹ và tính đa dụng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thuộc nhóm nghiên cứu kinh tế học ứng dụng, kết hợp giữa khung lý thuyết kinh tế phát triển và phương pháp điều tra xã hội học định lượng mô tả.
Khung lý thuyết và tiêu chuẩn áp dụng
- Lý thuyết về sự hài lòng: Tác giả kế thừa định nghĩa của Johnson và cộng sự (1995), Hoyer và MacInnis (2001) về sự đánh giá tâm lý dựa trên so sánh giữa kỳ vọng trước khi dùng và trải nghiệm thực tế; lý thuyết "Kỳ vọng – Xác nhận" (Expectancy – Disconfirmation Theory) của Oliver (1980); Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ (ACSI, 2008); các quan điểm về quan hệ giữa chi phí, giá cả cảm nhận và sự hài lòng của Cronin và Taylor (1992), Varki và Colgate (2001).
- Lý luận về vai trò hạ tầng: Luận điểm phát triển hạ tầng tác động tích cực đến tăng trưởng và giảm bất bình đẳng của Cesar Calderon và Luis Serven (2004), Naoyuki Yoshino và Masaki Nakahigashi (2000), Kingsley Thomas (2004), Ngân hàng Thế giới (2000) và Phạm Thị Tuý (2006).
- Cơ sở pháp lý và tiêu chuẩn kỹ thuật nhà nước:
- Quyết định số 492/QĐ-TTg ngày 16/04/2009 và Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 quy định 8 tiêu chí hạ tầng kỹ thuật trong xây dựng nông thôn mới (giao thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, hạ tầng thương mại nông thôn, thông tin và truyền thông, nhà ở dân cư).
- Tiêu chuẩn đường trục thôn theo quy định của Bộ Giao thông vận tải (2014): Tốc độ thiết kế 15 km/h; chiều rộng mặt đường tối thiểu 4,0 m; bán kính đường cong nằm tối thiểu 15 m; độ dốc từ 5% đến 15%; lưu lượng thiết kế từ 50 đến 100 xe ô tô dưới 19 chỗ và tải trọng dưới 2 tấn.
- Tiêu chuẩn trường mầm non theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015): Diện tích mặt bằng tối thiểu 12 m²/trẻ; phòng sinh hoạt chung từ 1,5 đến 1,8 m²/trẻ; phòng ngủ từ 1,2 đến 1,5 m²/trẻ; khu vệ sinh khép kín từ 0,4 đến 0,6 m²/trẻ (tỷ lệ 1 bồn cầu/10 trẻ); hiên chơi rộng từ 2,1 m trở lên (0,5 – 0,7 m²/trẻ) có lan can an toàn cao 0,8 – 1,0 m; phòng giáo dục thể chất/nghệ thuật tối thiểu 60 m²; khu vực nhà bếp từ 0,3 đến 0,35 m²/trẻ vận hành theo nguyên tắc một chiều.
Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu
Nghiên cứu sử dụng hai nguồn dữ liệu độc lập:
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ cổng thông tin internet, các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo thống kê kinh tế - xã hội của UBND huyện Na Rì và các phòng ban chuyên môn giai đoạn 2019 – 2022.
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi cấu trúc tới 2 nhóm đối tượng: hộ nông dân và cán bộ phụ trách xây dựng nông thôn mới cấp xã. Quy mô mẫu được xác định theo công thức chọn mẫu ngẫu nhiên Slovin với sai số biên $e = 0{,}05$ (độ tin cậy 95%):
$$n = \frac{N}{1 + N \cdot e^2}$$
| Nhóm đối tượng khảo sát |
Tổng thể ($N$) |
Kích thước mẫu tính toán ($n$) |
Số phiếu phát ra / thu về thực tế |
Phân bổ địa bàn |
| Hộ gia đình nông dân |
9.281 hộ |
383 mẫu |
387 phiếu |
18 hộ / xã (trên 21 xã) |
| Cán bộ phụ trách NTM |
383 cán bộ |
189 mẫu |
189 phiếu |
9 cán bộ / xã (trên 21 xã) |
Tác giả sử dụng thang đo khoảng cách Likert 5 mức độ để lượng hóa sự hài lòng:
- 1 điểm: Rất không hài lòng
- 2 điểm: Không hài lòng
- 3 điểm: Bình thường (Trung bình)
- 4 điểm: Hài lòng
- 5 điểm: Rất hài lòng
Quy chuẩn đánh giá: Điểm trung bình dưới 2,0 thuộc mức không hài lòng; từ 2,0 đến dưới 4,0 là mức trung bình/bình thường; từ 4,0 trở lên đạt mức hài lòng.
Hệ thống biến quan sát được xây dựng thành hai nhóm:
- Đo lường sự hài lòng đối với trường mầm non (05 nhân tố): (1) Cơ sở vật chất phòng sinh hoạt chung; (2) Cơ sở vật chất phòng ngủ; (3) Khu vui chơi ngoài trời; (4) Vệ sinh an toàn thực phẩm và phòng cháy chữa cháy; (5) Mức độ đáp ứng mong muốn của người dân.
- Đo lường sự hài lòng đối với đường giao thông trục thôn (04 nhân tố): (1) Chất lượng nền đường và mặt đường; (2) Hệ thống biển báo, đèn chiếu sáng và cây xanh; (3) Quá trình khai thác, sử dụng đường; (4) Mức độ đáp ứng mong muốn của người dân.
Các công cụ phân tích dữ liệu bao gồm thống kê mô tả (tính số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân), tính lượng tăng (giảm) tuyệt đối định gốc ($\Delta_i = y_i - y_0$) và tốc độ phát triển định gốc ($T_i = \frac{y_i}{y_0}$), kết hợp phương pháp so sánh đối chiếu với Bộ tiêu chí quốc gia.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng nông thôn mới
Chương này tập trung hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trong nước. Tác giả phân tích các nghiên cứu của Phạm Trần Thăng Long (2020) tại huyện Mỹ Đức (Hà Nội), Mai Thị Huyền và Nguyễn Thị Ngọc Mai (2019) tại Việt Yên (Bắc Giang), Hà Quang Trung và Nguyễn Thanh Hiếu (2020) tại Lào Cai, Châu Hồng Nhung và Ngô Thị Ánh về dạy nghề nông thôn tại Cà Mau, Nguyễn Thị Mỹ Hưng và Võ Văn Tuấn tại Đồng Tháp, Ngô Xuân Hoàng tại Phổ Yên (Thái Nguyên). Qua đó, khóa luận xác định khoảng trống nghiên cứu: phần lớn đề tài trước đây tập trung vào tiến độ hoàn thành tiêu chí hoặc các dịch vụ hành chính/y tế nói chung, chưa có công trình nào đi sâu đánh giá sự hài lòng của người dân đối với việc trực tiếp khai thác hai hạng mục hạ tầng dân sinh cụ thể là trường mầm non và đường trục thôn tại địa bàn miền núi khó khăn.
Về mặt lý luận, chương 1 làm rõ khái niệm nông thôn, mô hình nông thôn mới, 8 tiêu chí hạ tầng kỹ thuật và tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên ngành của Bộ Giao thông vận tải, Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đồng thời, tác giả đúc rút bài học kinh nghiệm từ mô hình thực tiễn tại huyện Đông Triều (tỉnh Quảng Ninh) về việc phát huy vai trò chủ thể của người dân để giải quyết bài toán thiếu vốn đối ứng, và mô hình huyện Lâm Thao (tỉnh Phú Thọ) trong việc chuẩn hóa 49/53 trường học và kiên cố hóa 57,65% kênh mương, 473 km đường giao thông nông thôn.
Chương 2. Phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày căn cứ lựa chọn địa bàn nghiên cứu tại huyện Na Rì – địa phương miền núi có tỷ lệ hộ nghèo cao, địa hình phức tạp, dân cư phân tán. Tác giả công bố bảng tổng hợp nguồn số liệu thứ cấp thu thập từ các phòng ban huyện và quy trình chọn mẫu sơ cấp ngẫu nhiên 387 hộ dân cùng 189 cán bộ cấp xã. Chương này thiết lập chi tiết khung phân tích kinh tế xây dựng cơ bản, các công thức toán thống kê đo lường tốc độ phát triển, phương pháp so sánh chỉ tiêu định gốc và cấu trúc phiếu điều tra khảo sát theo thang đo Likert 5 điểm tương ứng với 5 nhóm tiêu chí trường mầm non và 4 nhóm tiêu chí đường giao thông trục thôn.
Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 3 trình bày các đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn và phân tích thực trạng sử dụng, đánh giá sự hài lòng:
- Điều kiện tự nhiên: Huyện Na Rì có diện tích 83.300 ha (chiếm 17,54% diện tích tỉnh Bắc Kạn), gồm 233 thôn bản. Địa hình hiểm trở với hai dạng chính: vùng núi đá vôi (độ dốc từ 20° đến 60°, đỉnh cao nhất là núi Phia Ngoằm 1.193 m) và vùng núi đất (thung lũng lòng máng hẹp). Chế độ thủy văn chịu ảnh hưởng của sông Bắc Giang (đoạn qua huyện dài 28,6 km, lưu lượng bình quân 24,2 m³/s) và sông Na Rì (dài 55,5 km, lưu vực 540 km²); lưu lượng dòng chảy tập trung 60 – 80% vào mùa lũ, gây chia cắt địa hình và khó khăn cho đầu tư hạ tầng.
- Đặc điểm dân số và lao động: Dân số bình quân giai đoạn 2019 – 2022 là 42.122 người, mật độ dân số 493 người/km², tốc độ tăng dân số tự nhiên giữ ở mức 0,6%/năm. Dân số gồm 5 dân tộc chính (Tày, Nùng, Kinh, Dao, Mông). Nguồn lao động dồi dào với 66,8% dân số trong độ tuổi lao động, tuy nhiên trình độ dân trí còn thấp và tỷ số giới tính khi sinh ở mức mất cân bằng (107 bé trai/100 bé gái).
- Hiện trạng hạ tầng và kinh tế: Đến năm 2022, 85% số xã/thị trấn có trụ sở làm việc kiên cố, 98% số hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia. Nền kinh tế thuần nông: diện tích gieo trồng lúa đạt 3.804,52 ha (100,1% kế hoạch), ngô đạt 3.227,1 ha, dong riềng 242,71 ha, thạch đen 91,19 ha, cây ăn quả 849,23 ha; có 23 sản phẩm đạt chuẩn OCOP. Huyện đã thực hiện chuyển đổi 194,5 ha đất lúa sang cây trồng giá trị cao và trồng mới 688,47 ha rừng (đạt 137,6% kế hoạch).
- Thực trạng sử dụng và đánh giá sự hài lòng: Phân tích chi tiết mức độ đáp ứng kỹ thuật của trường mầm non và đường giao thông trục thôn; bóc tách mức độ hài lòng của 387 hộ dân theo từng tiêu chí thành phần và chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến tình trạng chưa hài lòng của người dân (chất lượng thi công nền mặt đường, việc đào xới công trình thiếu đồng bộ, trang thiết bị tại các điểm trường lẻ còn thiếu thốn).
Chương 4. Định hướng và giải pháp sử dụng các công trình hạ tầng kỹ thuật trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
Dựa trên kết quả khảo sát, tác giả xây dựng định hướng và 3 nhóm giải pháp thực hiện:
- Nhóm giải pháp nâng cao sự hài lòng đối với trường mầm non: Chuẩn hóa trang thiết bị phòng sinh hoạt chung, đảm bảo diện tích phòng ngủ, cải tạo sân chơi ngoài trời an toàn và siết chặt quy trình một chiều tại bếp ăn bán trú.
- Nhóm giải pháp nâng cao sự hài lòng đối với đường trục thôn: Tăng cường giám sát cộng đồng trong thi công nền và mặt đường bê tông, đồng bộ hóa hạ tầng rãnh thoát nước, cáp viễn thông, lưới điện sinh hoạt trước khi đổ mặt đường; lắp đặt biển báo và đèn chiếu sáng thôn bản.
- Nhóm giải pháp chung về quản lý và kiến nghị: Đổi mới công tác phân bổ vốn đầu tư công, nâng cao năng lực giám sát của cán bộ cơ sở; kiến nghị cấp Nhà nước hoàn thiện chính sách hỗ trợ nguồn vốn và phát huy vai trò của người dân trong công tác duy tu, bảo dưỡng công trình sau nghiệm thu.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp hệ thống số liệu kinh tế - xã hội và kết quả đầu tư cơ sở hạ tầng huyện Na Rì qua các năm:
| Chỉ tiêu kinh tế - xã hội |
Năm 2019 |
Năm 2020 |
Năm 2021 |
Năm 2022 |
Trung bình |
| Dân số (người) |
41.586 |
41.946 |
42.379 |
42.579 |
42.122 |
| Tốc độ tăng dân số (%) |
0,7 |
0,6 |
0,6 |
0,6 |
0,6 |
| Mật độ dân số (người/km²) |
487 |
491 |
496 |
499 |
493 |
| Tỷ lệ lao động trong độ tuổi (%) |
67,3 |
67,0 |
66,5 |
66,4 |
66,8 |
Về sản xuất và phát triển hạ tầng kinh tế kỹ thuật:
- Toàn huyện đạt 3.804,52 ha lúa (100,1% kế hoạch), 3.227,1 ha ngô (98,4% kế hoạch), 242,71 ha dong riềng, 91,19 ha thạch đen, 849,23 ha cây ăn quả.
- Đạt 23 sản phẩm chứng nhận OCOP; trồng rừng sản xuất đạt 688,47 ha (vượt 37,6% kế hoạch).
- Tổng đàn gia súc đạt 11.998 con, đàn gia cầm 5.816 con; hoàn thành tiêu hủy 115 con lợn bị dịch tả lợn châu Phi tại 5 xã/thị trấn và công bố hết dịch tại 4 xã.
- Tỷ lệ kiên cố hóa trụ sở làm việc xã/thị trấn đạt 85%; tỷ lệ hộ dân dùng điện lưới quốc gia đạt 98%.
Đóng góp thực tiễn của khóa luận:
- Cung cấp bức tranh thực trạng về mức độ đáp ứng kỹ thuật của các công trình đường trục thôn và trường mầm non trên địa bàn miền núi khó khăn so với các thông tư, quy chuẩn của Bộ GTVT và Bộ GD&ĐT.
- Chỉ ra điểm nghẽn trong quản lý đầu tư xây dựng cơ bản ở cấp xã: tình trạng thiếu đồng bộ giữa các đơn vị thi công giao thông và viễn thông/điện lực, dẫn đến tình trạng đường mới làm xong đã bị đào xới, gây bức xúc trong nhân dân.
- Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao sự đồng thuận của người dân thông qua cơ chế giám sát cộng đồng và công khai minh bạch các khoản đóng góp đối ứng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn được xác định từ phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài chỉ tập trung khảo sát 02 loại hình công trình hạ tầng kỹ thuật là trường mầm non và đường giao thông trục thôn, chưa mở rộng đánh giá các công trình hạ tầng kỹ thuật khác trong bộ tiêu chí nông thôn mới như hệ thống kênh mương thủy lợi nội đồng, nhà văn hóa thôn, trạm truyền thanh và chợ nông thôn.
- Không gian khảo sát giới hạn tại địa bàn huyện Na Rì (tỉnh Bắc Kạn) với đặc thù kinh tế vùng cao thuần nông, địa hình chia cắt phức tạp và tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao, do đó kết quả chưa mang tính đại diện cho các vùng đồng bằng hoặc trung du.
- Hướng mở rộng nghiên cứu: Cần mở rộng sang đánh giá mức độ hài lòng đối với toàn bộ 8 tiêu chí hạ tầng kỹ thuật theo Quyết định 1980/QĐ-TTg; đồng thời có thể áp dụng các mô hình kinh tế lượng hồi quy đa biến (như mô hình cấu trúc tuyến tính SEM hoặc mô hình hồi quy Tobit, Probit) để kiểm định sâu hơn mức độ tác động của từng biến nhân khẩu học (thu nhập, học vấn, dân tộc) đến sự hài lòng của người dân.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Cán bộ quản lý chương trình xây dựng nông thôn mới cấp huyện, xã: Cung cấp tài liệu thực chứng về phương pháp lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân theo đúng tinh thần giám sát cộng đồng; rút kinh nghiệm về công tác quy hoạch, tránh tình trạng thi công thiếu đồng bộ giữa giao thông và đường điện, cáp viễn thông.
- Sinh viên ngành Kinh tế, Kinh tế phát triển, Quản lý công: Tham khảo phương pháp tính toán dung lượng mẫu khảo sát theo công thức Slovin trên địa bàn phân tán; cách thức chuyển hóa các tiêu chuẩn kỹ thuật nhà nước (của Bộ GTVT và Bộ GD&ĐT) thành thang đo bảng hỏi Likert phục vụ nghiên cứu định lượng xã hội học.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận lựa chọn khảo sát sự hài lòng đối với những công trình hạ tầng cụ thể nào?
Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu thực chứng vào 02 loại công trình hạ tầng kỹ thuật dân sinh thiết yếu tại địa bàn xã/thôn, gồm: hệ thống đường giao thông trục thôn và trường mầm non trung tâm xã/điểm trường mầm non thôn.
2. Quy mô mẫu điều tra khảo sát sơ cấp được xác định như thế nào?
Tác giả áp dụng công thức chọn mẫu ngẫu nhiên Slovin với sai số $e = 0{,}05$. Từ tổng thể 9.281 hộ dân, tác giả tính toán quy mô mẫu lý thuyết là 383 hộ và phát ra 387 phiếu (18 hộ/xã tại 21 xã). Đối với cán bộ phụ trách xây dựng nông thôn mới, mẫu điều tra gồm 189 cán bộ (9 cán bộ/xã).
3. Tác giả căn cứ vào tiêu chuẩn kỹ thuật nào để đánh giá các công trình?
Khóa luận đối chiếu thực trạng với hai văn bản tiêu chuẩn chuyên ngành:
- Quyết định của Bộ Giao thông vận tải (2014) về tiêu chuẩn đường trục thôn (vận tốc 15 km/h, mặt đường rộng tối thiểu 4 m, độ dốc 5 – 15%, bán kính cong tối thiểu 15 m).
- Quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015) về chuẩn cơ sở vật chất trường mầm non (mặt bằng tối thiểu 12 m²/trẻ, phòng sinh hoạt chung 1,5 – 1,8 m²/trẻ, phòng ngủ 1,2 – 1,5 m²/trẻ, bếp ăn một chiều từ 0,3 – 0,35 m²/trẻ).
4. Những tồn tại kỹ thuật nào làm suy giảm sự hài lòng của người dân tại Na Rì?
Theo tác giả, nguyên nhân chủ yếu là do công tác quy hoạch và phối hợp thi công chưa đồng bộ: một số tuyến đường giao thông sau khi bê tông hóa lại bị đào xới để chôn đường dây điện hoặc cáp viễn thông; nhiều tuyến đường thiếu rãnh thoát nước và đèn chiếu sáng; chất lượng kỹ mỹ thuật của một số công trình phụ trợ tại điểm trường mầm non chưa đạt yêu cầu.
5. Khóa luận sử dụng các thang đo nào để đánh giá sự hài lòng?
Khóa luận sử dụng thang đo khoảng cách Likert 5 mức độ (từ 1: Rất không hài lòng đến 5: Rất hài lòng). Thang đo được cụ thể hóa thành 5 nhóm nhân tố đối với trường mầm non và 4 nhóm nhân tố đối với đường giao thông trục thôn.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Mã Phương Linh đã phản ánh trung thực thực trạng xây dựng và khai thác các công trình hạ tầng kỹ thuật nông thôn mới tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2019 – 2022. Bằng phương pháp chọn mẫu xác suất Slovin và thang đo Likert 5 điểm, tác giả đã lượng hóa được mức độ hài lòng của người dân đối với trường mầm non và đường giao thông trục thôn. Công trình chỉ rõ những bất cập trong việc thi công thiếu đồng bộ, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp gắn với tăng cường giám sát cộng đồng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư công tại địa phương.