Đặt vấn đề Việt Nam là một nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, khí hậu nóng ẩm thuận lợi cho nhiều loài thực vật sinh trưởng, phát triển. Diện tích rừng của nước ta rất lớn. Rừng được coi là “lá phổi xanh của trái đất” cung cấp oxy cho bầu khí quyển, góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên đất, nước, chống xói mòn, hạn hán, ngăn chặn thiên tai, lũ lụt, gió bão… Với hệ thống động thực vật vô cùng phong phú, đa dạng gồm nhiều loài đặc hữu.Việt Nam được coi là một trong những nơi có sự đa dạng sinh học cao vào bậc nhất thế giới. Rừng và đất là hai nguồn tài nguyên của vùng nhiệt đới ẩm.
Khi không bị tác động, các hệ sinh thái rừng nhiệt đới vốn ổn định nhờ vào sự đa dạng cao của các loài cây và con. Sự ổn định của hệ sinh thái vùng nhiệt đới chính là thể hiện khả năng chống đỡ với các biến đổi thất thường của khí hậu và các yếu tố khác của môi trường tự nhiên. Hiện nay do nhiều tác động từ môi trường và con người tài nguyên rừng bị suy giảm nghiêm trọng độ che phủ giảm từ 43% năm 1943 xuống 27% năm 1993, đất đai bị xói mòn rửa trôi chất dinh dưỡng làm suy giảm liên tục độ phì nhiêu của đất và cỏ dại phát triển mạnh. Yêu cầu đặt ra lúc này là phải có phương thức canh tác hiệu quả trên phần diện tích đất canh tác hiện có.
Hệ thống NLKH được xem là một hệ thống quản lý sử dụng đất có ý nghĩa cho phát triển Nông – Lâm nghiệp bền vững đã được công nhận rộng rãi trên khắp thế giới. Việc kết hợp cây trồng Lâm nghiệp với cây Nông nghiệp và Thủy sản có nhiều ưu điểm vừa có ý nghĩa bảo vệ tài nguyên môi trường vừa phát triển kinh tế xã hội. Tại xã Hương, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang có địa hình đa dạng phức tạp chủ yếu là địa hình đồi núi thấp xen kẽ thung lũng, có độ dốc nhỏ thuận lợi cho phát triển mô hình NLKH (nông lâm kết hợp). Để đạt được hiệu quả cao khi canh tác trong mô hình NLKH thì vấn đề phòng trừ các loại sâu, bệnh hại là không thể thiếu, sâu bệnh hại làm cho cây trồng sinh trưởng, phát triển chậm giảm cả số lượng và chất lượng cây trồng.
Nước ta là nước thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa nóng, ẩm 2 mưa nhiều nên tạo điều kiện cho các loài bênh hại các loại cây Nông lâm nghiệp điển hình như: Phấn trắng lá keo, bệnh cháy lá, đốm lá, bệnh gỉ sắt, bệnh than thư, khô cành bạch đàn, bệnh lông nhung lá vải, bệnh đốm trắng lá chè, bệnh phồng lá chè… đã gây ra nhiều tổn thất cho ngành Nông lâm nghiệp. Vì vậy cần phải có những nghiên cứu để xác định các loại bệnh hại, nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng, tác hại và đưa ra biện pháp phòng trừ bệnh hại có hiệu quả mà không phá vỡ cân bằng sinh thái. Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá mức độ gây hại và đề xuất một số biện pháp phòng trừ bệnh hại chính cây trồng trong mô hình nông lâm kết hợp tại xã Hương Sơn, huyện Quang Bình, Tỉnh Hà Giang”. Mục đích nghiên cứu Xác định được loại bệnh hại chủ yếu và đề xuất một số biện pháp phòng trừ nhằm giúp cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, đáp ứng mục tiêu kinh doanh.
Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá mức độ bệnh hại đối với các loài cây trồng chính trong mô hình nông lâm kết hợp, xác định được nguyên nhân gây bệnh và tác hại. - Đề xuất một số biện pháp phòng trừ bệnh hại chủ yếu giúp cây trồng sinh trưởng phát triển tốt góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của các mô hình NLKH. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức đã được học trong nhà trường.
- Làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đề tài cụ thể. - Có điều kiện tiếp cận với thực tế, củng cố thêm những kỹ năng để sau khi ra trường có thể vận dụng trong công việc đạt hiệu quả cao. - Nắm vững phương pháp điều tra đánh giá mức độ gây hại của sâu ăn lá đối với rừng trồng. - Đề tài là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu tiếp theo về phòng trừ Ong ăn lá Mỡ tại đại bàn nghiên cứu.
Ý nghĩa trong thực tiễn và sản xuất - Hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật để áp dụng đối với từng địa phương. - Rèn luyện được kỹ năng làm việc một cách tự chủ, kỹ năng tiếp cận với người dân để đạt hiệu quả công việc cao hơn. - Quá trình nghiên cứu giúp tôi nắm bắt được tình hình bệnh hại ở một số mô hình Nông lâm kết hợp và các đê xuất mà đề tài đưa ra có thể ứng dụng vào thực tiễn sản xuất để phòng trừ bệnh hại cho các loại cây trồng giúp cây sinh trưởng tốt, nâng cao chất lượng cây trồng và đáp ứng mục tiêu kinh doanh. - Những đề xuất của đề tài về việc phòng trừ các loại bệnh hại chính trong mô hình NLKH là cơ sở để địa phương vận dụng vào thực tế sản xuất trong quản lý bảo vệ cây trồng, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh doanh.
4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Cơ sở khoa học bệnh cây Khoa học bệnh cây được hình thành và phát triển do đòi hỏi của nhu cầu sản xuất nông nghiệp, sự đấu tranh giữa thiên nhiên và con người, ý thức hệ duy tâm và duy vật. Ngay từ đầu của lịch sử trồng trọt, người nông dân lao động thông qua thực tế sản xuất, kinh nghiệm của mình đã phát hiện và phòng trừ một số bệnh hại nguy hiểm (Trần Văn Mão, 1997)[8].
Bệnh cây là tình trạng sinh trưởng phát triển không bình thường của cây, dưới tác dụng của một hay nhiều yếu tố bên ngoài hoặc vật ký sinh nào đó gây nên những thay đổi qua quá trình sinh lý. Từ đó dẫn đến những thay đổi trong chức năng cấu trúc, giải phẫu hình thái của một bộ phận nào đó trên cây hoặc toàn bộ cây làm cho cây sinh trưởng phát triển kém, thậm chí có thể chết gây thiệt hại tổn thất trong kinh doanh (Đặng Kim Tuyến, 2005)[20]. Bệnh cây là tổng hợp kết quả của 3 yếu tố: nguồn bệnh, cây trồng và các yếu tố bên ngoài (nhiệt độ, ẩm độ, ánh sang, nước, dinh dưỡng đất). Cách hiểu này giúp chúng ta nắm được thực chất bệnh cây ở mức độ cá thể.
Tuy nhiên, trong thực tế sản xuất cách hiểu trên đây chưa cho phép giải quyết một cách cụ thể về bệnh cây. Trong các hoạt động thực tế của mình, người làm công tác bệnh cây phải giải quyết các nhiệm vụ có liên quan đến tập đoàn cây lớn, vi sinh vật gây bệnh, trong những khoảng không gian nhất định, thường là khá rộng lớn, với tác động của nhiều yếu tố khí hậu, đất đai khác nhau. Khoa học bệnh cây được hình thành phát triển, giải quyết những vấn đề trên. Cơ sở khoa học điều tra thành phần bệnh hại Bệnh cây rừng là một loại tác hại tự nhiên vô cùng phổ biến.
Bệnh hại thường làm cho cây sinh trưởng kem, lượng sinh trưởng hàng năm của gỗ giảm xuống rõ rệt, một số bệnh có thể làm cho cây chết, thậm chí gây chết hàng loạt. Nước ta đã từng sảy ra các loại bệnh dịch nguy hiểm như: Bệnh khô cành Bạch Đàn 5 ở Đồng Nai làm cho 11.000 ha cây bị khô, Thừa Thiên - Huế 500 ha, Quảng Trị trên 50 ha. Bệnh khô xám Thông, Bệnh vàng lá Sa Mộc, bệnh tua mực Quế, bệnh sọc tím tre Luồng… đã gây ra ảnh hưởng đến môi trường sinh thái nhiều triệu chứng thấy rõ tác hại của bệnh cây rừng. Theo tạp chí “Chủ Lâm Trường” ở Mỹ năm 1975, hàng năm ở Mỹ sâu bệnh hại gây ra tổn thất cho cây rừng vượt quá 28 triệu mét khối (Trần Văn Mão, 1997) [8].
Do tính chất ẩn náu của bệnh, nên con người thường coi nhẹ những tổn thất. Thực ra những tổn thất do bệnh gây ra cao gấp nhiều lần những tác hại tự nhiên khác. Theo tài liệu thống kê của cục lâm vụ nước Mỹ năm 1952, trong những thiệt hại tự nhiên, giá trị tổn thất do bệnh cây rừng gây ra chiếm 45%. Trong khi đó sâu hại chiếm 20%, cháy rừng chiếm 17%, các nhân tố động vật, khí hậu chiếm 18% (Trần Văn Mão, 1997)[8].
Nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều tạo điều kiện thuận lợi cho nấm mốc và các vi sinh vật phát triển. Trong quá trình bị bệnh cây bị biến đổi về mặt sinh lý, là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi về giải phẫu và hình thái cũng chính là biểu hiện của triệu chứng. Mỗi một loại bệnh cây đều có những đặc trưng triệu chứng riêng biệt và căn cứ quan trọng để chuẩn đoán bệnh cây (Trần Văn Mão, 2003) [9]. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nƣớc 2.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới Bệnh cây rừng đã được bắt đầu nghiên cứu trên 150 năm nay, là một môn khao học còn rất non trẻ nhưng sự cống hiến cho công tác nghiên cứu khoa học, phục vụ cho đời sống sản xuất thực tiễn của các nhà bệnh cây là hết sức to lớn. Năm 1874 ở Châu Âu, Robert Harting (1839 - 1901) là người đặt nền móng cho việc nghiên cứu môn khoa học bệnh cây rừng. Ông đã phát hiện ra sợi nấm nằm trong gỗ và công bố nhiều công trình nghiên cứu, trở thành môn khoa học không thể thiếu. Kể từ đó đến nay thế giới đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bệnh lý cây rừng như: G.
Hapting nhà bệnh lý cây rừng người Mỹ tròn 30 năm nhiên cứu về bệnh cây 6 (1940 - 1970), đặt nền mong cho việc điều tra chủng loại và mức độ bị hại liên quan tới sinh lý, sinh thái cây chủ và vật gây bệnh (Trần Văn Mão, 1997) [8]. Những năm ở thập kỷ 50 của thế kỷ XX, nhiều nhà bệnh cây đã tập trung vào việc xác định loại, mô tả nguyên nhân gây bệnh và điều kiện phát sinh, phát triển của bệnh. Đặc biệt ở các nước nhiệt đới, Roger L đã nghiên cứu các loại bệnh hại cây rừng được mô tả trong cuốn sách bệnh cây rừng các nước nhiệt đới (Phytopathologie des pays chauds). Trong đó có một số bệnh hại Thông, Keo, Bạch Đàn (Roger l, 1953) [28].
Trong vườn giống ở Papua New Guinea (FAO, 1981).