Chương 1. Khái quát chung mỏ X bé trầm tích Cửu Long 1. Điều kiện địa lý, khí hậu, thủy văn và lich sir tìm kiếm thăm dò 1. Điều kiện địa lý, khí hậu, thủy văn Cau tạo X năm ở khu vực Tây Bắc mỏ Bạch Hồ, cách giếng BH-10 khoảng 6,0 km và cách mỏ Tê Giác Trăng khoảng 8,0 km.
Cấu tạo được phát hiện sau khi tiến hành minh giải tài liệu dia chan 3D trên diện tích it được nghiên cứu nêu trên (64+279 Km”), với trữ lượng tại chỗ ban dau được đánh giá cho trầm tích Oligoxen và Mioxen dưới khoảng 28 tr. Giéng khoan đầu tiên trên cau tạo này là X-1X được khoan năm 2012. Kết quả thử via đã cho dòng dầu tự phun với lưu lượng hơn 400m?/ ngđ trong lát cắt trầm tích Oligoxen trên. Sau đó, các giếng khoan thăm dò thâm lượng tiếp theo được khoan trên cau tạo nay và kết quả thử via đã khang định tiềm năng dau khí trong lát cat trầm tích Olgocen trén[6] (Hình 1).
Chiều sâu mực nước biên trên mỏ là 50m. Mức độ chan động địa chan trên mỏ và các vùng lân cận, khu vực đất liền lân cận và thêm lục địa không vượt quá 6 độ trên thang Ricter. Khí hậu của khu vực là nhiệt đới, gió mùa với mùa hè có mưa và mùa đông khô. Hè từ tháng 6 đến tháng 9 với gió mùa Tây Nam, hay có mưa to, lớn và mưa ngăn.
Hay có gió giật tới 25m/s. Độ âm không khí đến 87-89%. Mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3, chủ yếu là gió mùa đông bắc với những trận gió lớn tới 20m/s tạo nên sóng cao 5-8 m va chiêu cao khi có gió bão với vận tốc 60 km/giờ và sóng cao đến 10m. Các dòng chảy trên biển phụ thuộc vào chế độ gid mua và thủy triều.
Vận tốc dong chảy do ở độ sâu 15-20m đạt 65 cm/s. Nhiệt độ nước trong năm thay đổi trong năm từ 25 đến 30° C. Độ mặn nước biên từ 30 đến 35 g/lít. Trang 10 ad0+—ZWL +SVNO#13d ŒXZI0 ° Ov09swy 18MO46/L092ma)IND 'ˆes|Xi§OWro-+zp€P6A401ệ®#na= 02OVsoyilu:“OCBian 49071Zt38IMdiN 310XI ~SVNOUL_Ad oIyOM13.
rs] (621)#t9EX3NIq ae 580L3 02 0W08 +—¿0®QSVNOUYdWVNILS02quịA~“ 1MLOd0 SVNOULAd gonZvdOL ANLWS sJBueI1o|F§ zee x vd <\ NVLONA `\ 4¿018 OĐN Hđd Trang 11 >, —/ 8X9IRLEVS) he H1b90O/82F-S N‹—0L Wx-Zb0 H1¿O98L va xa ae OX-Lb NS 1. Lịch sử công tác tìm kiếm và thăm dò Công tác nghiên cứu địa vật lý trên diện tích mỏ Bạch H6 thuộc lô 09-1 được tiễn hành rất sớm và được thực hiện trong các giai đoạn khác nhau: Công tác địa chan 2D: nghién cuu tô hợp địa vật lý (địa chân 2D, thăm dò từ, trọng lực) với mạng lưới quan sát 4x4 km được Công ty Mobil (Mỹ) thực hiện năm 1973. Nghiên cứu địa chan 2D với mạng lưới 1x1 km do công ty GECO (Nauy) thực hiện năm 1978 và với mang lưới 0.5 km do liên đoàn địa vật lý Viễn Đông (Liên Xô) thực hiện năm 1984. Công tác dia chan 3D: Năm 1990 công ty Simon Horizon (Anh) đã thực hiện xử lý theo phương pháp “giả 3D” trên cơ sở tài liệu địa chấn 2D.
Tài liệu nhận được có chất lượng tương đối thấp do nhiều nhược điểm của phương pháp và chủ yếu là do việc nội suy rất rộng thông tin ban dau. Năm 1992 công ty GECO-PRAKLA lần đầu tiên tiến hành thu nỗ địa chan 3D trên khu vực mỏ Bạch Hồ với khối lượng 400 km? (25x16 km). Trên cơ sở tải liệu xử lý được, GECO đã thực hiện phân tích cau trúc và xây dựng các ban đồ theo 6 tầng phản xạ địa chan chuẩn (SHS, SH7, SH10, SH11, SH12, SHB) nhưng các kết quả này ít được sử dụng trong thực tế do các bản đồ không đủ độ chính xác và chất lượng tài liệu không tốt ở phần dưới của mặt cắt địa chan [5]. Năm 1993 tập thể chuyên gia làm công tác địa chấn của Viện NCKH&TK (Vietsovpetro) tiễn hành phân tích lại bang tay các tài liệu này và đã xây dựng lại các bản đồ cầu trúc cho các tang địa chan nói trên với việc sử dụng tat cả các tài liệu giếng khoan đã có trong thời điểm hiện tại.
Các bản đồ đó đã được sử dung trong quá trình tinh trữ lượng va là cơ sở dé thiết kế vị trí các giếng khoan tiếp theo trong thời gian qua. Năm 1994 trên cơ sở hợp đồng nghiên cứu các via dầu trong móng của mỏ Bạch Hồ giữa XNLD Vietsovpetro và công ty SSI(Mỹ), các tài liệu thu nỗ địa chan 3D đã được xử lý lại tại công ty Golden Geophysical (Mỹ). tài liệu nhận được có chất lượng được đánh giá là tốt hơn so với các tài liệu trước đây, đặc biệt ở phan dưới mặt cắt dia chan lần đầu tiên đã chi nhận được hình ảnh các trường sóng liên quan đến đứt gãy và các vùng nứt nẻ trong móng [5]. Năm 1995-1996 theo hợp đồng với Vietsovpetro, công ty CGE (Nga) đã tiến hành xử lý và phân tích lại tài liệu địa chan trong phạm vi 50 km? ở vùng Trung tâm của mỏ Bạch Hỗ.
Trong báo cáo cuối cùng đã đưa ra một vài kết quả định tính vỀ sự phân bố mức độ nứt nẻ theo các vùng không đồng nhất về trường sóng dia chan trong móng. Năm 2003 đã tiến hành công Trang 12 tác thu nỗ địa chan với khối lượng 75 km? ở phía Bac mỏ Bạch Hỗ. Ngoài ra, công ty Golden Pacific Group đã thực hiện xử lý lại các tuyến địa chan 3D theo chương trình dịch chuyền chiều sâu trước khi cộng PSDM cho toan bộ mỏ với khối lượng 4842 km tuyến. Năm 2004 đã tiễn hành xử lý tài liệu dia chan mới 3D thu nhận năm 2003 với khối lượng 75 km? theo chương trình dịch chuyền thời gian trước khi cộng PSTM và minh giải tài liệu dia chất - địa chan vùng phía Bắc trên diện tích chờm phủ 160 km? (đã xây dung các bản dé cấu trúc mới theo các tang dia chan SHB, SH10, va SH5) và bản đồ chiều dày giữa các tang SH10 và SHB.
Năm 2005 tiễn hành minh giải lại tài liệu địa chấn thu được sau khi xử lý theo chương trình PSDM, kết quả đã xây dựng chính xác hơn bản đỗ của các tầng SH5, SH7, SH10 va SHB [5]. Cuối năm 2007, đầu năm 2008 và để triển khai công tac tận thăm dò khu vực ria của lô 09-1, LD Viét-Nga Vietsovpetro đã thuê CGG tiễn hành thu nỗ dia chan 3D trên diện tích ít nghiên cứu gồm khu vực phía Tây (diện tích thu nỗ là 64 km”) và khu vực phía Nam mỏ Bach Hồ liền kể với mỏ Rồng (khối lượng 279 km2). Năm 2009, trên cơ sở hợp đồng được ký giữa LD Việt-Nga Vietsovpetro và Viện Dầu khí Việt Nam, công tác minh giải tài liệu địa chân 3D trên diện tích ít được nghiên cứu nêu trên được thực hiện bởi Trung tâm tìm kiếm thăm đò và khai thác thuộc Viện Dầu khí (EPC-VPI). Kết qua minh giải đã xây dựng được 7 bản đồ cau trúc của các tầng phan xạ địa chan (SH-3, SH-5, SH-7, SH-8, SH-10, SH-11va SH-B) và các bản đồ dang dày giữa các tập địa chan (SHB-SH11, SH11-SH10, SH10-SH8, SH10-SH7, SH8- SH7, SH7-SH5 và SH5-SH3) [5].
Trên cơ sở kết quả minh giải va đánh giá tiềm năng dau khí đã phat hiện được các đối tượng triển vọng mới là cầu tạo X, Mèo Trắng, Báo Trắng và Gau Trắng. Tiến hành ghép nỗi với bộ bản đồ cấu trúc mỏ Bạch Hồ dé xây dựng bản đồ cho các tang phan xa dia chan trén diện tích lô 09-1. Trên co sở kết quả minh giải tài liệu địa chan trên, Viện NCKH & TK, LD Việt-Nga Vietsovpetro đã tiến hành lập báo cáo tận thăm dò cho toàn bộ lô 09-1 nham đánh giá cụ thể và chỉ tiết hơn cho từng đối tượng. Trên cơ sở đánh giá trữ lượng tại chỗ ban đầu cho cau tạo X để tiễn hành khoan thăm do [6].
Năm 2012, giếng khoan X-1X trên cấu tạo X được khoan, kết quả thử vỉa cũng cho dòng dau công nghiệp trong lát cắt trầm tích Miocen dưới và Oligocen trên và các giếng thăm dò thâm lượng tiếp theo được khoan trên cấu tao nay nhằm tiếp tục khang định tiềm năng dau khí và gia tăng trữ lượng. Năm 2013, trên cơ sở kết quả các giếng khoan thăm dò thâm lượng Trang 13 đầu tiên đã tiến hành chính xác hóa cấu trúc địa chất và đánh giá lại tiềm năng dầu khí đã khoanh định thêm một số khu vực mới có trữ lượng tiềm năng cũng như tiếp tục công tác khoan thăm dò tiếp theo trên cau tạo nay. Giai đoạn 2014-2015, sau khi khoan các giếng khoan X-5X, 6X và 35XP trên khu vực phía nam mỏ X, các chuyên gia phòng Dia chất thăm dò Viện NCKH&TK đã tiễn hành minh giải lại tài liệu địa chân 3D cho toàn bộ mỏ và chính xác hóa lại cầu trúc địa chất [6]. Với mục đích hiệu chỉnh chiều sâu thé nằm và làm sáng tỏ các đặc trưng địa chan của các tang phan xạ chính đã xây dựng băng địa chan tổng hop cho các giếng khoan X-1X và 5X trên cơ sở các tài liệu DVLGK sẵn có (DT, RHOB) va VSP.
Kết quả xây dựng băng địa chan tong hợp cho các giếng khoan X-1X và 5X chỉ ra hệ số liên kết giữa tài liệu địa chan và tai liệu giếng khoan năm ở mức trung bình: 0. Việc chuyển đổi thời gian-độ sâu được thực hiện trên cơ sở sử dụng hàm hồi quy vận tốc được tính từ tài liệu checkshot của 2 giếng X-1X và 5X. Bản đồ vận tốc xử lý của khu vực X và ham hồi quy vận tốc giữa 2 giếng X-1X và 5X cho thấy trong khu vực cấu tạo X không có sự thay đôi không đáng kế của vận tốc theo phương ngang. So sánh kết quả chuyển đổi thời gian - độ sâu tại các vị trí giếng khoan cho thấy việc sử dụng hàm hỏi quy vận tốc dé chuyến đối thời gian - độ sâu cho kết quả phù hợp hơn (sai số trung bình theo hàm hỏi quy là 8.8 m, sai sé trung binh theo van tốc địa chan là 16.
Giéng khoan thăm dò X-1X bat đầu khoan vào ngày 06/05/2012 từ giàn Murmanskaya với mục đích thăm dò các vỉa dầu khí trong trầm tích Mioxen, Oligoxen của cầu tạo X, khu vực Tây Bắc mỏ Bạch Hồ, cũng như đánh giá trữ lượng công nghiệp và đưa vào khai thác. Giéng khoan kết thúc ngày 12/06/2012 và độ sâu đáy giếng là 3671/-3490m, vượt quá độ sâu thiết kế khoảng 86m, với độ lệch ngang là 887m, góc phương vị 47°. Hai hiệp mẫu với chiều dai khoảng 16m được lấy (tỷ lệ thu hỏi là 100%).