chương 1 cũng nêu ra giả thiết, phương pháp, đối tượng, phạm vi và ý nghĩa của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận 4 Chương 2 trình bày các khái niệm, các lý thuyết có liên quan đến đề tài nghiên cứu và kết quả của các nghiên cứu trước. Đó là nền những nền tảng để xây dựng mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu. Chương 3: Mô hình và dữ liệu nghiên cứu Chương 3 trình bày dữ liệu nghiên cứu, mẫu nghiên cứu, giới hạn phạm vi và số lượng biến cũng như mô hình nghiên cứu và lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp với dữ liệu của nghiên cứu.
Chương 4: Thực trạng và kết quả nghiên cứu Nghiên cứu sẽ tiến hành phân tích thống kê mô tả, phân tích mối quan hệ giữa các biến và phân tích kết quả hồi quy để xác định tác động của các biến độc lập đến biến phụ thuộc. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Tóm tắt các kết quả của nghiên cứu để từ đó đưa ra những kiến nghị phù hợp, nêu ra những hạn chế của đề tài nghiên cứu và đề tài. Khái niệm Tín dụng thương mại và Tín dụng ngân hàng Theo Lê Thị Tuyết Hoa và các tác giả (2017), tín dụng xuất phát từ gốc chữ la tinh: Credittum – tức là tin tưởng, tín nhiệm; tín dụng được diễn giải theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam là quan hệ vay mượn.
Nhìn một cách tổng quát: tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ chủ thể sở hữu sang chủ thể sử dụng trên cơ sở phải có sự hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn ban đầu. Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các chủ thể khác trong xã hội. Ngân hàng là một định chế tài chính trung gian, do vậy trong quan hệ tín dụng với các chủ thể kinh tế khác ngân hàng có thể vừa là người đi vay, vừa là người cho vay. Vì ngân hàng là một định chế tài chính trung gian, đi vay để cho vay.
Do đó, trong thực tế, khi đề cập đến tín dụng ngân hàng, thường xem xét trên giác độ ngân hàng là người cấp tín dụng. Theo từ điển Kinh doanh Cambrige, tín dụng ngân hàng là khoản tiền mà ngân hàng đã cho vay hoặc sẵn sàng cho vay. Lý thuyết về tín dụng thương mại được khởi xướng bởi Goff (1957) với định nghĩa Tín dụng thương mại là tín dụng mở rộng bởi người bán bằng cách không đòi hỏi thanh toán ngay cho việc giao sản phẩm. Sau đó được phát triển bởi nhiều nhà nghiên cứu khác như: Meltzer (I960), Schwartz và Whitcomb (1979), Brennan, Maksimovic và Zechner (1988), Ferris (1981), Smith (1987), Biais và Gollier (1987), và Milan và Smith (1992) (Peterson và Rajan, 1997).
Tín dụng thương mại là việc người mua bán hàng bằng tín dụng thay vì yêu cầu thanh toán bằng tiền mặt ngay (Milan và Smith, 1992). Theo ACCA Global, tín dụng thương mại là nguồn tài chính ngắn hạn và quan trọng nhất cho các doanh nghiệp. 6 Tín dụng thương mại có định nghĩa đơn giản nhất là sắp xếp mua hàng hoá và / hoặc dịch vụ mà không phải trả tiền mặt hoặc thanh toán bằng séc. Tín dụng thương mại là một công cụ hữu ích cho các doanh nghiệp đang phát triển, khi các điều kiện thuận lợi được thỏa thuận với nhà cung cấp của một doanh nghiệp.
Sự sắp xếp này có hiệu quả ít gây áp lực lên dòng tiền mặt mà việc thanh toán ngay lập tức sẽ tạo ra. Loại tài chính này hữu ích trong việc giảm và quản lý các yêu cầu về vốn của một doanh nghiệp. Các lý thuyết liên quan Theo Petersen và Rajan (1997), có 3 nhóm lý thuyết liên quan, gồm: lý thuyết về lợi thế tài trợ, lý thuyết phương tiện phân định giá và lý thuyết về chi phí giao dịch. Lý thuyết về lợi thế tài chính của tín dụng thương mại: lợi thế thu thập thông tin, lợi thế điều khiển người mua, lợi thế thu hồi tài sản Nhà cung cấp có lợi thế hơn các ngân hàng trong việc đánh giá mức độ đáng tin cậy của khách hàng của mình cũng như khả năng giám sát và buộc trả nợ tốt hơn.
Điều này có thể mang lại cho họ lợi thế về chi phí đối với các tổ chức tài chính trong việc cung cấp tín dụng cho người mua (Schwartz (1974). Cụ thể, có ít nhất ba nguồn lợi thế chi phí: Lợi thế thu thập thông tin, lợi thế điều khiển người mua và lợi thế thu hồi tài sản. Lợi thế thu thập thông tin Do có sự am hiểu về người mua, điển hình là nhà cung cấp có thể ghé thăm cơ sở của người mua thường xuyên hơn các tổ chức tài chính, hoặc có thông tin trong quá trình kinh doanh bình thường, người bán có thể thu thập thông tin nhanh hơn và ít tốn kém hơn các định chế tài chính. Kích thước và thời gian của đơn đặt hàng của người mua cũng cho họ hiểu về điều kiện kinh doanh của người mua.
Ngoài ra, các thông tin về người mua trong quá trình hoạt động kinh doanh như người mua không có khả năng sử dụng các khoản chiết khấu thanh toán sớm có thể đóng vai trò là một tín hiệu để thông báo cho nhà cung cấp về sự suy giảm về mức độ tin cậy của người 7 mua. Trong khi các tổ chức tài chính cũng có thể thu thập thông tin tương tự, nhà cung cấp có thể có được nó nhanh hơn và với chi phí thấp hơn vì nó có được trong quá trình kinh doanh bình thường. Trong công trình nghiên cứu của Peterson và Rajan (1997), Burkart và Ellingsen (2004), Danielson và Scott (2004), các tác giả có đề cập đến ý kiến của Smith (1987) cho rằng, tín dụng thương mại được xem là phương thức hợp đồng để đối phó với thông tin không cân xứng ở thị trường hàng hoá trung gian. Lợi thế điều khiển người mua Trong trường hợp hàng hoá được ít có khả năng bị thay thế và tỷ trọng giá trị hàng hóa cung cấp cho người mua nhỏ so với doanh số của người bán, nhà cung cấp có thể đe dọa ngừng cung cấp khi người mua có các hành vi thể hiện giảm khả năng trả nợ.
Ngược lại, một tổ chức tài chính có thể có quyền hạn giới hạn hơn vì mối đe dọa thu hồi nguồn tài chính trong tương lai có thể ít có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của bên vay. Lợi thế thu hồi tài sản Nếu người mua không trả được nợ, nhà cung cấp có thể tịch thu hàng hoá được cung cấp. Độ bền của hàng hoá cung cấp càng cao, tài sản đảm bảo càng tốt hơn và lượng tín dụng mà nhà cung cấp có thể càng nhiều hơn (Mian và Smith (1992)). Các tổ chức tài chính cũng có thể đòi lại tài sản của công ty để thanh toán khoản vay.
Tuy nhiên, nếu nhà cung cấp đã có một mạng lưới bán hàng, chi phí mua lại và bán lại sẽ thấp hơn chi phí của một tổ chức tài chính vì họ có thể dễ dàng tìm người mua thay thế (Peterson và Rajan, 1997). Lý thuyết phương tiện phân định giá: thanh toán bằng tiền mặt và thanh toán sớm Theo nghiên cứu của Peterson và Rajan (1997), tác giả có đề cập đến ý kiến của các nghiên cứu trước và đưa ra kết luận cho rằng, tín dụng thương mại có thể được cung cấp ngay cả khi nhà cung cấp không có lợi thế tài chính so với các tổ chức tài 8 chính vì tín dụng có thể được sử dụng để phân biệt giá cả (Meltzer (I960), Schwartz và Whitcomb (1979), Brennan, Maksimovic và Zechner (1988) , và Mian và Smith (1992)). Vì các điều khoản tín dụng thường không thay đổi đối với chất lượng tín dụng của người mua, tín dụng thương mại làm giảm giá hiệu quả cho người đi vay có chất lượng thấp. Nếu đây là phân khúc giá cả đàn hồi của thị trường, thì tín dụng thương mại là một phương tiện hiệu quả để phân biệt giá cả.
Một cách khác để thấy điều này là cần lưu ý rằng các công ty có tỷ suất lợi nhuận cao (giữa doanh thu và biến phí) cho sản phẩm của họ rõ ràng có động lực mạnh mẽ để tăng doanh thu, nhưng không giảm giá cho khách hàng hiện tại. Vì lợi nhuận của họ trên đơn vị tiếp theo cao hơn, họ sẽ sẵn sàng chịu một khoản chi phí tích cực để bán một đơn vị bổ sung, miễn là nó không ảnh hưởng đến doanh thu trước đó của họ. Theo giả định rằng luật chống độc quyền ngăn chặn sự phân biệt giá trực tiếp, tín dụng thương mại có giá cao có thể là một khoản trợ cấp nhằm vào khách hàng có nguy cơ. Khách hàng có tín dụng sẽ tìm thấy tín dụng thương mại quá giá trị và hoàn trả nó càng sớm càng tốt.
Mặt khác, các khách hàng mạo hiểm sẽ cảm thấy thích hợp khi vay vì tín dụng thương mại có thể vẫn rẻ hơn các nguồn khác họ có. Tín dụng thương mại làm giảm chi phí đáng kể đối với những người đi vay có chất lượng thấp, bởi vì các điều khoản thường độc lập với chất lượng của khách hàng - ngược lại với tín dụng ngân hàng. Lãi suất sau đó thường phản ánh tất cả các đặc tính rủi ro của người mua. Những khách hàng có nhiều rủi ro sẽ ưa chuộng tín dụng thương mại hơn các nguồn tài trợ khác (Atanasova, 2007).
Danielson và Scott (2004) cũng đã xây dựng một mô hình tín dụng thương mại và kết luận rằng các doanh nghiệp khó khăn về tín dụng ngân hàng và sử dụng tín dụng thương mại nhiều hơn (Trần Ái Kết, 2014). Lý thuyết về chi phí giao dịch: chi phí trên mỗi giao dịch, chi phí hàng tồn kho Lý thuyết này lập luận rằng tín dụng thương mại có thể làm giảm chi phí giao dịch (Ferris, 1981) vì khách hàng không phải thanh toán cho từng lần giao dịch mà 9 họ có thể dồn tích nghĩa vụ thanh toán để chi trả định kỳ. Điều này cũng sẽ giúp tổ chức tách chu kỳ thanh toán khỏi lịch trình phân phối. Có những phiên bản khác của lý thuyết chi phí giao dịch.
Có thể có các mùa tiêu dùng mạnh mẽ trong mô hình tiêu dùng cho các sản phẩm của doanh nghiệp. Để duy trì chu kỳ sản xuất suôn sẻ, doanh nghiệp có thể phải dự trữ lượng hàng tồn kho lớn. Việc này dẫn đến hai chi phí: chi phí kho bãi hàng tồn kho và chi phí tài chính. Mặc dù công ty có thể hạ giá để có tác động mua hàng sớm nhưng sẽ tốn chi phí trong việc này, cũng như mất khả năng linh động.