Chương 1: “Tổng quan nghiên cứu”: Giới thiệu các vấn đề trong trường kích thước nhỏ, trường nhỏ trong lâm sàng, các nghiên cứu về liều lượng trong trường chiếu nhỏ. Chương 2: “Xác định các đại lượng đặc trưng chùm tia”: Mô tả chi tiết thiết bị, cách thiết lập hệ đo, tính toán kết quả từ các đường liều sâu phần trăm, đường liều tương đối ngang, đường liều tương đối dọc, liều tuyệt đối và hệ số đầu ra. Chương 3: “Kết quả và thảo luận”: Trình bày các kết quả thu được và đánh giá sai lệch liều lượng giữa đo đạc bằng đầu dò và liều lượng tính toán. Kết luận: Tóm tắt lại các kết quả thu được, đưa ra hạn chế và định hướng tương lai.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Trong xạ trị, việc đánh giá liều lượng thực tế so với tính toán là một vấn đề vô cùng quan trọng trong điều trị, quyết định hiệu quả của việc điều trị. Vấn đề này đặc biệt cần thiết trong các kỹ thuật xạ trị tiên tiến, sử dụng các trường chiếu nhỏ với liều chiếu trên một phân liều cao. Một sai sót nhỏ trong các kỹ thuật này cũng gây ra các tác dụng phụ không mong muốn rõ ràng hoặc không đạt được mục đích điều trị. Do đó, trong chương này trình bày các vấn đề về trường kích thước nhỏ như điều kiện trường chiếu nhỏ, định nghĩa kích thước trường, làm cứng phổ năng lượng của trường, trường chiếu nhỏ trong lâm sàng cũng như các nghiên cứu về liều lượng trong trường chiếu nhỏ.1 Các vấn đề trong trường chiếu nhỏ Các trường chiếu nhỏ trong xạ trị chiếu ngoài được tạo ra bởi sự chuẩn trực chùm tia photon phẳng hoặc không phẳng.
Các phương pháp chuẩn trực khác nhau được sử dụng như ngàm (jaw), bộ chuẩn trực đa lá (MLC) và trong một số trường hợp có thể sử dụng bộ chuẩn trực chùm tia hình nón (cone beam). Chùm photon kích thước nhỏ khác với trường kích thước tham chiếu ở phương ngang, nguyên nhân là do vùng bán dạ của các mép trường đối diện trong các trường kích thước nhỏ chồng lên nhau và làm cho hầu hết các đầu dò được sử dụng phổ biến có kích thước tương đối lớn so với kích thước trường chiếu xạ.1 Định nghĩa kích thước trường Ủy ban kỹ thuật điện quốc tế (IEC) cung cấp hai định nghĩa về kích thước trường [1]. - Kích thước trường vật lý được xác định như một phép chiếu hình học của độ mở của bộ chuẩn trực từ nguồn bức xạ lên một mặt phẳng vuông góc với trục của chùm tia. - Kích thước trường xạ được xác định theo kích thước của đường đồng liều trên mặt phẳng vuông góc với trục chùm tia.
Kích thước trường vật lý tương ứng với kích thước trường sáng được tạo ra bằng việc thiết lập collimator cho collimator viền phẳng. Kích thước của trường xạ là độ rộng nửa đỉnh (FWHM) của đường profile, tại khoảng cách từ nguồn tới mặt phẳng vuông góc với trục chùm tia là 1000mm. Trong các trường kích thước Đào Tuấn Anh 3 20202675M lớn, kích thước trường vật lý được xác định bằng thiết lập collimator bằng với kích thước trường xạ xác định bởi FWHM của đường profile chùm tia. Trong trường kích thước nhỏ, một phần của chùm photon bị chặn lại gây mất đi sự cân bằng điện tử theo phương ngang, kết quả là một sự giảm mạnh của đầu ra chùm tia, dẫn tới sự bằng nhau của kích thước trường vật lý và kích thước trường xạ bị phá vỡ (Hình 1.
Giá trị liều tại trục chùm tia giảm, FWHM được xác định bởi một vị trí thấp hơn trên đường cong bán dạ. Kích thước trường xạ trở nên rộng hơn so với kích thước trường vật lý được tạo bởi collimator, hiệu ứng này được gọi là hiệu ứng mở rộng trường. Với mỗi khoảng cách từ nguồn tới đầu dò (SDD), hiệu ứng này phụ thuộc vào khoảng cách từ nguồn tới collimator.1: Sự khác biệt giữa kích thước trường xạ và kích thước trường vật lý trong các kích thước trường chiếu khác nhau[3] Việc thiếu thông tin về kích thước trường được xác định bằng FWHM của các đường profile hoặc các thông số thiết lập chuẩn trực gây phức tạp việc giải thích dữ liệu đầu ra của trường. Việc công bố các dữ liệu của trường nhỏ phải kèm theo cách thức xác định kích thước trường một cách rõ ràng.
Điều này chỉ ra rằng, đáp ứng của đầu dò và nhiễu loạn gây ra bởi đầu dò phụ thuộc vào kích thước trường xạ được xác định bằng FWHM tại độ sâu đo nhiều hơn là phụ thuộc vào kích thước trường vật lý thiết lập collimator [2]. Do đó, trường xạ nên được sử dụng để đánh giá nhiễu loạn đầu dò như là một hàm của kích thước trường xạ. Trường xạ xác định bởi FWHM của đường profile của chùm tia là thông số kích 4 thước trường đại diện và thiết yếu nhất cho độ chính xác trong đo đạc liều trường nhỏ.2 Điều kiện trường chiếu nhỏ Một trường chiếu được gọi là trường nhỏ khi ít nhất một trong ba điều kiện vật lý sau phải thỏa mãn [3]: - Mất sự cân bằng điện tử trên trục của chùm tia. - Nguồn photon sơ cấp có một phần bị che chắn bởi các thiết bị chuẩn trực chùm tia trên trục chùm tia.
- Kích thước của đầu dò tương đương hoặc lớn hơn so với kích thước chùm tia. Hai điều kiện đầu liên quan tới chùm tia, điều kiện thứ ba liên quan tới đầu dò với một kích thước trường được cho trước. Cả ba yếu tố trên là kết quả của việc chồng lên nhau của vùng bán dạ của trường và thể tích của dầu dò. Điều kiện liên quan tới chùm tia Mất cân bằng điện tử theo phương ngang xảy ra trong chùm tia photon khi nửa độ rộng chùm tia hoặc bán kính nhỏ hơn quãng chạy lớn nhất của electron thứ cấp đóng góp vào liều hấp thụ tuyệt đối có thể đo đạc được.
Điều kiện này đã được định lượng bằng cách đánh giá bán kính nhỏ nhất của một trường photon tròn cho các Kerma va chạm trong nước (phần động năng của bức xạ tham gia vào quá trình kích thích và ion hóa môi trường nước) và liều hấp thụ trong nước đã đạt tới các giá trị bằng với giá trị được xác định tại điều kiện cân bằng điện tử tạm thời (TCPE) của chùm tia rộng. Một tham số thực tế xác định định lượng khi kích thước trường nhỏ là phạm vi cân bằng điện tử theo phương ngang (rLCPE), được định nghĩa là bán kính tối thiểu của trường photon tròn mà Kerma va chạm trong nước và liều lượng hấp thụ trong nước bằng nhau tại tâm của trường. Điều kiện thứ hai được minh họa trong Hình 1.2, liên quan tới kích thước hữu hạn của nguồn photon sơ cấp, kích thước trường xạ được xác định bởi độ rộng nửa đỉnh (FWHM) của thông lượng photon bức xạ hãm thoát ra khỏi bia. Một trường nhỏ được tạo ra khi hệ chuẩn trực che chắn một phần của nguồn photon sẽ tạo ra một chùm tia có đầu ra trên trục chùm tia ra thấp hơn so với trường mà nguồn không bị che chắn một phần.
Hiệu ứng nguồn sơ cấp bị che chắn trở nên quan trọng khi kích thước trường tương đương hoặc nhỏ hơn kích Đào Tuấn Anh 5 20202675M thước của nguồn photon sơ cấp. Với các máy gia tốc hiện đại, kích thước nguồn photon sơ cấp không lớn hơn 5mm, điều kiện nguồn bị che chắn thường xảy ra tại các trường có kích thước nhỏ hơn 2 lần rLCPE, các trường bắt đầu có sự mất cân bằng điện tử. Việc che chắn một phần của nguồn photon sơ cấp ảnh hưởng đến phổ bức xạ và là nguyên nhân độ giảm liều hấp thụ cục bộ lớn, cả hai đều có thể có ảnh hưởng lớn đến đáp ứng của đầu dò.2: Hình minh họa hiệu ứng nguồn bị che chắn[3] Mất cân bằng điện tử theo phương ngang và hiệu ứng che chắn một phần của nguồn photon sơ cấp, cả hai điều này đều gây ra sự suy giảm mạnh đầu ra của chùm tia khi giảm kích thước trường. Điều kiện liên quan tới đầu dò Đặc điểm thứ ba đặc trưng cho một trường nhỏ là kích thước của đầu dò so với kích thước của trường xạ.
Đầu dò tạo ra tín hiệu tỷ lệ với liều hấp thụ trung bình trên thể tích vùng nhạy (hiệu ứng thể tích trung bình) và tín hiệu này bị ảnh hưởng bởi sự đồng nhất của liều hấp thụ trên thể tích ghi nhận. Ảnh hưởng của đầu dò trong một trường nhỏ được minh họa trong Hình 1. Đường màu đen là đường liều tính toán của trường nhỏ, đường nét đứt là đường liều đo đạc của đầu dò có độ dài 5mm, đường nét đứt chấm biểu diễn sự khác biệt giữa hai đường trên. Bên cạnh thể tích trung bình, nhiễu loạn của hạt mang điện do sự xuất hiện của đầu dò là một vấn đề quan trọng, cả hai hiệu ứng luôn luôn gặp phải.
Trong vùng độ giảm liều lớn và sự vắng mặt của các điều kiện cân bằng điện tử theo 6 phương ngang, thông lượng nhiễu loạn trở lên lớn và khó để mô hình hóa hiệu ứng nhiễu loạn. Các hiệu chỉnh thể tích trung bình cũng sẽ có một sai số lớn hơn. Do đó, các khó khăn trong đo đạc liều lượng bắt đầu xuất hiện ngay khi đầu dò chịu tác động của các hiệu ứng của độ giảm liều hấp thụ theo phương ngang và sự mất cân bằng điện tử. Với những lý do này, các điều kiện trường nhỏ có thể được cho là tồn tại khi mép ngoài của thể tích đầu dò cách mép trường một khoảng nhỏ hơn phạm vi cân bằng điện tử theo phương ngang(rLCPE) trong môi trường.
Để tránh điều kiện này trong đo đạc, một nửa độ rộng của chùm tia hay bán kính phải lớn bằng khoảng cân bằng điện tử theo phương ngang cộng với một nửa kích thước của thể tích ngoài của đầu dò.3: Ảnh hưởng của đầu dò trong một trường nhỏ[3] 1.3 Làm cứng phổ năng lượng chùm tia trong trường nhỏ Collimator xác định một trường nhỏ không chỉ che chắn nguồn photon sơ cấp mà còn che chắn các photon tán xạ từ các thành phần khác nhau bên trong đầu máy gia tốc, như bộ lọc phẳng và collimator sơ cấp. Do đó, số photon năng lượng thấp tán xạ từ collimator sơ cấp, bộ lọc phẳng và các thành phần khác trong đầu máy gia tốc tới tâm của trường nhỏ giảm. Dẫn tới năng lượng trung bình photon tăng lên làm cứng phổ năng lượng chùm tia, sự làm cứng phổ năng lượng chùm tia phụ thuộc vào hình dạng, vật liệu của bộ lọc phẳng. Lượng tán xạ trong phantom cũng giảm cho trường nhỏ khi so với một trường lớn.