Đặt vấn đề Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) là một trong những loài cá da trơn nước ngọt có giá trị kinh tế cao được nuôi phô biến ở ĐBSCL. Với khoảng 600,000 hecta diện tích mặt nước ngọt, ĐBSCL được đánh giá có tiềm năng to lớn cho sự phát triển ngành nuôi trồng thủy sản, cá tra được xem là đối tượng nuôi chủ lực, đem lại lợi nhuận cao cho người nuôi và góp phần vào giá trị xuất khâu của cả nước. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), xuất khẩu cá tra Việt Nam đã bức phá mạnh mẽ với kỷ lục 2,4 tỷ USD. Giá xuất khâu cá tra sang các thị trường tăng từ 22 — 55%, nhất là tại thị trường Mỹ.
Xung đột Nga — Ukraina khiến nguồn cung cá thịt trắng tại nhiều thị trường giảm, tạo cơ hội cho cá tra tăng thị phần. Trung Quốc là thị trường số 1 khi chiếm 28% tỷ trọng xuất khẩu cá tra của Việt Nam, thứ hai là thị trường Mỹ chiếm 22%. Tuy nhiên, trong hiện trạng thâm canh hóa mô hình nuôi cá tra hiện nay, tình hình dịch bệnh diễn ra phức tạp và khó kiểm soát gây ra thiệt hại lớn cho người nuôi cá tra, trong đó, bệnh xuất huyết gây ra bởi các vi khuẩn Aeromonas, Pseudomonas, Enterobacteriaceae, Vibrionaceace, Streptococcaceae, Staphylococcaceae là bệnh hai nguy hiểm với tan suất xuất hiện rat cao trong các hộ nuôi được khảo sắt so với các bệnh khác và gây thiệt hại lớn cho người nuôi. Cho đến nay, kháng sinh vẫn là giải pháp chủ yếu dé kiểm soát bệnh này.
Tuy nhiên, việc sử dụng quá nhiều thuốc kháng sinh là một thách thức không nhỏ đang đặt ra cho nghề nuôi cá tra ở ĐBSCL do nhiều tồn dư của kháng sinh trong thực phẩm và van đề kháng thuốc của vi khuẩn. Vi khuẩn kháng thuốc có thê là nguồn truyền và phát tán gen kháng thuốc của chúng cho các loài vi khuân khác, đặc biệt là các loài vi khuẩn có tiềm năng, nguy cơ gây bệnh cho con người như vi khuan Escherichia coli, Aeromonas sp. và Pseudomonas sp. Điều này có thé ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng.
Chính vì vậy, việc sử dụng chế pham sinh hoc dé phòng và tri bệnh trong nuôi trồng thủy sản ngày càng được phổ biến. Tuy nhiên, các chủng vi sinh vat có lợi nào có tính ức chế mạnh nhất đối với vi khuân gây bệnh dé phục vụ sản xuất chế phẩm sinh học trong thủy sản van còn là van đề được nhắc nhiều đối với các nhà nghiên cứu nên đề tài: “Đánh giá khả năng ức chế của một số chủng vi sinh vật có lợi đối với vi khuẩn gây bệnh xuất huyết trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)” được thực hiện nhằm tuyển chọn được vi sinh vật có khả nang ức chế cao nhất đối với vi khuẩn gây bệnh xuất huyết trên cá tra có tiềm năng sử dụng làm chế phẩm sinh học, góp phần cung cấp tài liệu cho các nghiên cứu sâu hơn về vi sinh hữu ích cho các thí nghiệm dé phòng bệnh trong nuôi trồng thủy sản. Mục tiêu đề tài Tuyển chọn được vi sinh vật có khả năng ức chế cao nhất đối với vi khuẩn gây bệnh xuất huyết trên cá tra. Nội dung thực hiện Xác định vi khuẩn gây bệnh xuất huyết trên cá tra từ các chủng vi khuẩn gây bệnh cá nhận được từ Phòng Công nghệ Biến đổi Sinh học.
Phân lập vi khuan có lợi. Đánh giá khả năng ức chế của các chủng vi sinh vật có lợi đối với vi khuẩn gây bệnh xuất huyết trên cá tra. Định danh chủng vi sinh vật được tuyển chọn. TONG QUAN TÀI LIEU 2.
Thực trạng nuôi trồng và tiêu thụ cá tra tại Việt Nam Cá tra là loài cá thịt trắng nuôi tại Việt Nam, là một trong những loài cá có giá tri kinh tế phổ biến ở Đông Nam A. Cá tra ngày càng được người tiêu dùng trên thị trường thế giới yêu thích vì sự tiện lợi, dễ chế biến và giá cả phù hợp với mọi phân khúc tiêu thụ. Theo Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn, cả nước hiện có 200 cơ sở sản xuất giống cá tra, 3000 hecta ương dưỡng cá giống, có gần 100 nhà máy sản xuất cá tra tại Việt nam, tập trung chủ yếu ở ĐBSCL (năm 2019). Theo Tổng cục Thủy sản, ước cả năm 2022, diện tích thả nuôi cá tra cả nước đạt khoảng 5500 hecta, sản lượng dat 1,6 triệu tan, tăng tương ứng 4% và 3,5% so với cùng ky năm 2021.
Tới năm 2022, cá tra Việt Nam đã chinh phục hơn 140 thị trường trên thế giới, trong đó có các thị trường rất khắt khe về an toàn thực phâm và các quy định kỹ thuật như Mỹ, EU và cả những thị trường vốn không ưa chuộng cá nuôi như Nhật Bản. Sự phổ biến của cá tra và sự nồ lực của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đã đưa cá tra đi khắp năm châu, đã giúp cho ngành thủy sản cá tra mang lại nguồn ngoại tệ lớn mỗi năm. Với kim ngạch xuất khâu từ 1,5 — 2,4 tỷ USD/ năm, tăng 70% so với cùng kỳ năm 2021, riêng cá tra chiếm 16 — 26% tong giá trị xuất khâu thủy sản Việt Nam. Một trong những nguyên nhân làm diện tích và sản lượng cá tra tại Việt Nam tăng cao, đặc biệt là khu vực ĐBSCL là do chúng có khả năng thích nghỉ tốt với điều kiện môi trường, khí hậu khắc nghiệt và đặc biệt chúng là loài cá rất thích hợp tăng trưởng của vùng này.
Hiện tại, cá tra đã được nuôi thâm canh tại hầu hết các tỉnh ở ĐBSCL, trong đó An Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ là các tỉnh có diện tích và sản lượng cá tra lớn nhất của vùng. Theo báo cáo, phần lớn (trên 90%) sản lượng cá tra nuôi ở nước ta được chế biến và xuất khâu. Số doanh nghiệp Việt Nam xuất khâu cá tra tăng liên tục trong những năm gần đây. Năm 2020 có 320 doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, năm 2021 tăng lên 380 và năm 2022 số doanh nghiệp tham gia xuất khẩu lên tới 435.
Tông quan về cá tra 2. Phân loại Theo hệ thống phân loại của Robert và Vidthayanon (1991), thì cá tra thuộc: Ngành: Chordata Lớp: Ostelchithyes Bộ: Siluriforrmes Ho: Pangasiidae Chi: Pangasius Loai: Pangasius hypophihalmus 2. Phân bố Trong tự nhiên, cá tra phân bó nhiều nhất ở lưu vực sông Mê Kông thuộc các nước Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam. Ở Việt Nam, cá tra đã được nuôi và phát triển chủ yếu ở 10 tỉnh ĐBSCL bao gồm: An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Bến Tre, Hậu Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang, và hai tỉnh khác là Tây Ninh và Quảng Nam với tông diện tích canh tác 5400 hecta (năm 2018).
Hình thái Các loài cá tra đều có da trơn (không vay), thân dai, thon và dep. Lưng có mau xám đen, bụng có màu trắng bạc, vây lưng cao, vây ngực có ngạnh. Miệng rộng, có 2 đôi râu dai. Kích cỡ của cá tra tùy thuộc vào từng loài.
Loài cá tra nuôi ở Việt Nam có kích thước trưởng thành khoảng 4 — 5 kg/con. Tuy nhiên, trên thực té cũng có con nặng khoảng 10 — 20 kg. Đặc điểm dinh dưỡng Cá tra bột mới nở không có khả năng sử dụng thức ăn bên ngoài, chúng dinh dưỡng chủ yêu bằng noãn hoàng đến 2 — 3 ngày sau khi nở. Khi khối noãn hoàng đã được sử dụng gần hết, cá bắt đầu sử dụng thức ăn bên ngoài.
Tinh ăn của cá lúc này là mỗi tươi sông và ăn liên tục các loại như luân trùng và các động vật nhỏ sống trôi nổi trong nước. Cá tra là loài ăn tạp, trong tự nhiên cá ăn được mùn bã hữu cơ, rễ cây thủy sinh, rau quả, tôm tép, cua, côn trùng, ốc và cá. Tính ăn lẫn nhau của cá thể hiện cao nhất lúc cá được 5 — 7 ngày tuôi. Khi cá được 10 ngày tuổi thì hoạt động ăn lẫn nhau giảm dần và không còn ăn thịt lẫn nhau khi được 15 ngày tuổi.
Cá 20 ngày tuổi sử dụng hiệu quả thức ăn chế biến. Đặc điểm sinh trưởng Cá tra có tốc độ tăng trưởng khá nhanh. Trong tự nhiên, cá tra có thể sông trên 20 năm. Và người ta cũng đã gặp nhiều con cá tra trong tự nhiên có trọng lượng cỡ 18 — 20 kg, dài từ 1,8 — 2 m.
Khi nuôi trong bè, tốc độ tăng trưởng của cá tra phụ thuộc vào môi trường sống và thức ăn cung cấp cho chúng. Cá tra thuộc loài ăn tạp, nếu cung cấp thức ăn có nguồn gốc từ động vật và chứa nhiều đạm thì chúng lớn rất nhanh. Khi còn nhỏ, cá tăng trưởng nhanh về chiều dài. Còn khi đạt trọng lượng cỡ 2,5 kg trở đi, mức tăng trọng lượng nhanh hơn so với mức tăng về chiều đài cơ thể.
Sau 2 tháng cá đạt chiều dài khoảng 10 — 12 cm (khoảng 14 — 15 g); sau 1 năm cá đạt khoảng 1 — 1,5 kg/con. Và càng về sau cá càng tăng trọng nhanh hơn. Sau khoảng 3 — 4 năm, cá có thé đạt 4 — 5 kg/con. Lúc này cá đã trưởng thành và có khả năng sinh sản.
Đặc điểm sinh sản Cá tra khi đã đạt độ tuôi thuần thục (cá đực 2 năm tuôi, cá cái 3 năm tuổi) thi mới có khả năng sinh sản. Trọng lượng cá thuần thục lần đầu khoảng 2,6 — 3 kg. Trong môi trường nuôi nhốt có thể nuôi cá thuần thục sớm hơn, do đó có thể cho cá đẻ sớm hơn trong tự nhiên. Cá tra có thé tái phát dục từ 1 — 3 lần trong một năm.
Cá tra khi nuôi trong ao hay trong bè thì không thể đẻ tự nhiên, chỉ có thể cho chúng đẻ nhân tạo. Sức sinh sản tùy thuộc vào độ tuổi của cá. Trung bình một con cá tra đẻ mỗi lần khoảng 30,000 — 40,000 trứng. Trứng cá tra khá nhỏ, có tính dính.
Trứng sắp đẻ có đường kinh trung bình 1 mm. Trứng đẻ ra và trương nước, đường kính có thể lên đến 1,5 — 1,6 mm. Tổng quan về bệnh xuất huyết Bệnh xuất huyết (hay còn gọi là bệnh đốm đỏ, bệnh nhiễm trùng máu) xuất hiện ở hầu hết các loài cá nuôi lồng, bè, ao hồ nước ngọt và ở tất cả các giai đoạn nuôi, gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người nuôi ở các tỉnh ĐBSCL. Bệnh lây lan nhanh, cao và được ghi nhận đầu tiên tại Mỹ năm 1979, sau đó xuất hiện tại các nước châu Á.
Tại Việt Nam, bệnh được ghi nhận trước năm 1993. Đây là một trong những bệnh xuất hiện tần số cao nhất trên cá tra ở ĐBSCL. Theo nghiên cứu của Bùi Quang Té (2006), nguyên nhân mắc bệnh: thường do các họ vi khuẩn Aeromonas, Pseudomonas, Enterobacteriaceae, Vibrionaceace, Streptococcaceae, Staphylococcaceae gây nên.