Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Nguồn gốc và phân loại đà điểu Từ kết quả phân tích các mẫu hoá thạch, người ta đã khẳng định rằng đà điểu bắt nguồn từ loài chim chạy (Horbanczuk J. Cho đến nay, các nhà khoa học đã phát hiện được năm loài đà điểu hoá thạch, loài sớm nhất xuất hiện cách đây từ 50 - 60 triệu năm.
Từ dấu tích các bộ xương và mảnh vỏ trứng có thể thấy các loài đà điểu này lớn hơn so với các loài hiện nay. (2002) [49] cho rằng loài đà điểu có nguồn gốc từ đại lục địa trước khi bị đứt gãy. Theo giả thuyết của ông thì trung tâm phát tán chính ở Nam Mỹ; tổ tiên loài Kiwi và Moa di chuyển qua vùng mà ngày nay chính là Nam cực vào New Zealand rồi sau đó New Zealand bắt đầu tách khỏi Nam cực. Aepyornithidae, loài chim quái bạc (gần đây mới bị tuyệt chủng) đã di chuyển qua châu Phi rồi vào vùng mà nay chính là Madagasca sau đó mới tách ra khỏi châu Phi vào nửa sau kỷ Phấn trắng.
Các mẫu hóa thạch của các loài liên quan đã được tìm thấy tại quần đảo Canary càng làm phong phú hơn ý tưởng trung tâm phát tán từ Nam Mỹ. Tổ tiên loài Emu và Cassowary di chuyển qua Bắc Nam cực vào Australia ở thời điểm cuối thời kỳ Eocene khi Australia tách rời khỏi Nam cực. Cuối cùng sau khi Nam Mỹ và châu Phi rạn nứt vào cuối kỷ Phấn trắng (Turonian) thì loài đà điểu phân thành Rhea ở Nam Mỹ và đà điểu ở châu Phi hiện nay. Ngày nay chỉ còn lại duy nhất 1 loài Struthio camelus và được chia làm 4 phân loài chính gồm đà điểu Massai, đà điểu Bắc Phi, đà điểu Nam Phi và đà điểu Somali.
Đà điểu Massai (Struthio camelus massaicus) - trải dài từ Kenya và một phần Tanzania. Đầu có lông màu trắng, tròng mắt nâu. Cổ có lông tơ mọc ngược màu hồng nhạt hơn, lông con trống có màu nâu đen (Kreibich và Summer, 1995) [50]. n 5 Đà điểu Bắc Phi (Struthio camelus camelus) - trải dài phía Nam dãy Atlas bao gồm Senegal, Nigeria, Sudan và Ethiopia.
Trên đầu có lông tơ bao phủ, tròng mắt nâu. Cổ có 1 ít lông phủ phía dưới và màu đỏ tươi. Bắp đùi con trống có màu đỏ tươi đến hồng xẫm với bộ lông màu đen xẫm (Kreibich và Summer, 1995) [50]. Đà điểu Nam Phi (Struthio camelus Australis) - trải dài từ phía Nam sông Zambezi bao gồm Namibia, Botswana, Zimbabwe.
Đỉnh đầu thường có nhiều lông hơn, tròng mắt nâu, mỏ thường không có vành đỏ, từ cẳng chân xuống ngón cái có màu đỏ phía trước, cổ và đùi có màu xám tro nhạt (Kreibich and Summer, 1995) [50]. Đà điểu Somali (Struthio camelus molybdophanes) - trải dài ở Đông Phi chủ yếu ở Somali và Ethiopia. Loài này nhỏ hơn so với loài Nam Phi, trên đầu có mảng trụi cứng, da màu xám với tròng mắt nâu, mỏ có viền màu đỏ sáng, đùi và cổ con trống màu xanh xám (Holtzhausen A., 1995) [46] Do sự lai tạp giữa các phân loài trên, hình thành loài thứ năm được gọi là đà điểu nhà (Struthio camelus Domesticus) hiện được nuôi rất rộng ở Nam phi. Như vậy, trong hệ thống phân loại động vật vị trí phân loại của đà điểu như sau: Giới : Animalia Ngành : Chordata Lớp chim : Aves Bộ : Struthioniformes Phụ bộ : Struthiones Họ (gia đình) : Struthionidae Chủng (giống) : Struthio Loài : Struthio Camelus Phân loài : - Đà điểu Bắc Phi (Struthio Camelus Camelus) - Đà điểu Somali (Struthio Camelus Molybdophanes) n 6 - Đà điểu Đông Phi (Struthio Camelus Masaicus) - Đà điểu Nam Phi (Struthio Camelus Autralis).
Nuôi đà điểu trên thế giới và ở Việt Nam 1. Trên thế giới Hiện nay ở các nước châu Phi như Nam Phi, Zimbabwe, Namibia, Châu Đại Dương như Australia,. là những nước dẫn đầu về số lượng đà điểu. Phát triển chăn nuôi đà điểu mạnh nhất cho đến nay thì Nam Phi vẫn dẫn đầu trong sản xuất đà điểu.
Số lượng đà điểu nhìn chung có xu hướng tăng lên và tăng nhanh từ những năm 1990 trở lại đây ở khắp các châu lục trong đó có Việt Nam.1: Số lượng đà điểu nuôi trên thế giới qua các giai đoạn Năm Số lượng đà điểu nuôi Năm Số lượng đà điểu nuôi 1860 Chỉ có chim hoang 1910 747.000 Như vậy, qua từng thời kỷ số lượng đà điểu trên thế giới đã tăng nhanh và đặc biệt tăng mạnh trong những năm gần đây. Năm 1900 tăng 3750 lần so với năm 1865 và cho đến năm 2002 số lượng đà điểu đã tăng lên gấp gần 7 lần so với năm 1900. Tính đến nay số lượng đà điểu đã lên tới 3 triệu con (FAO, 1999) [40]. Số lượng đà điểu tăng ở hầu hết các nước ở khắp các châu lục, và số lượng trang trại cũng tăng lên.
Theo số liệu của (FAO, 1999) [40] thống kê cho biết số lượng đà điểu được nuôi ở một số nước chủ yếu trên thế giới năm 1996 được thể hiện qua bảng 1.2: Số lượng đà điểu ở một số nước trên thế giới năm 1996 Tên nước Đà điểu giống Đà điểu nuôi thịt Số trang trại Nam Phi 30.000 100 Ở hầu hết các châu lục tốc độ tăng số lượng đầu con là rất nhanh, nhưng mỗi châu lục có những biến đổi thăng trầm khác nhau. Châu Phi: Nơi nguồn gốc của đà điểu có lịch sử thuần hóa 150 năm chiếm 1/3 số đầu con tương đương với 660.800 con tập trung nhiều nhất ở Nam Phi. Hàng năm giết mổ 300. Sau đó đến các nước như Namibia, Botswana, Zimbabwe.
Trong 3 năm qua, xuất khẩu thịt và da đà điểu sang Châu Âu tăng gấp đôi. Gần đây, người ta thấy các nước Bắc Phi: Ai Cập, Maroc, Tunisia đang phát triển chăn nuôi đà điểu. Châu Âu: Số lượng đà điểu và các trang trại đang được gia tăng. Tổng đàn sinh sản vượt quá 50.000 con với trên 6.
Đà điểu nuôi nhiều theo thứ tự: Italia 150.400 trang trại, quy mô trang trại lớn nhất 3.000 con; Tây Ban Nha 700 trang trại. Các nước Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, Bungary cũng đã phát triển chăn nuôi đà điểu. Năm 1993, Cộng hòa Séc bắt đầu nuôi và hiện có 250 trang trại, Ba Lan có 500 trang trại với tổng số 16.500 con sinh sản, Nga có những trang trại quy mô 200 con và thịt đà điểu được cung cấp cho các nhà hàng sang trọng. Như vậy, châu Âu trước đây không những là thị trường chính tiêu thụ thịt đà điểu từ châu Phi mà ngày nay nhiều nước đã tổ chức phát triển trang trại nuôi đà điểu tiêu thụ ngay trên đất nước mình.
n 8 Bắc Mỹ: Người Mỹ với sự nhận thức tiềm năng to lớn đối với loại thịt đỏ có hàm lượng cholesteron và mỡ thấp sẽ thay thế được thịt bò vì vậy họ đã tiến vào chăn nuôi đà điểu công nghiệp vào giữa những năm 1980. Một mốc tiến quan trọng trong phát triển ngành chăn nuôi đà điểu ở Mỹ là sự ra đời của hiệp hội đà điểu ở Hoa Kỳ (AOA) vào năm 1988. Với những đợt chọn lọc lai tạo nghiêm ngặt người Mỹ đã tạo được dòng đà điểu mới đó là Black Nam Phi. Cuối năm 2007, ở châu Mỹ các trang trại chăn nuôi đà điểu đã lên đến 830 trang trại lớn nhỏ và số lượng đà điểu giống ước tính khoảng 4.
Châu Úc: Có khoảng vài trăm trang trại tại Australia với quy mô lớn và chuyên môn hóa cao với số lượng đà điểu tăng lên nhanh chóng. Năm 2006 có 195 trang trại với tổng số đầu con giống đạt trên 190.000 con Châu Á: Hiện nay các nước có nền chăn nuôi đà điểu phát triển mạnh mẽ như: Israel, Trung Quốc, Đài Loan… Israel có khoảng 50 trang trại Ostrich và là nước dẫn đầu về giết mổ đà điểu trên thế giới sau Nam Phi. Đặc biệt những năm gần đây, đà điểu phát triển mạnh ở Trung Quốc.000 con nhưng đến năm 2003 có 400 trang trại với số đầu con đạt 80.000 tăng 2,5 lần so với những năm 1990. Hiện nay, ở Trung Quốc có những trang trại sản xuất giống với quy mô tới 5.000 con và giao con giống cho người dân để nuôi thương phẩm.
Chăn nuôi đà điểu được khép kín liên hoàn từ sản xuất con giống, nuôi thịt giết mổ, chế biến sản phẩm, thịt, da, trứng và thị trường. Nhật Bản có 60 trang trại nhưng do đất đắt không có khả năng xây dựng các trang trại lớn mà chỉ là thị trường nhập khẩu thịt lớn. Gần đây, các nước như Ấn Độ, Hàn Quốc, Syria, Tiểu vương quốc Ảrập thống nhất, Iran, Iraq đang xúc tiến phát triển chăn nuôi đà điểu. Như vậy, những năm gần đây chăn nuôi đà điểu đã có tốc độ tăng nhanh.
Song đến nay, cung cầu vẫn rất mất cân đối. Sản phẩm từ đà điểu còn thiếu hụt nhiều so với nhu cầu, chẳng hạn như ở châu Âu, nhu cầu thịt đà điểu cao gấp 3-4 lần khả năng cung cấp. n 9 Thị trường thế giới cần 10 triệu con/năm nhưng luôn thiếu hụt vì vậy giá bán giống rất cao 70 - 75 USD/1 trứng giống; 100 - 110 USD/1 đà điểu con mới nở và 350 - 450 USD/1 đà điểu giống 03 tháng tuổi. Quá trình nghiên cứu và phát triển chăn nuôi đà điểu ở Việt Nam Năm 1995, Bộ Nông nghiệp & PTNT giao cho Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương - Viện Chăn nuôi ấp 02 quả trứng đà điểu ostrich gửi từ Mỹ về nở được 02 con nuôi phát triển bình thường.
Năm 1996, Trung tâm tiếp tục được Bộ Nông nghiệp & PTNT giao tổ chức ấp 100 trứng đà điểu nhập từ Zimbabwe nở được 38 con nuôi cho kết quả tốt. Với những cơ sở khoa học vững chắc và kết quả thực nghiệm có tính thuyết phục, năm 1997 Bộ Nông nghiệp & PTNT đã phê duyệt dự án đầu tư xây dựng cơ sở nghiên cứu phát triển chăn nuôi đà điểu Ba Vì - Hà Tây thuộc Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương - Viện Chăn nuôi. Năm 1998, 150 đà điểu 3 - 4 tháng tuổi gồm 03 dòng Blue, Black và AUST đã được nhập về từ Australia. 03 dòng đà điểu này và 01 dòng của Zimbabwe được chăm sóc nuôi dưỡng tốt qua các giai đoạn.
Đến năm 2000, đàn đà điểu đã bước vào giai đoạn sinh sản và cho năng suất cao tương đương các nước tiên tiến. Hiện nay, Trung tâm dưới sự chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp & PTNT, Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Chăn nuôi đang tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao TBKT với hy vọng đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển ngành chăn nuôi đà điểu ở Việt Nam trong những năm đầu của thế kỷ XXI.