Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cây quýt đường (Citrus reticulata Blanco) là một trong những loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao, được thị trường ưa chuộng và là cây trồng chủ lực tại các vùng chuyên canh cây có múi thuộc huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Trong quá trình thâm canh dài ngày để đạt năng suất tối đa, tập quán canh tác của nông hộ phần lớn phụ thuộc vào việc lạm dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, trong khi việc bổ sung chất hữu cơ và vi sinh vật cho đất chưa được chú trọng. Thực trạng này dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng như đất đai bị bạc màu, suy giảm độ phì nhiêu, cạn kiệt quần thể vi sinh vật có ích và phá vỡ cân bằng sinh thái vườn cây. Trước định hướng của địa phương về việc chuyển dịch sang nền nông nghiệp bền vững, nông nghiệp an toàn kết hợp phát triển du lịch sinh thái tại xã Hiếu Liêm, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải phục hồi môi trường đất, giảm thiểu phân bón vô cơ và tăng cường sử dụng phân bón hữu cơ.
Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Đánh giá khả năng thay thế phân vô cơ bằng phân hữu cơ trên cây quýt đường (Citrus reticulata Blanco) tại huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương" được thực hiện nhằm giải quyết bài toán thực tiễn trên. Mục tiêu nghiên cứu chính của đề tài là bước đầu xác định được liều lượng phân bón hữu cơ HD-Gold thích hợp có thể thay thế một phần phân bón vô cơ, đảm bảo cây quýt đường sinh trưởng tốt, đồng thời cải thiện các chỉ tiêu hóa tính và mật số vi sinh vật có ích trong đất tại xã Hiếu Liêm, tạo cơ sở thực nghiệm cho các nghiên cứu dài hạn tiếp theo.
Nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu được tác giả xác định cụ thể như sau:
- Bố trí thí nghiệm đồng ruộng đúng phương pháp khoa học, tiến hành chăm sóc, theo dõi nghiêm túc, thu thập và ghi chép số liệu chính xác cho từng nghiệm thức, đồng thời ghi nhận đầy đủ hình ảnh thực địa.
- Theo dõi định kỳ các chỉ tiêu về độ phì nhiêu của đất, khả năng sinh trưởng phát triển của cây và diễn biến phát sinh của một số loài sâu bệnh hại chính trong suốt thời gian triển khai đề tài.
- Phân tích, tổng hợp số liệu thực nghiệm để đưa ra các đánh giá sơ bộ và đề xuất khuyến cáo cụ thể về tỷ lệ thay thế phân bón phù hợp cho vườn cây.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cây quýt đường 4 năm tuổi đang trong giai đoạn kết thúc thu hoạch chuẩn bị cho vụ mới; phân bón hữu cơ HD-Gold (20% chất hữu cơ) do Công ty Cổ phần Quốc tế Hải Dương sản xuất kết hợp cùng các loại phân vô cơ thương phẩm (Urea, DAP, Lân nung chảy Văn Điển, KCl).
- Phạm vi không gian: Thí nghiệm đồng ruộng được thực hiện tại vườn quýt đường của hộ cô Bùi Thúy Hằng tại xã Hiếu Liêm, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; các phân tích lý hóa và vi sinh vật đất được tiến hành tại Bộ môn Nông hóa Thổ nhưỡng, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện từ tháng 8/2023 đến tháng 2/2024, trong đó thời gian trực tiếp theo dõi thí nghiệm và thu thập mẫu đất kéo dài trong 4 tháng (từ tháng 9/2023 đến tháng 12/2023 và phân tích đến tháng 2/2024).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận dựa trên cơ sở lý thuyết về dinh dưỡng khoáng cây trồng, vai trò của chất hữu cơ trong việc cải thiện dung tích hấp thu, độ xốp, khả năng giữ ẩm và hoạt hóa vi sinh vật vùng rễ. Tác giả vận dụng các nghiên cứu về cơ chế phân giải hợp chất lân khó tan thành dạng dễ tiêu nhờ axit hữu cơ do vi sinh vật tiết ra, cũng như vai trò cộng sinh của nấm rễ nội sinh Arbuscular Mycorrhiza trong việc gia tăng bề mặt hấp thu nước, khoáng chất và nâng cao sức đề kháng của cây có múi trước điều kiện bất lợi. Về cơ sở thực tiễn, đề tài tham chiếu định mức kinh tế kỹ thuật bón phân cho cây có múi trên địa bàn tỉnh Bình Dương (2020) và kết quả điều tra sơ bộ 10 hộ nông dân tại xã Hiếu Liêm với mức bón phổ biến từ 280-310 g N, 400-430 g P2O5 và 350-370 g K2O/cây/năm.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thiết kế như sau:
- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm đơn yếu tố được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCBD) gồm 4 nghiệm thức và 3 lần lặp lại. Tổng quy mô gồm 12 ô thí nghiệm, mỗi ô gồm 4 cây, tổng số cây theo dõi là 48 cây. Mỗi khối được bố trí trên một líp đất, khoảng cách giữa các ô thí nghiệm được ngăn cách bằng 2 cây đệm.
- Công thức các nghiệm thức:
- Nghiệm thức 1 (Đối chứng - ĐC): Bón 100% phân vô cơ theo mức khuyến cáo địa phương (0,4 kg N; 0,365 kg P2O5; 0,6 kg K2O/cây/năm).
- Nghiệm thức 2: Bón 75% lượng phân vô cơ + 4 kg phân hữu cơ HD-Gold/cây/năm.
- Nghiệm thức 3: Bón 50% lượng phân vô cơ + 7,5 kg phân hữu cơ HD-Gold/cây/năm.
- Nghiệm thức 4: Bón 25% lượng phân vô cơ + 11 kg phân hữu cơ HD-Gold/cây/năm.
Lượng phân bón thương phẩm cụ thể được tính toán và áp dụng cho từng nghiệm thức theo bảng sau:
| Nghiệm thức |
Phân hữu cơ HD-Gold (kg/cây/năm) |
Urea (kg/cây/năm) |
DAP (kg/cây/năm) |
Lân nung chảy (kg/cây/năm) |
KCl (kg/cây/năm) |
| NT1 (ĐC) |
0 |
0,55 |
0,10 |
2,19 |
0,33 |
| NT2 |
4,0 |
0,31 |
0,10 |
1,57 |
0,25 |
| NT3 |
7,5 |
0,19 |
0,10 |
0,94 |
0,16 |
| NT4 |
11,0 |
0,07 |
0,10 |
0,32 |
0,08 |
Phân bón được chia làm các đợt: Đợt 1 (sau thu hoạch) bón toàn bộ phân hữu cơ HD-Gold, 100% lân nung chảy, 50% Urea và 20% KCl; Đợt 2 (trước ra hoa 30-40 ngày) bón 100% DAP và 25% KCl.
Phương pháp thu thập dữ liệu và phân tích chỉ tiêu:
- Số liệu thời tiết thu thập từ Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi Khí hậu năm 2023.
- Chỉ tiêu sinh trưởng: Đo chiều cao cây, đường kính gốc (cách mặt đất 5 cm), đường kính tán theo hai hướng vuông góc; đo chỉ số diệp lục tố bằng máy cầm tay SPAD-502 Plus trên lá bánh tẻ ở 4 cành cấp 1 thuộc 4 hướng.
- Chỉ tiêu sâu bệnh hại: Điều tra định kỳ 1 tháng/lần theo Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 12561:2022 đối với sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella), bệnh loét vi khuẩn, bọ trĩ (Scirtothrips dorsalis) và tỷ lệ rễ thối.
- Phương pháp lấy mẫu đất: Thực hiện theo TCVN 7538-2:2005 tại vị trí 2/3 hình chiếu tán cây, lấy 4 điểm/ô rồi trộn đều thành 1 kg mẫu đại diện. Mẫu vi sinh được bảo quản lạnh ở 4°C bằng đá khô.
- Phương pháp phân tích hóa tính đất: Xác định pH theo TCVN 5979:2007; chất hữu cơ tổng số theo TCVN 8941-2011; đạm tổng số theo TCVN 6498:1999; lân tổng số theo TCVN 8940-2011; kali tổng số theo TCVN 8660-2011; lân dễ tiêu theo TCVN 8942-2011; kali dễ tiêu theo TCVN 8662-2011; Ca2+ và Mg2+ trao đổi theo TCVN 8569-2010; dung tích hấp thu (CEC) theo TCVN 8568-2010.
- Phương pháp phân tích vi sinh vật đất: Mật số vi sinh vật tổng số phân tích trên môi trường PCA; vi khuẩn cố định đạm phân tích trên môi trường Ashby Mannitol Agar; vi sinh vật phân giải lân phân tích trên môi trường Gerretsen; vi sinh vật phân giải xenlulozo phân tích trên môi trường thạch chứa 1% CMC và thử phản ứng với dung dịch Lugol 1%; bào tử Mycorrhiza được phân lập bằng kỹ thuật sàng ướt kết hợp ly tâm nổi theo TCVN 012560-1:2018; tỷ lệ xâm nhiễm nấm rễ nội sinh được xác định bằng phương pháp nhuộm rễ bằng Trypan blue theo TCVN 012560-2:2018.
- Xử lý số liệu: Số liệu được xử lý phân tích phương sai (ANOVA) bằng phần mềm DSAASTAT và trắc nghiệm so sánh phân hạng trung bình bằng kiểm định Duncan ở mức ý nghĩa alpha = 0,05 và alpha = 0,01.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này hệ thống hóa các tài liệu khoa học về cây quýt đường, kỹ thuật canh tác và vai trò của phân bón hữu cơ:
- Phân loại và đặc điểm thực vật học: Cây quýt đường thuộc chi Citrus, phân họ Aurantioideae, họ Rutaceae, có bộ nhiễm sắc thể 2n = 18. Hệ rễ cây phân bố tập trung chủ yếu ở tầng đất mặt (khoảng 60% rễ ở tầng 0-50 cm, cây chiết hoặc ghép có tới 80% rễ ở tầng mặt). Cành sinh trưởng theo kiểu hợp trục với 3-4 đợt lộc mỗi năm. Hoa thuộc dạng đơn độc hoặc chùm ở nách lá, tỷ lệ đậu quả tự nhiên dao động từ 2-8%. Trái có vỏ chứa túi tinh dầu flavedo và lớp albedo xốp trắng, tép mọng nước chứa đường, axit hữu cơ và vitamin C (đạt 26,7 mg/100g thịt quả theo USDA, 2018).
- Yêu cầu sinh thái và tình hình sản xuất: Cây thích ứng tốt ở ngưỡng nhiệt độ 23-29°C, lượng mưa phân bố đều 1.000-1.500 mm/năm, độ ẩm không khí 70-80% và ưa ánh sáng tán xạ (khoảng 10.000 lux). Số liệu từ Cục Trồng trọt (2019) cho thấy diện tích quýt cả nước đạt hơn 22.000 ha, chiếm 8,6% diện tích cây có múi nhưng đang đối mặt với tình trạng suy thoái giống, lạm dụng phân thuốc hóa học và áp lực của trên 30 đối tượng dịch hại nguy hiểm như rầy chổng cánh (Diaphorina citri), sâu vẽ bùa, bệnh Greening và bệnh vàng lá thối rễ.
- Vai trò của phân hữu cơ: Tác giả tổng hợp các bằng chứng thực nghiệm khẳng định phân hữu cơ giúp nâng cao hàm lượng mùn, gắn kết các hạt đất để cải thiện kết cấu đoàn lạp, điều hòa dinh dưỡng thông qua việc chuyển hóa lân khó tan thành dạng dễ hấp thu nhờ axit hữu cơ, kích thích sự bùng phát của quần thể vi sinh vật đối kháng và nâng cao phẩm chất nông sản.
Chương 2: Vật liệu và phương pháp thí nghiệm
Chương 2 mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên tại địa bàn nghiên cứu và quy trình thao tác thực nghiệm:
- Điều kiện thời tiết và đất đai: Ghi nhận trong các tháng thực nghiệm (9-12/2023), nhiệt độ trung bình dao động từ 28,2 đến 29,1°C; lượng mưa tập trung cao nhất vào tháng 9 (400,5 mm) và tháng 10 (504,7 mm) trước khi giảm mạnh vào tháng 12 (32,9 mm); tổng số giờ nắng từ 144,6 đến 180,2 giờ/tháng. Đất vườn thí nghiệm trước khi bón phân có tính chua mạnh (pHH2O = 4,64), hàm lượng đạm tổng số đạt 0,111%, lân tổng số 0,061%, kali tổng số 0,857%, lân dễ tiêu nghèo (43,5 mg P2O5/kg), kali dễ tiêu đạt 144 mg K2O/kg, Ca2+ trao đổi 1,62 meq/100g và Mg2+ trao đổi 7,69 meq/100g.
- Đồng đều của vật liệu cây trồng: Các chỉ tiêu sinh trưởng của cây 4 năm tuổi trước thí nghiệm cho thấy sự đồng đều cao giữa các nghiệm thức với F tính không có ý nghĩa thống kê (chiều cao cây dao động từ 294,3 đến 323,3 cm; đường kính gốc từ 69,9 đến 73,3 mm; đường kính tán từ 294,3 đến 323,3 cm).
- Đặc tính phân bón thí nghiệm: Phân hữu cơ HD-Gold dạng viên có màu đen xám, tỷ lệ chất hữu cơ 20%, đạm tổng số 2%, lân hữu hiệu 2%, kali hữu hiệu 3%, tỷ số C/N = 12, pHH2O = 5 và độ ẩm 30%. Chương này cũng chuẩn hóa toàn bộ công thức tính toán, thang phân cấp đánh giá sâu bệnh và quy trình thao tác phòng thí nghiệm đối với các chỉ tiêu hóa tính, vi sinh.
Chương 3: Kết quả và thảo luận
Chương 3 trình bày các kết quả quan trắc và phân tích sau 4 tháng áp dụng các tỷ lệ bón thay thế:
- Sinh trưởng thân lá và chỉ số diệp lục: Việc bón phân hữu cơ thay thế phân vô cơ không tạo ra sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê về chiều cao cây (319,0 - 337,3 cm, F = 0,41), đường kính gốc (79,9 - 85,6 mm, F = 0,31) và đường kính tán (340,0 - 349,8 cm, F = 0,14). Ngược lại, chỉ số diệp lục tố SPAD thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (F = 5,53*): NT4 (25% vô cơ + 11 kg phân hữu cơ) đạt chỉ số cao nhất với 71,1 SPAD, sai khác có ý nghĩa so với NT1 (60,7 SPAD) và NT2 (64,2 SPAD), nhưng tương đương với NT3 (67,4 SPAD).
- Tình hình sâu bệnh hại: Tỷ lệ hại của sâu vẽ bùa dao động từ 8,20% đến 15,70% qua các tháng; tỷ lệ lá bị bệnh loét dao động từ 12,00% đến 16,90%; tỷ lệ bọ trĩ dao động từ 21,87% đến 33,10%. Tất cả các chỉ tiêu sâu bệnh hại và tỷ lệ rễ thối (11,23% - 14,66%) giữa các nghiệm thức đều có giá trị F tính không có ý nghĩa thống kê, chứng minh việc giảm 75% phân vô cơ không làm gia tăng rủi ro dịch hại.
- Hóa tính và dinh dưỡng đất: Bón tăng cường phân hữu cơ HD-Gold làm tăng độ pH đất từ mức chua 4,19 (NT1) lên mức 4,86 (NT4) với F = 8,67*. Hàm lượng chất hữu cơ ở NT4 đạt 4,40%, vượt trội có ý nghĩa so với NT1 (2,75%) và NT2 (2,69%). Đạm tổng số ở NT3 đạt 0,15% và NT4 đạt 0,14%, cao hơn có ý nghĩa so với NT1 (0,13%). Kali dễ tiêu ở NT4 đạt 227,30 mg/kg đất, sai khác có ý nghĩa rất cao so với NT1 (134,67 mg/kg). Các chỉ tiêu P2O5 tổng số, P2O5 dễ tiêu, Ca2+ trao đổi, Mg2+ trao đổi và CEC không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê.
- Vi sinh vật đất và nấm cộng sinh: Mật số vi sinh vật tăng tiến tỷ lệ thuận với lượng phân hữu cơ bổ sung. Nghiệm thức 4 ghi nhận sự gia tăng vượt bậc ở tất cả các nhóm chỉ tiêu vi sinh vật và nấm rễ với mức sai khác đạt độ tin cậy 99% (p < 0,01).
Dưới đây là bảng tổng hợp các chỉ tiêu hóa lý và sinh học đất tiêu biểu sau 4 tháng thí nghiệm:
| Chỉ tiêu theo dõi |
Nghiệm thức 1 (100% Vô cơ - ĐC) |
Nghiệm thức 2 (75% Vô cơ + 4 kg HC) |
Nghiệm thức 3 (50% Vô cơ + 7,5 kg HC) |
Nghiệm thức 4 (25% Vô cơ + 11 kg HC) |
Mức ý nghĩa thống kê |
| Chỉ số SPAD (giá trị đo) |
60,7 b |
64,2 b |
67,4 ab |
71,1 a |
* |
| pH đất (pHH2O) |
4,19 c |
4,51 bc |
4,74 ab |
4,86 a |
* |
| Chất hữu cơ tổng số (%) |
2,75 b |
2,69 b |
3,60 ab |
4,40 a |
* |
| Đạm tổng số (%) |
0,13 b |
0,13 b |
0,15 a |
0,14 ab |
* |
| Kali dễ tiêu (mg K/kg đất) |
134,67 c |
142,74 bc |
188,73 ab |
227,30 a |
* |
| VSV tổng số (CFU/g đất) |
6,64 x 10^5 d |
9,03 x 10^5 c |
1,08 x 10^6 b |
1,77 x 10^6 a |
** |
| VSV phân giải lân (CFU/g đất) |
1,11 x 10^5 c |
1,23 x 10^5 c |
1,56 x 10^5 b |
1,80 x 10^6 a |
** |
| VSV cố định đạm (CFU/g đất) |
5,90 x 10^4 c |
1,08 x 10^5 b |
1,52 x 10^5 a |
1,73 x 10^5 a |
** |
| VSV phân giải xenlulozo (CFU/g) |
4,20 x 10^2 d |
7,80 x 10^3 c |
1,21 x 10^4 b |
2,17 x 10^5 a |
** |
| Bào tử Mycorrhiza (bào tử/100g đất) |
49 d |
93 c |
140 b |
195 a |
** |
| Tỷ lệ nấm cộng sinh trong rễ (%) |
24,99 c |
34,76 b |
32,04 bc |
43,99 a |
** |
*(Ghi chú: Trong cùng một hàng, các chữ cái đi kèm khác nhau biểu thị sự sai khác có ý nghĩa thống kê; ns: không có ý nghĩa; *: có ý nghĩa ở mức p < 0,05; *: có ý nghĩa rất cao ở mức p < 0,01).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã định lượng hóa rõ rệt các chỉ tiêu kỹ thuật khi thay thế phân bón vô cơ bằng phân bón hữu cơ trên cây quýt đường:
- Kết quả thực nghiệm chính: Nghiệm thức 4 (bón 25% phân vô cơ kết hợp 11 kg phân hữu cơ HD-Gold/cây/năm) mang lại hiệu quả vượt trội nhất sau 4 tháng theo dõi. Công thức này giúp chỉ số diệp lục tố đạt 71,1 SPAD; độ pH đất được nâng từ 4,19 lên 4,86; hàm lượng chất hữu cơ trong đất đạt 4,40%; hàm lượng kali dễ tiêu đạt 227,30 mg K/kg đất. Mật số vi sinh vật có ích tăng trưởng vượt bậc: vi sinh vật tổng số đạt 1,77 x 10^6 CFU/g đất; vi sinh vật phân giải lân đạt 1,80 x 10^6 CFU/g đất; vi sinh vật cố định đạm đạt 1,73 x 10^5 CFU/g đất; vi sinh vật phân giải xenlulozo đạt 2,17 x 10^5 CFU/g đất. Mật độ bào tử nấm rễ Mycorrhiza đạt 195 bào tử/100g đất và tỷ lệ rễ nhiễm nấm cộng sinh đạt 43,99%.
- Giải pháp và kiến nghị kỹ thuật: Tác giả đề xuất có thể áp dụng tỷ lệ thay thế của nghiệm thức 4 (giảm 75% lượng phân hóa học truyền thống, bổ sung 11 kg phân hữu cơ HD-Gold/cây/năm) cho các vườn quýt đường giai đoạn sau thu hoạch tại huyện Bắc Tân Uyên để cải thiện tính chất đất và hệ vi sinh vật mà không làm suy giảm sinh trưởng hay bùng phát dịch hại.
- Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Khóa luận cung cấp dữ liệu thực nghiệm đồng bộ đầu tiên tại vùng chuyên canh xã Hiếu Liêm về việc kết hợp đánh giá song song giữa các chỉ tiêu lý hóa đất với mật độ các nhóm vi sinh vật chức năng và tỷ lệ nấm rễ nội sinh Arbuscular Mycorrhiza trên cây quýt đường, củng cố cơ sở khoa học cho lộ trình chuyển đổi từ canh tác hóa học sang canh tác hữu cơ bền vững tại tỉnh Bình Dương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài:
- Thời gian thực hiện đề tài ngắn (kéo dài trong 4 tháng từ giai đoạn phục hồi sau thu hoạch đến chuẩn bị xử lý ra hoa), chưa theo dõi được trọn vẹn chu kỳ sinh trưởng của cây qua các giai đoạn đậu quả và nuôi quả.
- Đề tài chưa thu thập và đánh giá được các chỉ tiêu về năng suất thực thu (tấn/ha), phẩm chất quả thương phẩm (độ Brix, hàm lượng nước, hàm lượng vitamin C, độ dày vỏ quả) cũng như chưa hạch toán hiệu quả kinh tế chi tiết của từng công thức bón phân.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Tiếp tục duy trì chế độ bón phân theo các nghiệm thức thí nghiệm trên cùng lô cây để theo dõi và đánh giá chính xác tác động của việc thay thế phân vô cơ đến tỷ lệ đậu quả, năng suất và phẩm chất trái quýt đường thu hoạch tại xã Hiếu Liêm.
- Tiến hành lấy mẫu và phân tích lại các chỉ tiêu lý hóa tính và vi sinh vật đất ở giai đoạn sau thu hoạch quả vụ tiếp theo nhằm đưa ra kết luận toàn diện, ổn định về mặt nông học và môi trường.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho sinh viên, giảng viên và học viên cao học thuộc các ngành Nông học, Bảo vệ thực vật, Khoa học đất, Quản lý tài nguyên nông nghiệp cũng như các cán bộ khuyến nông và chủ trang trại cây ăn quả:
- Phần đáng tham khảo về phương pháp: Quy trình thiết kế thí nghiệm khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCBD) trên đối tượng cây ăn quả thân gỗ lâu năm; bảng tính toán quy đổi dinh dưỡng nguyên chất sang lượng phân bón thương phẩm khi phối trộn giữa phân khoáng và phân hữu cơ vi sinh.
- Phần đáng tham khảo về kỹ thuật phân tích: Các quy trình phân tích vi sinh vật đất theo tiêu chuẩn chuyên ngành, đặc biệt là phương pháp tách lọc bào tử Mycorrhiza bằng kỹ thuật sàng ướt ly tâm và kỹ thuật nhuộm rễ bằng Trypan blue để xác định tỷ lệ xâm nhiễm nấm rễ nội sinh theo Tiêu chuẩn Quốc gia.
Câu hỏi thường gặp
1. Liều lượng phân bón thương phẩm cụ thể ở nghiệm thức cho kết quả tốt nhất (Nghiệm thức 4) được bón như thế nào trong một năm?
Ở Nghiệm thức 4, lượng phân bón cho một cây trong một năm bao gồm: 11 kg phân hữu cơ HD-Gold, 0,07 kg Urea, 0,10 kg DAP, 0,32 kg Lân nung chảy Văn Điển và 0,08 kg KCl. Lượng phân này được chia làm hai đợt bón: đợt 1 (sau thu hoạch) bón toàn bộ 11 kg phân HD-Gold, 0,32 kg Lân nung chảy, 50% lượng Urea (0,035 kg) và 20% lượng KCl (0,016 kg); đợt 2 (trước khi xử lý ra hoa 30-40 ngày) bón 100% lượng DAP (0,10 kg) và 25% lượng KCl (0,02 kg).
2. Việc giảm 75% lượng phân bón vô cơ và thay thế bằng phân hữu cơ có làm bùng phát sâu bệnh hại trên vườn cây không?
Kết quả thực nghiệm cho thấy việc cắt giảm phân vô cơ và thay bằng phân hữu cơ không làm gia tăng tỷ lệ sâu bệnh hại. Tỷ lệ lá bị sâu vẽ bùa hại (dao động 8,20% - 15,70%), tỷ lệ lá bị bệnh loét vi khuẩn (12,00% - 16,90%), tỷ lệ bọ trĩ (21,87% - 33,10%) và tỷ lệ rễ thối (11,23% - 14,66%) giữa các nghiệm thức có bón phân hữu cơ và nghiệm thức đối chứng 100% vô cơ đều không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê qua các tháng theo dõi.
3. Mật độ nấm rễ cộng sinh Mycorrhiza trong đất và trong rễ quýt thay đổi ra sao sau 4 tháng bón phân hữu cơ HD-Gold?
Mật độ nấm Mycorrhiza gia tăng tỷ lệ thuận với lượng phân hữu cơ bón vào đất. Ở nghiệm thức đối chứng (100% vô cơ), mật số bào tử đạt 49 bào tử/100g đất và tỷ lệ rễ cộng sinh là 24,99%. Khi nâng mức bón phân hữu cơ lên 11 kg/cây (Nghiệm thức 4), số lượng bào tử tăng lên 195 bào tử/100g đất và tỷ lệ xâm nhiễm nấm trong mô rễ đạt 43,99%, cả hai chỉ tiêu đều đạt mức sai khác có ý nghĩa thống kê rất cao (p < 0,01).
4. Vì sao các chỉ tiêu sinh trưởng về chiều cao cây, đường kính tán và đường kính gốc không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các công thức bón?
Quýt đường là cây ăn quả thân gỗ nhiều năm tuổi, sự tích lũy sinh khối và biến đổi về kích thước cành tán diễn ra chậm. Do thời gian thực hiện thí nghiệm chỉ kéo dài 4 tháng nên hiệu lực của phân bón hữu cơ chưa kịp biểu hiện rõ rệt lên kích thước khung tán và đường kính thân của cây. Tuy nhiên, khả năng quang hợp và dinh dưỡng khoáng đã biểu hiện sớm qua chỉ số diệp lục tố SPAD ở nghiệm thức bón 11 kg phân hữu cơ (đạt 71,1 SPAD so với 60,7 SPAD ở đối chứng).
5. Những chỉ tiêu hóa tính đất nào có sự cải thiện rõ rệt nhất khi thay thế phân vô cơ bằng phân hữu cơ HD-Gold?
Chỉ tiêu có sự cải thiện rõ rệt nhất là độ pH đất (tăng từ 4,19 ở đối chứng lên 4,86 ở NT4), hàm lượng chất hữu cơ tổng số (tăng từ 2,75% lên 4,40%) và hàm lượng kali dễ tiêu (tăng từ 134,67 mg/kg lên 227,30 mg/kg đất). Trong khi đó, các chỉ tiêu như lân tổng số, lân dễ tiêu, kali tổng số, Ca2+ trao đổi, Mg2+ trao đổi và CEC chưa có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Trần Quang Huy đã xác định thành công khả năng thay thế phân bón vô cơ bằng phân bón hữu cơ HD-Gold trên cây quýt đường 4 năm tuổi tại xã Hiếu Liêm, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Công thức bón kết hợp 25% phân vô cơ và 11 kg phân hữu cơ HD-Gold/cây/năm (Nghiệm thức 4) cho kết quả tối ưu nhất, giúp gia tăng chỉ số diệp lục tố, cải thiện độ pH đất, nâng cao hàm lượng đạm tổng số, chất hữu cơ, kali dễ tiêu và thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của quần thể vi sinh vật có ích cùng nấm rễ cộng sinh Mycorrhiza. Việc thay thế phân vô cơ không làm ảnh hưởng tiêu cực đến sinh trưởng thân cành và không làm phát sinh sâu bệnh hại trong suốt 4 tháng thí nghiệm. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm quan trọng phục vụ định hướng chuyển dịch canh tác cây ăn quả có múi theo hướng sinh thái bền vững tại địa phương.