Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Sơ lược về cây quýt đường 1.1 Nguồn gốc Theo Vũ Công Hậu (1996), khó xác định được nguồn gốc cam quýt vì có rất nhiều chủng loại và đó là những cây trồng lâu năm có diện tích phân bồ rộng. Cam quýt được đề cập đầu tiên trong văn học Trung Quốc năm 2200 trước công nguyên. Nhiều kết quả nghiên cứu cho rằng cam quýt có nguồn gốc từ vùng Đông Nam Á, vùng xuất xứ của giống thuộc chi Citrus bắt đầu từ Đông An Độ kéo dai sang miền Nam của Trung Quốc, qua Nhật Bản xuống đến Châu Uc (Trần Thế Tục, 1998). Các giống quýt hang hóa có nguồn gốc từ Trung Quốc, Nhật Bản hoặc Đông Nam Á, riêng quýt Satsuma có nguồn gốc hoàn toàn ở Nhật Bản (Nguyễn Bao Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) 1.2 Phân loại Theo FAO (2004), quýt được chia làm 3 nhóm: nhóm quýt Citrus reticulata, nhóm quýt King (Citrus nobilis) là nhóm lai giữa quýt và cam (Citrus sinesis x Citrus reticulata) và nhóm quýt lai bưởi (Citrus reticulata x Citrus maxima).
Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004) cho rằng quýt đường thuộc chi Citrus, nhóm nhỏ Eucitrus, họ Rutaceae và họ phụ Aurantioideae. Qua khảo sát so sánh số lượng nhiễm sắc thể các loài cam, chanh của Việt Nam, kết luận rằng nhóm cam quýt có 2n=18.2 Đặc điểm cây họ cam quýt 1.1 Đặc điểm thực vật học 1.1 Rễ Khi trồng bằng hạt hay bằng cây ghép, cây con được chuyên từ vườn ươm tới vườn sản xuất qua nhiều giai đoạn nên bị bứng đi bứng lại nhiều lần, do vậy rễ đuôi chuột thường bị đứt và chúng sẽ cho 2-3 rễ cái lớn. Các rễ cái phân nhánh nhiều lần cho tới khi có rễ sợi (đường kính < 0,5 mm), các sợi rễ này mới mang lông hút. 3 Trên tầng đất cao thì có tới 60% số rễ phân bố ở tầng đất 0-50 cm, 30% ở tầng đất 50-100cm và 10% còn lại nằm ở tầng đất dưới 100 em.
Khi trồng bằng chiết cành hay ghép cây trên các gốc ghép sản xuất bằng cách chiết cành có tới 80% số rễ nằm ở tang đất mặt. Rễ cam có thé ăn rộng gấp đôi hình chiếu của tán nhưng thường thì lan rộng tới mép tán. Sự sinh trưởng của rễ thường theo sự sinh trưởng của thân cành, nhưng thường chậm và kéo dai hơn. Ré hút nước và muối khoáng liên tục trong năm nhưng mạnh nhất vào thời kì ra hoa kết quả.2 Thần và cành Cam quýt có dang thân trụ hay bán bụi.
Trên thân có thé có gai. Cành cam quýt thường theo kiểu hợp trục. Mỗi năm có 3-4 đợt lộc cành, điều này được thể hiện rõ ở những vùng có 4 mùa rõ rệt như ở Bắc Bộ. Đợt cành mùa xuân cho cành dinh dưỡng và cảnh quả, đợt cành mùa hè và mùa thu cho cảnh mẹ của cành quả năm sau và đợt cành mùa đông mọc ra những cảnh quả không hữu hiệu của mùa xuân (Trần Thế Tục, 1998).
Ở Nam Bộ do nắng nóng quanh năm nên các đợt lộc cành thường chồng chất lên nhau. Đợt cành đầu mùa mưa cho cành quả và cành dinh đưỡng và đợt cành giữa và đợt cành cuôi mùa mưa là cành mẹ của cành quả mùa tới.3 Lá Bản chất lá cam quýt là lá kép, điều này còn thấy rất rõ ở cam 3 lá (Poneifrus trifoliata). Lá của các giỗng cam trồng trọt gồm một bản lá hình elip với cuốn lá có 1 eo lá hay còn gọi là cánh lá. Cánh lá rat to ở lá cây bưởi, lá cây trúc (Citrus hystrix), nhỏ ở lá cam, khá nhỏ ở lá quýt, tắc và không có lá ở lá chanh tây, thanh yên (Citrus medica).
Hình dạng thay đổi theo mùa, thường có dạng elip, nhưng to bản hơn vào mùa hạ. Ban lá dày, có tuyến tinh dầu đặc trung cho mỗi loài, mặt đưới lá có khoảng 500 khẩu bao/mm?.4 Hoa Hoa don độc hay mọc thành chùm ở nách lá, thơm, thường có mau trang, cũng có loài mau tím phot như chanh dây, nhiều nhị đực kết thành bó ở đáy. Bắc bán cầu sự phân hóa mầm hoa xảy ra từ sau thu hoạch tới khoảng tháng 2-3 dương lịch.5 Trái Có hình cầu (cam), hình cầu đẹp (quýt mandarin), hình quả lê (bưởi). Vỏ trái có 1 lớp chứa tinh dầu (lớp flavedo) và 1 lớp màu trắng xốp (lớp albedo).
Phần ruột chia thành nhiều múi, trong mỗi múi các lông của nội quả bị mọng nước biến thành con tép, hình dạng và mau sắc con tép thay đổi theo loài. Dịch qua trong con tép chứa nhiều chất bổ dưỡng, màu sắc và mùi vị đặc trưng cho loài. Ngoài ra phẩm chat qua thụ thuộc lớn vào việc chăm sóc, bón phân, quản lý nước tưới.6 Hột Phần lớn các loài cam quýt là các hột đa phôi, một phôi hữu tính và nhiều phôi vô tính phát triển từ phôi tâm. Nhưng cũng có các loài đơn phôi (cây bưởi).
Đặc tính đa phôi là một đặc tính tốt cho nhân giống. Các vườn ươm thường chọn các loài có hột đa phôi làm gốc ghép vì chúng cho cây con đồng đều hơn. Màu của tử diệp là một đặc điểm dé phân loại loài: màu trắng ở bưởi, cam ngọt; màu xanh ở quýt, tắc; màu xanh nhạt ở các loài lai (cam sảnh).2 Yêu cầu ngoại cảnh Một số đặc tính của cam quýt kích thước, hình dạng, thời gian chín bị ảnh hưởng bởi yếu tố khí hậu. Trong đó, nhiệt độ ảnh hưởng quan trọng nhất đến sự phát triển và phẩm chất của trái.
Nhiệt độ cần cho sự sinh trưởng của cam quýt từ 12 - 39°C, thích hợp chịu lạnh khá hơn nhiều cho nên ở miền Bắc nước ta quýt cũng có thê trồng ở mọi nơi nhất ở 23 - 29 °C. Cam quýt không chịu được rét nhưng so với nhiều cây ăn trái khác quýt chịu lạnh khá hơn cho nên ở miền Bắc nước ta quýt được trồng ở mọi nơi. Nước ảnh hưởng đến sinh trưởng của thực vật rất lớn. Trước hết là ảnh hưởng đến sự hấp thu và thoát hơi nước, ảnh hưởng đến sự vận chuyền các chat tan trong cây, ảnh hưởng đến các phản ứng sinh hóa xảy ra trong cây, ảnh hưởng đến sự giãn dải ra của tế bào, đến các hoạt động hô hấp, chuyên hóa trong các cơ quan.
Nước rat cần thiết cho cây cam quýt trong thời kì ra hoa kết quả và phát triển mạnh. Lượng mưa hàng năm 1000 - 1500mm va phân bố đều trồng quýt tốt. Độ ẩm không khí thích hợp 70 - 80%. Trồng quýt nơi có độ âm không khí cao trái lớn và đều, vỏ bóng nước nhiều vị ngọt, ngon, mảu sắc trái đẹp.
Nhưng độ am qua cao cũng là sâu bệnh hại phat triển. Cam quýt không ưa ánh sáng quá mạnh, thích ánh sáng tán xạ. Ánh sáng thích hợp cho sinh trưởng và phát triển có cường độ 10.000 lux = 0,6 Cal/cm? tương ứng 3 với ánh sáng lúc 8h sáng và 4 - 5 giờ chiều những ngày quang mây mùa hè. Tùy thuộc vào từng giống loài mà nhu cầu ánh sáng cần nhiều hay ít: chanh cần ít ánh sáng hơn quýt, cam cần nhiều ánh sáng hơn quýt.
Muốn có ánh sáng tán xạ cần bồ trí mật độ hợp lý. Thiếu ánh sáng cây sinh trưởng kém, khó phân hóa mầm hoa, ít qua, dan đến năng suất thấp. Ánh sáng chiếu mạnh chiếu trực tiếp vào trái sẽ làm nám trái, giảm giá trị thương phẩm.3 Giá trị dinh dưỡng và giá trị sử dụng Trong khi cam được coi là loại trái cây tốt cho sức khỏe, thì quýt ít được biết đến mặc dù loại quả này ngọt hơn cam nhưng lại chứa rất ít đường. Quýt chứa nhiều Vitamin C, bên cạnh đó còn chứa nhiều loại vitamin khác như A, E, K.
Bên cạnh đó còn có một số khoáng chất có lợi cho sức khỏe khác.1 Thanh phần dinh dưỡng trái quýt (trong 100g phan ăn được). Các chất chính Gia trị dinh dưỡng Các chat chính Giá trị dinh dưỡng Năng lượng 53 Keal Vitamin E 0,2 mg Duong 13,34 g Vitamin K 0 ug Protein 0,81 g Natri 2 mg Tong chat béo 0,31 ¢ Kali 166 mg Cholesterol 0 mg Canxi 37 mg Chat xo 1,8¢ Đồng 42 ug Folates 16 ug Sat 0,15 mg Niacin 0,376 mg Magie 12 mg Pantotheic acid 0,216 mg Mangan 0,039 mg Pyridoxine 0,078 mg Kém 0,07 mg Riboflavin 0,036 mg Carotene-Ø 155 ug Thiamin 0,058 mg Carotene-ø 101 mg Vitamin C 26,7mg Cryfo-xanthin-Ø 407 ng Vitamin A 681 IU Lutein-zeaxanthin 138 ug Nguon: USDA, 2018 1.3 Tình hình sản xuất 1.1 Tình hình sản xuất quýt trên thế giới Những năm gần đây diện tích quýt trên thế giới tăng dần qua các năm. Bên cạnh đó năng suất và sản lượng quýt cũng tăng dần theo các năm. Năm 2021 diện tích tăng 24 % so với năm 2017.
Diện tích và sản lượng năm 2021 cũng tăng lần lượt là 4 % và 30,1 %. Có thé thay diện tích và sản lượng quýt trên thế giới tăng nhanh nhưng năng suất chỉ tăng nhẹ. Điều đó được thé hiện qua Bang 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng quýt trên thé giới giai đoạn 2017-2021 Năm Diện tích (ha) Năng suất (tan/ha) Sản lượng (triệu tan) 2017 2.2Tinh hình sản xuất quýt tai Việt Nam Quýt là loại cây có múi được trồng phổ biến trên cả nước. Theo Cục Trồng trọt (BNN&PTNT), năm 2019, điện tích quýt trên cả nước chiếm khoảng 8,6% hơn 22.000 ha tổng diện tích cây có múi trên cả nước.
Tuy nhiên việc phát triển quýt 6 ạt đã khiến quýt đối mặt với một số vấn đề tồn tại hạn chế: Cơ cấu giống địa phương là chủ yếu, trong đó nhiều giống có mẫu mã, chất lượng chưa cao, giống thoái hóa, có nhiều hạt, làm giảm sức cạnh tranh sản phẩm ăn tươi, khó khăn cho công nghiệp chế biến. Tỷ lệ cây giống lưu hành trong sản xuất được kiểm soát về nguồn góc, chat lượng, sạch bệnh chưa cao. Tác động của biến đổi khí hậu (khô hạn, mưa bão, ngập lụt,.), nhiều đối tượng sâu bệnh hại (với trên 30 loại sâu bệnh hại, đặc biệt là bệnh vàng lá Greening, vàng lá thối rễ, thối rụng quả) xuất hiện, gây hại tại khắp các vùng trồng cây có múi, nhất là tại các vùng phát triển tự phát, ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng, quản lý ATTP, tuổi thọ vườn cây và làm tăng chi phi đầu tư, chăm sóc. Ung dụng TBKT chưa được phô biến rộng rãi, thực hiện quy trình kỹ thuật canh tác còn những bắt cập như: Tình trạng lạm dụng phân bón vô cơ, thuốc BVTV hóa học, nguy cơ làm ô nhiễm môi 7 trường đất, nước, bùng phát dịch hại và ảnh hưởng chất lượng, ATTP; có nơi, có lúc người tiêu dùng giảm lòng tin, quay lưng với sản phẩm làm cho giá cả giảm mạnh.