Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Hiện nay diện tích đất nông nghiệp đang dần bị thu hẹp do dân số tăng nhanh, sự phát triển của các khu đô thị, khu công nghiệp, đường giao thông…. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu đang diễn biến phức tạp, hạn hán, lũ lụt ngày càng nặng nề hơn, sâu bệnh mới xuất hiện, biện pháp canh tác không phù hợp nên một số nơi đã gây ra tình trạng xói mòn đất. Song vấn đề đặt ra là phải đảm bảo tăng năng suất và sản lượng dù diện tích giảm.
Do vậy các nhà chọn tạo giống cây trồng nói chung, cây ngô nói riêng đã đẩy mạnh việc chọn, tạo các giống ngô mới theo hướng năng suất cao, phẩm chất tốt, khả năng chống chịu tốt, phù hợp với từng vùng sinh thái. Thực tiễn sản xuất nông nghiệp trên thế giới cũng như trong nước đã khảng định giống cây trồng là một trong những nhân tố quyết định đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp. Nhờ có bộ giống cây trồng phong phú, đa dạng chúng ta có thể thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ nhằm khai thác hiệu quả hơn tiềm năng và khắc phục những hạn chế về đất đai, thời tiết khí hậu của từng vùng, làm đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Tuy nhiên, năng suất và chất lượng cây trồng là những tính trạng số lượng, ngoài phụ thuộc vào giống chúng còn chịu ảnh hưởng rất lớn tác động của điều kiện ngoại cảnh.
Do vậy, để có giống tốt đưa vào sản xuất phù hợp với điều kiện sinh thái của từng địa phương thì trước khi đưa vào sản xuất cần được khảo nghiệm ở các vùng sinh thái khác nhau để đánh giá tính khác biệt, độ đồng đều, độ ổn định, khả năng thích ứng với điều kiện ngoại cảnh bất thuận thì mới lựa chọn được giống phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng nhằm phát huy được các đặc tính tốt của giống mới và tránh những rủi 6 ro do giống không thích ứng với điều kiện sinh thái tại cơ sở sản xuất. Vì vậy, khảo nghiệm là một trong những khâu rất quan trọng trong công tác chọn tạo giống mới để đưa vào danh mục giống Nhà nước cho phép sản xuất và lưu thông trong các vùng, các địa phương và mùa vụ thích hợp. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Hiện nay, ngô là cây lương thực đứng thứ 3 trên thế giới sau lúa mì và lúa nước, năm 2013 diện tích trồng ngô đạt 184,2 triệu ha với năng suất 55,2 tạ/ha cao nhất trong 5 năm gần đây (FAOSTAT Database 6/2015), [21].
Trong những năm gần đây nhờ vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật, việc áp dụng những công nghệ mới về các lĩnh vực như di truyền học, công nghệ sinh học, cơ giới hóa, điện khí hóa và tin học. vào công tác nghiên cứu chọn tạo và sản xuất, do vậy đã làm tăng năng suất và sản lượng ngô lên đáng kể (Lương Văn Vàng, 2013) [17]. Tình hình sản xuất ngô 5 năm gần đây được thể hiện ở bảng 1.1: Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2009 - 2013 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2009 158,74 51,67 820,20 2010 164,03 51,90 851,27 2011 172,26 51,54 887,85 2012 178,55 48,88 872,79 2013 184,19 55,20 1.016,74 (Nguồn: FAOSTAT,5/2015)[21] Số liệu bảng 1.1 cho thấy diện tích trồng ngô của thế giới trong những năm gần đây tăng đáng kể. Diện tích trồng ngô từ 158,74 triệu ha (năm 2009) đến 184,19 triệu ha (năm 2013).
Năng suất tăng nhưng không đáng kể từ 51,54 – 51,9 tạ/ha (năm 2009 - 2011), năm 2012 năng suất ngô giảm (48,88 7 tạ/ha) so với 3 năm trước đó, năm 2013 đạt năng suất cao nhất (55,2 tạ/ha). Do diện tích tăng cho nên sản lượng vẫn có xu hướng tăng qua các năm. Có được kết quả này, trước hết là nhờ ứng dụng rộng rãi lý thuyết ưu thế lai trong chọn tạo giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác. Đặc biệt, từ năm 1996 đến nay, cùng với những thành tựu mới trong chọn tạo giống ngô lai nhờ kết hợp phương pháp truyền thống với công nghệ sinh học thì việc ứng dụng công nghệ cao trong canh tác cây ngô đã góp phần đưa sản lượng ngô thế giới vượt lên trên lúa mì và lúa nước.
Tuy nhiên, do sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, tập quán canh tác và trình độ khoa học kỹ thuật nên có sự chênh lệch về diện tích, năng suất ngô ở các châu lục. Tình hình sản xuất ngô ở một số châu lục được trình bày ở bảng 1.2: Tình hình sản xuất ngô ở một số châu lục năm 2013 Diện tích Năng suất Sản lượng Khu vực (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Châu Mỹ 70,84 73,82 522,90 Châu Á 59,40 51,23 304,32 Châu Âu 18,97 61,92 117,48 Châu Phi 34,93 20,33 71,01 Châu Đại Dương 0,1 70,8 0,58 (Nguồn: FAOSTAT,5/2015)[21] Số liệu bảng 1.2 cho thấy châu Mỹ là khu vực có diện tích, năng suất và sản lượng ngô lớn nhất thế giới. Năm 2013, diện tích trồng ngô của châu lục này là 70,8 triệu ha và đây cũng là châu lục có năng suất ngô đạt cao nhất thế giới (73,82 tạ/ha), cao hơn năng suất trung bình của thế giới (55,2 tạ/ha) là 18,62 tạ/ha. Sản lượng đạt 522,9 triệu tấn chiếm hơn 51% sản lượng ngô toàn thế giới.
Châu Á là châu lục có diện tích trồng ngô lớn thứ 2, năm 2013 diện tích trồng ngô là 59,4 triệu ha nhưng năng suất ngô châu Á chỉ đứng thứ 3 (51,23 tạ/ha). Châu Âu có diện tích trồng ngô đứng thứ tư trong 5 châu lục 8 (18,97 triệu ha) nhưng ở đây tập trung những nước có trình độ khoa học phát triển nên năng suất ngô cao thứ 3 trên thế giới (61,92 tạ/ha). Châu Đại dương là nơi có diện tích trồng ngô ít nhất thế giới nhưng ở đây có trình độ thâm canh cao nên năng suất cao thứ 2 trên thế giới (70,8 tạ/ha) và châu Phi là khu vực có năng suất ngô thấp nhất thế giới (20,33 tạ/ha). Do ở đây điều kiện khí hậu khắc nghiệt, trình độ thâm canh chưa cao.
Trên thế giới, sản xuất ngô giữa các nước có sự chênh lệch rất lớn về năng suất và sản lượng. Tình hình sản xuất ngô của một số nước tiêu biểu được trình bày ở bảng 1.3: Tình hình sản xuất ngô của một số nước tiêu biểu trên thế giới năm 2013 Diện tích Năng suất Sản lượng Nước (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Mỹ 35,48 99,70 353,70 Trung Quốc 35,28 61,75 217,83 Brazil 15,32 52,58 80,54 Mexico 7,10 31,94 22,66 Pháp 1,85 81,39 15,05 Italia 0,80 80,96 65,02 Đức 0,50 88,28 4,39 Hy Lạp 0,19 115,00 2,19 (Nguồn: FAOSTAT,5/2015)[21] Số liệu bảng 1.3 cho thấy Mỹ là nước có diện tích và sản lượng ngô lớn nhất thế giới, diện tích năm 2013 là 35,3 triệu ha với năng suất 97,7 tạ/ha và sản lượng đạt 353,7 triệu tấn, chiếm 34,8% sản lượng ngô toàn thế giới, có được kết quả đó là nhờ ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất. Theo Ming Tang Chang và cộng sự (2005) cho biết: Ở Mỹ chỉ còn 48% giống ngô được chọn tạo theo công nghệ truyền thống, 52% là bằng công nghệ sinh học (Ming Tang Chang and Peter L. Tiếp đến là Trung 9 Quốc, năm 2013 diện tích trồng ngô của Trung Quốc gần tương đương Mỹ (Trung Quốc: 35,28 triệu ha).
Tuy nhiên năng suất ngô của Trung Quốc mới chỉ bằng 2/3 của Mỹ. Brazin là nước có diện tích trồng ngô nhiều thứ 3 trên thế giới nhưng năng suất ngô của Brazin chưa cao chỉ tương đương năng suất trung bình của thế giới. Mặc dù diện tích trồng ngô ít nhưng với kỹ thuật thâm canh cao nên năng suất ngô của Hy Lạp, Đức, Pháp, Italia là những nước có năng suất cao trên thế giới (80,96 - 115 tạ/ha). Israel là nước có điều kiện khí hậu khắc nghiệt nên diện tích trồng ngô ít nhất thế giới (0,04 triệu ha), nhưng với trình độ khoa học cao, đầu tư thâm canh lớn nên Israel có năng suất cao nhất trên thế giới hiện nay (225,6 tạ/ha).
Trên thị trường quốc tế ngô đứng đầu trong danh sách những mặt hàng có giá trị khối lượng hàng hóa giao dịch ngày càng tăng, tỷ trọng lưu thông lớn, thị trường tiêu thụ rộng và nhu cầu ngày càng cao. Sở dĩ nhu cầu ngô tăng mạnh là do dân số thế giới tăng nên nhu cầu về thịt, cá, trứng, sữa tăng mạnh dẫn đến đòi hỏi lượng ngô dùng trong chăn nuôi tăng. Hơn nữa trong những năm gần đây khi nguồn dầu mỏ đang cạn kiệt thì ngô được coi là nguồn nguyên liệu chính để chế biến ethanol, một loại nhiên liệu sạch dùng để thay thế một phần nguyên liệu xăng dầu. Trong bối cảnh giá xăng dầu đang liên tiếp lập những kỷ lục mới, nhiên liệu sinh học đang trở nên hấp dẫn hơn bao giờ hết.
Tại Mỹ, nước sản xuất ethanol lớn nhất thế giới, 1/4 sản lượng ngô được dùng để sản xuất ethanol, như vậy chỉ riêng lượng ngô dùng cho chương trình ethanol của Mỹ đã tương đương hơn một nửa nhu cầu ngũ cốc của thế giới.Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam Ở Việt Nam, cây ngô đã được trồng cách đây khoảng 300 năm và được trồng trên những điều kiện sinh thái khác nhau của cả nước. Là cây lương thực quan trọng thứ hai sau cây lúa, là cây trồng chính để phát triển ngành chăn nuôi. Lịch sử trồng ngô của nước ta qua các thời kỳ là một quá trình phát 10 triển không đồng đều, có giai đoạn rất trì trệ và không tương xứng với tiềm năng của cây ngô và điều kiện tự nhiên của nước ta. Tuy nhiên trong những năm gần đây do giá trị kinh tế và nhu cầu về ngô trong nước và thế giới có xu hướng tăng lên, sản xuất ngô đã nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nên diện tích, năng suất và sản lượng ngô có những bước tiến đáng kể.
Tình hình sản xuất ngô 5 năm gần đây được trình bày ở bảng 1. Số liệu bảng 1.4 cho thấy Diện tích trồng ngô của Việt Nam có nhiều biến động, năm 2009 diện tích trồng ngô cả nước đạt 1.089,2 nghìn ha, có chiều hướng tăng đến năm 2010 (1.126,4 nghìn ha), từ năm 2011 diện tích giảm dần và đến 2013 là 1. Song năng suất ngô tăng dần qua các năm, năm 2009 là 40,14 tạ/ha, đạt cao nhất năm 2013 (44,35 tạ/ha).