Đặt vấn đề Cây đậu tương có tên khoa học là Glycine Max (L) Merrill thuộc họ đậu Leguminosae. Hạt đậu tương là loại thực phẩm duy nhất mà giá trị của nó được đánh giá đồng thời cả prôtêin và lipit. Hàm lượng prôtêin trong hạt đậu tương còn cao hơn cả hàm lượng prôtêin trong cá, thịt, cao gấp hai lần so với các loại đậu đỗ khác và chiếm 50% tổng lượng dầu thực vật. Chính vì vậy đậu tương vừa là cây lấy dầu, cây thực phẩm quan trọng cho con người, làm thức ăn gia súc, làm nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp.
Ngoài ra cây đậu tương còn có tác dụng cải tạo đất tốt, là một trong những cây trồng chủ lực trong hệ thống chuyển đổi cơ cấu cây trồng và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Theo các phân tích sinh hoá trong hạt đậu tương thì hàm lượng prôtêin chiếm khoảng 36-40%, lipit chứa một tỷ lệ cao các axit béo chưa no (khoảng 60-70%) có hệ số đồng hóa cao, mùi vị thơm ngon tuỳ theo giống và điều kiện ngoại cảnh. Trong hạt đậu tương không chỉ có hàm lượng cao về prôtêin mà nó còn chứa đầy đủ và cân đối các loại axit amin, đặc biệt là axit amin không thay thế như: Xystin, Lizin, Triptophan. có vai trò quan trọng đối với cơ thể con người và gia súc.
Ngoài ra trong hạt đậu tương còn chứa nhiều loại vitamin như: PP, A, C, E, K, đặc biệt là vitamin B1 và B2 (Phạm Văn Thiều, 2006) [12]. Ngày nay, đậu tương được sử dụng làm nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp khác nhau như: chế biến sơn, mực in, cao su nhân tạo, tơ nhân tạo, chất dẻo, dầu bôi trơn trong các ngành hàng không. Ngoài ra đậu tương còn được sử dụng để làm thuốc trong y học, đặc biệt có tác dụng tốt cho tim, gan, thận, dạ dày và ruột. Ở Việt Nam, đậu tương là một trong những cây trồng quan trọng, vừa dễ trồng vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao, không những thế cây đậu tương còn có tác dụng cải tạo đất tăng năng suất của các cây trồng khác.
Chính vì vậy, phát triển cây đậu 2 tương là một trong những ưu tiên hàng đầu ở nước ta và là chiến lược kinh tế trong việc sản xuất và khai thác lợi thế ở vùng khí hậu nhiệt đới. Thái Nguyên là tỉnh có diện tích gieo trồng đậu tương khá lớn nhưng năng suất không ổn định. Nguyên nhân là do người dân chủ yếu vẫn còn sử dụng những giống cũ đã bị thoái hóa và chưa áp dụng các biện pháp canh tác phù hợp. Do vậy cần nhanh chóng tiến hành các công tác khảo nghiệm để nhanh chóng chọn ra bộ giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt và có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu của vùng.
Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển một số giống đậu tương mới vụ xuân 2015 tại Thái Nguyên”. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1.1 Mục đích của đề tài - Xác định được giống đậu tương có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt cho năng suất cao và ổn định tại Thái Nguyên.2 Yêu cầu của đề tài - Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống đậu tương thí nghiệm. - Đánh giá một số chỉ tiêu sinh lý của các giống đậu tương thí nghiệm. - Đánh giá tình hình sâu bệnh của các giống đậu tương thí nghiệm.
- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống đậu tương thí nghiệm. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp sinh viên củng cố kiến thức lý thuyết đã được học trên giảng đường, đồng thời làm quen với công tác nghiên cứu giúp sinh viên nắm vững được các bước tiến hành một đề tài nghiên cứu khoa học, bước đầu tích lũy các kiến thức thực tế, kỹ năng và kinh nghiệm làm việc thực tế. - Góp phần vào hệ thống khảo nghiệm giống đậu tương mới tại Thái Nguyên.
Ý nghĩa thực tiễn - Từ việc thực hiện đề tài với mục đích góp phần tìm ra giống có năng suất cao, chống chịu tốt thích nghi với vùng sinh thái tại Thái Nguyên. 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và thực tiễn đề tài 2. Cơ sở khoa học Trong sản suất nông nghiệp, giống tốt được xem như một trong những trợ thủ đắc lực nhất giúp con người tăng năng suất và sản lượng cây trồng.
Giống quy định giới hạn năng suất của cây trồng. Năng suất chỉ tương ứng với điều kiện kĩ thuật trong phạm vi do giống quy định. Khi năng suất đạt mức tối đa thì dù điều kiện ngoại cảnh cũng như kĩ thuật canh tác tốt hơn cũng khó có thể làm tăng năng suất. Bởi vậy, giống mới có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng.
Mỗi một giống khác nhau có khả năng phản ứng với điều kiện sinh thái ở mỗi vùng khác nhau. Vì vậy để phát huy được hiệu quả của giống cần phải sử dụng chúng hợp lý, phù hợp với điều kiện khí hâu, sinh thái, đất đai và kinh tế xã hội.của mỗi vùng. Để có những giống có năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh tốt thì công tác chọn tạo giống đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Ngày nay nhờ có những thành tựu của công nghệ sinh học hiện đại và toàn cầu hóa thì công tác giống được hỗ trợ và thời gian tạo ra giống mới được rút ngắn rất nhiều.
Các thành tựu khoa học được ứng dụng trong chọn giống như gây đột biến, chuyển gen, lai tạo, nhập nội giống… Các giống đậu tương tại Việt Nam hiện tại sử dụng chủ yếu được tạo ra bằng phương pháp lại tạo và nhập nội. Khi chọn lọc hay nhập được giống mới thì việc khảo nghiệm tại các vùng tiểu khí hậu khác nhau để tìm ra giống tốt là rất quan trọng. Công tác khảo nghiệm giống là một cuộc thí nghiệm nhằm xác định sự thích ứng của giống đối với các kiểu khí hậu, các loại đất và các biện pháp kỹ thuật khác ở mỗi địa phương. Nếu các giống mới chưa được khảo nghiệm kỹ lưỡng và chưa được công nhận là đạt tiêu chuẩn mà đã đưa ra sản xuất ở diện rộng thì sẽ gây hiện tượng rối loạn giống, gây khó khăn cho việc sản xuất, thâm canh tăng năng suất cây trồng.
Cơ sở thực tiễn Hiện nay, ở tỉnh Thái Nguyên có diện tích gieo trồng đậu tương khá lớn nhưng năng suất không ổn định. Nguyên nhân là do người dân chủ yếu vẫn còn sử dụng những giống cũ đã bị thoái hóa và chưa áp dụng các biện pháp canh tác phù hợp. Trước thực trạng ấy, trong những năm sắp tới thì việc chọn tao giống mới, quy trình kỹ thuật canh tác mới để phát triển sản xuất đậu tương ở Thái Nguyên ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Tình hình sản xuất đậu tƣơng trên thế giới và Việt Nam 2.
Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Đậu tương là một trong những cây trồng quan trọng có giá trị kinh tế cao trong hệ thống nông nghiệp và là nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp của nhiều quốc gia trên thế giới. Trong đó phải kể tới các nước sản xuất đậu tương hàng đầu thế giới như: Hoa Kỳ, Brazil, Agentina, Trung Quốc sản xuất chủ yếu để xuất khẩu cho thị trường thế giới là 3 nước đầu tiên còn Trung Quốc chủ yếu hướng tới thị trường nội địa. Cây đậu tương có lịch sử lâu đời nhất của nhân loại nó được trồng cách đây khoảng 5000 năm và được thuần hóa từ rất sớm. Hiện nay có khoảng 78 quốc gia và vùng lãnh thổ trồng cây đậu tương cho thấy nó có khả năng thích nghi với những điều kiện khí hậu rộng.
Châu Á là nới nguyên sản của cây đâu tương nhưng nó lại rất thích nghi và được trồng tập trung chủ yếu tại Châu Mỹ chiếm 70% trong khi đó tại nơi nguyên sản của nó thì chỉ có 24% tính theo diện tích trồng trọt. Từ Những thập kỷ 70 của thế kỷ XX thì cây đậu tương đã được chú trọng sản xuất sản lượng của đậu tương tăng gấp 2 lần các cây lấy dầu khác và trở thành cây trồng tiềm năng trong tương lai. Qua bảng sau ta thấy sản lượng đậu tương tăng lên qua từng năm cụ thể: 5 Bảng 2.1: Tình hình sản xuất đậu tƣơng trên thế giới những năm gần đây Chỉ tiêu Diêṇ tích Năng suấ t Sản lƣợng Năm (triêụ ha) (tạ/ha) (triêụ tấ n) 2006 95,32 23,29 221,97 2007 90,16 24,37 219,73 2008 96,47 23,97 231,26 2009 99,34 22,49 223,41 2010 102,81 25,78 265,04 2011 103,81 25,23 261,94 2012 104,92 22,98 241,14 2013 111,27 24,84 276,41 (Nguồ n: Số liệu thống kê của FAO năm 2015 )[17]. Qua bảng 2.1 ta thấ y: Về diê ̣n tích : Từ 2006 đến 2013 diê ̣n tích trồ ng đâ ̣u tương trên thế giới dao đô ̣ng trong khoảng 95,32 - 111,27 (triê ̣u ha) trong đó diê ̣n tí ch trồ ng đâ ̣u tương năm 2013 là lớn nhất đạt 111,27 (triê ̣u ha), qua bảng số liê ̣u ta thấ y diê ̣n tić h trồ ng đâ ̣u tương ngày càng tăng lên.
Cho thấ y sự đầ u tư vào cây đâ ̣u tương là khá l ớn, các nước trên thế giới đang có xu hướng sản xuất nhiề u hơn. Về năng suấ t : Từ bảng trên ta thấ y năng suấ t đâ ̣u tương có nhiề u biến đô ̣ng : cụ thể là từ năm 2006 - 2010 năng suất đậu tương tăng 2,49 (tạ/ha). Từ năm 2010 - 2013 năng suất đậu tương giảm 0,94 (tạ/ha). Thấ p nhấ t là năm 2009 với 22,49 (tạ/ha) và cao nhất là năm 2010 với 25,78 (tạ/ha).
Về sản lượng : Nhìn chung sản lươ ̣ng đâ ̣u tương trên thề giới tăng liên tu ̣c trong những năm gầ n đây qua các năm từ 2007 - 2013 sản lươ ̣ng tăng từ 219,73 (triê ̣u tấ n) lên 276,41 (triê ̣u tấ n ) sản lượng đậu tương năm 2013 tăng 1,25 lầ n so với năm 2007. 6 Đậu tương là một cây trồng có vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và vị thế của nó ngày càng được n âng cao. Hiê ̣n nay sản xuấ t đâ ̣u tương lớn nhấ t trên thế giới là 4 nước Hoa kỳ , Brazil, Argentina và Trung Quố c. Sản lượng đậu tương của 4 nước này chiế m tới 90-95% sản lượng đậu tương toàn thế giới.