Đặt vấn đề Ngành chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi gia súc ở các nƣớc trên thế giới cũng nhƣ ở nƣớc ta, vì đó là một nguồn cung cấp thực phẩm với tỷ trọng cao và chất lƣợng tốt cho con ngƣời, là nguồn cung cấp phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt và là nguồn cung cấp các sản phẩm phụ nhƣ da, mỡ. cho ngành công nghiệp chế biến (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [11]. Việt Nam là một trong những nƣớc nuôi nhiều lợn. Theo số liệu thống kê, Việt Nam có số đầu lợn đứng hàng thứ 7 trên thế giới, sau các nƣớc: Trung Quốc, Mỹ, Brazil, Đức, Ba Lan và Tây Ban Nha, đứng hàng đầu các nƣớc Đông Nam Á và đứng thứ hai ở châu Á.
Trong những năm gần đây, nhờ áp dụng những thành tựu khoa học vào sản xuất, ngành chăn nuôi lợn của nƣớc ta đã có những bƣớc phát triển mạnh mẽ cả về số lƣợng và chất lƣợng. Phƣơng thức chăn nuôi lợn đã chuyển dịch theo hƣớng tích cực từ chăn nuôi lợn theo quy mô hộ gia đình là chủ yếu, nay chuyển dần sang chăn nuôi lợn theo quy mô gia trại và trang trại. Để đáp ứng đƣợc nhu cầu ngày càng cao của ngƣời tiêu dùng về chất lƣợng thịt lợn, bên cạnh chăn nuôi các giống lợn nội, chúng ta đã nhập nhiều giống lợn ngoại về để lại tạo với giống lợn nội và nuôi thuần. Do vậy, rất nhiều trang trại chăn nuôi lợn ngoại với quy mô từ vài trăm lợn nái đến vài nghìn lợn nái đã phát triển ở khắp nơi trong cả nƣớc.
Để chăn nuôi lợn ngoại đạt hiệu quả cao, bên cạnh các yếu tố về thức ăn, chuồng 2 trại, kỹ thuật nuôi dƣỡng, chăm sóc và phòng bệnh thì một trong những yếu tố hết sức quan trọng cần đƣợc đảm bảo là phải có con giống tốt. Điều này phụ thuộc rất lớn vào năng suất sinh sản của đàn lợn nái. Xã hội ngày nay càng phát triển thì nhu cầu đời sống ngƣời dân ngày càng cao. Đặc biệt là nhu cầu về nguồn thực phẩm có chất lƣợng cao, an toàn cho sức khỏe hợp với giá cả thị trƣờng phải chăng.
Trên thực tế thịt lợn là mặt này chứng tỏ tính ƣu việt cho ngành chăn nuôi lợn trong phát triển kinh tế và ổn định thị trƣờng. Vì vậy nhiệm vụ đặt ra cho ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng là đầu tƣ phát triển đàn lợn. để tăng cả chất lƣợng và số lƣợng nhăm cung cấp cho thị trƣờng khối lƣợng sản phẩm lớn chất lƣợng cao. Với mục đích góp phần nâng cao năng suất sinh sản cho đàn lợn nái ngoại, đồng thời bổ sung các tài liệu nghiên cứu về lĩnh vực sinh sản của giống lợn nái ngoại, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả năng sinh sản của đàn lợn nái nuôi tại Công Ty Cổ Phần Bình Minh, Mỹ Đức- Hà Nội”.
Mục tiêu của đề tài Đánh giá đƣợc khả năng sinh sản của đàn lợn nái ngoại nuôi tại Công Ty Cổ Phần Bình Minh, Mỹ Đức - Hà Nội. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Các kết quả nghiên cứu đạt đƣợc là những tƣ liệu khoa học về khả năng sản xuất của lợn nái ngoại nuôi tại Công Ty Cổ Phần Bình Minh, Mỹ Đức - Hà Nội phục vụ cho nghiên cứu và học tập của giảng viên và sinh viên trong lĩnh vực chăn nuôi lợn. Ý nghĩa thực tiễn - Giúp sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và nâng cao kiến thức trong chăn nuôi lợn nái sinh sản tại các cơ sở sản sản xuất, từ đó giúp sinh viên củng cố và nâng cao kiến thức của bản thân.
- Kết quả của đề tài là cơ sở thực tiễn quan trọng giúp trang trại và ngƣời chăn nuôi có biện pháp nuôi dƣỡng, chăm sóc phù hợp với điều kiện thực tế nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái sinh sản. 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Đặc điểm một số giống lợn nái ngoại * Giống lợn Yorkshire - Nguồn gốc: Giống lợn Yorkshire đƣợc hình thành ở vùng Yorkshire của nƣớc Anh.
- Đặc điểm ngoại hình: Lợn Yorkshire có lông trắng ánh vàng (cũng có một số con đốm đen), đầu cổ hơi nhỏ và dài, mõm thẳng và dài, mặt rộng, tai to trung bình và hƣớng về phía trƣớc, mình dài lƣng hơi cong, bụng gọn chân dài chắc chắn, có 14 vú. - Khả năng sản xuất: + Lợn Yorkshire có tốc độ sinh trƣởng phát dục nhanh, khối lƣợng khi trƣởng thành lên tới 300kg (con đực), 250 kg (con cái). + Lợn Yorkshire có mức tăng khối lƣợng bình quân 700 g/con/ngày, tiêu tốn thức ăn trung bình khoảng 3,0 kg/kg tăng khối lƣợng, tỷ lệ nạc 56 %. + Lợn có khả năng sinh sản cao, trung bình 10 – 12 con/lứa, khối lƣợng sơ sinh trung bình 1,2 kg/con.
* Giống lợn Landrace - Nguồn gốc: Giống lợn này đƣợc tạo ra ở Đan Mạch (1895). - Đặc điểm ngoại hình: Lợn Landrace có dạng hình nêm (còn gọi là hình tên lửa), màu lông trắng tuyền, mình dài, có từ 16 - 17 đôi xƣơng sƣờn, đầu dài hơi hẹp, tai to, dài rủ xuống che cả mặt, bốn chân hơi yếu. Lƣng vồng lên, mặt lƣng bằng phẳng, mông phát triển, tròn. Lợn Landrace có từ 12 - 14 vú, là giống lợn hƣớng nạc.
5 - Khả năng sản xuất: + Lợn có năng suất cao, sinh trƣởng nhanh, tiêu tốn thức ăn 3,0 kg/kg tăng khối lƣợng, tăng khối lƣợng bình quân 750 g/con/ngày, tỷ lệ nạc 59 %. Khối lƣợng lợn trƣởng thành có thể lên tới 320 kg ở con đực và 250 ở con cái. + Lợn Landrace có khả năng sinh sản khá cao và nuôi con khéo. Đây là giống lợn chuyên hƣớng nạc và đƣợc dùng để lai kinh tế với lợn nội.
Các công thức lai ở nƣớc ta chủ yếu hiện nay là: Lợn đực Landrace x Lợn nái Móng Cái (hoặc lợn địa phƣơng) để lấy con cai F1 nuôi thịt. Lợn đực Landrace x Lợn F1 (công thức trên) lấy con lai F2 có 3/4 máu ngoại nuôi thịt cho khối lƣợng lúc 6 tháng tuổi đạt 100 kg, tỷ lệ nạc 48 %. * Lợn lai CP 42 (♂ Landrace 01 x ♀ Yorkshire 21) - Đặc điểm ngoại hình: Lợn CP 42 là con lai giữa giống lợn Landrace 01 và giống lợn Yorkshire 21, có dạng hình nêm, màu lông trắng tuyền, mình dài, đầu dài hơi hẹp, tai to, dài rủ xuống che cả mặt, bốn chân hơi yếu. Lƣng vồng lên, mặt lƣng bằng phẳng, mông phát triển, tròn.
Lợn CP 42 có từ 12 - 14 vú, là giống lợn hƣớng nạc. - Khả năng sản xuất: + Lợn CP 42 có tốc độ sinh trƣởng phát dục nhanh, khối lƣợng khi trƣởng thành lên tới 340 kg (con đực), 250 kg (con cái). + Lợn CP 42 có mức tăng khối lƣợng bình quân 750 g /con /ngày, tiêu tốn thức ăn trung bình khoảng 3,0 kg /kg tăng khối lƣợng, tỷ lệ nạc 59 %. + Lợn CP 42 có khả năng sinh sản cao, trung bình 10 – 12 con/lứa, khối lƣợng sơ sinh trung bình 1,4 kg /con.
* Lợn lai CP 909 (♂ Landrace 11 x ♀ Yorkshire 22) - Đặc điểm ngoại hình: Lợn CP 909 là con lai giữa giống lợn Landrace 11 và giống lợn Yorkshire 22, có dạng hình nêm, màu lông trắng tuyền, mình 6 dài, đầu ngắn hơi hẹp, tai nhỏ, vểnh, bốn chân to, khỏe. Mặt lƣng bằng phẳng, mông phát triển, tròn. Lợn CP 909 có từ 12 - 14 vú, là giống lợn hƣớng nạc. - Khả năng sản xuất: + Lợn CP 909 có tốc độ sinh trƣởng phát dục nhanh, khối lƣợng khi trƣởng thành lên tới 360 kg (con đực), 260 kg (con cái).
+ Lợn CP 909 có mức tăng khối lƣợng bình quân 700 g /con /ngày, tiêu tốn thức ăn trung bình khoảng 3,0 kg /kg tăng khối lƣợng, tỷ lệ nạc 58 %. + Lợn CP 909 có khả năng sinh sản cao, trung bình 11 – 113 con/lứa, khối lƣợng sơ sinh trung bình 1,45 kg /con. Một số chỉ tiêu về sinh lý sinh dục của lợn nái * Sự thành thục về tính Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục và có khả năng sinh sản. Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục đã phát triển hoàn thiện, dƣới tác dụng của thần kinh nội tiết tố con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục.
Con cái có hiện tƣợng động dục, con đực có phản xạ giao phối. Khi đó, con cái các noãn bào chín và rụng trứng (lần đầu), con đực có phản xạ sinh tinh. Đối với các giống gia súc khác nhau thì thời gian thành thục về tính cũng khác nhau, ở lợn nội thƣờng từ 4 - 5 tháng tuổi (120 - 150 ngày), ở lợn ngoại (180 - 210 ngày). Ở lợn cái có nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến sự thành thục về tính nhƣ giống, chế độ dinh dƣỡng, khí hậu, chuồng trại, trạng thái sinh lý của từng cá thể,… Giống: Ở lợn lai tuổi động dục đầu tiên muộn hơn so với lợn nội thuần.
Lợn lai F1 bắt đầu động dục lúc 6 tháng tuổi, khi khối lƣợng cơ thể đạt 50 – 55 kg. Lợn ngoại động dục lần đầu muộn hơn so với lợn lai vào lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi lợn có khối lƣợng 65 – 68 kg. Còn đối với lợn nội tuổi thành thục về tính từ 4 - 5 tháng tuổi. 7 Chế độ dinh dƣỡng: Ảnh hƣởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn nái.
Thƣờng những lợn đƣợc chăm sóc và nuôi dƣỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn đƣợc nuôi trong điều kiện dinh dƣỡng kém. Lợn cái đƣợc nuôi trong điều kiện dinh dƣỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188,5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lƣợng cơ thể là 80 kg và nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối lƣợng cơ thể là 48,4 kg. Dinh dƣỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố sinh dục, nếu thừa dinh dƣỡng cũng ảnh hƣởng không tốt tới sự thành thục, là do sự tích lũy mỡ xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thƣờng của chúng. Mặt khác, do béo quá ảnh hƣởng tới các hormone oestrogen và progesterone trong máu, làm cho hàm lƣợng của chúng trong cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục.
+ Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Cũng là yếu tố ảnh hƣởng rõ rệt tới tuổi động dục.