Tổng quan nghiên cứu

Ngành thực phẩm và đồ uống đóng vai trò huyết mạch trong nền kinh tế Việt Nam với mức đóng góp khoảng 15% GDP hàng năm. Theo số liệu khảo sát của Công ty Nghiên cứu thị trường BMI, tổng doanh thu bán hàng của ngành đạt 975.867 tỷ đồng vào năm 2020, đồng thời chi tiêu cho thực phẩm chiếm tỷ trọng khoảng 35% tổng chi tiêu dùng của các hộ gia đình. Tốc độ tăng trưởng toàn ngành được dự báo duy trì từ 5% đến 6% mỗi năm trong giai đoạn 2020 - 2025. Tuy nhiên, giai đoạn 2019 - 2020 ghi nhận nhiều biến động khắc nghiệt do đại dịch Covid-19 và suy thoái kinh tế toàn cầu, khiến khoảng 50% doanh nghiệp chịu tác động nghiêm trọng và hơn 85% doanh nghiệp gặp khó khăn lớn trong quản trị hàng tồn kho, chuỗi phân phối cũng như áp lực thanh khoản.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là làm thế nào để nhận diện sớm nguy cơ kiệt quệ tài chính và mất khả năng thanh toán trước khi doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản. Luận văn thạc sĩ tập trung giải quyết bài toán ứng dụng mô hình Z-score nhằm định lượng và dự báo xác suất khủng hoảng tài chính của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết trên hai sàn chứng khoán HOSE và HNX trong chuỗi thời gian 6 năm từ năm 2015 đến năm 2020. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp công cụ cảnh báo sớm với độ tin cậy lên đến 91% trước 1 năm khủng hoảng, hỗ trợ doanh nghiệp tái cơ cấu vốn, giảm tỷ lệ nợ xấu và bảo vệ dòng vốn của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phá sản doanh nghiệp và phương pháp phân tích đa biệt thức (Multiple Discriminant Analysis - MDA) do Edward I. Altman khởi xướng từ năm 1968. Về mặt pháp lý, theo quy định tại Điều 5 Luật Phá sản 2014, một doanh nghiệp được xác định mất khả năng thanh toán khi không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày đến hạn. Về khía cạnh tài chính, tình trạng kiệt quệ xảy ra khi giá trị hiện tại của dòng tiền không đủ bù đắp các nghĩa vụ nợ hoặc tổng tài sản sụt giảm dưới mức nợ phải trả.

Để phù hợp với các thị trường mới nổi và loại bỏ sai lệch về quy mô doanh thu giữa các nhóm ngành, tác giả áp dụng mô hình Z-score điều chỉnh (chỉ số Z'') được Altman công bố năm 1995. Phương trình định lượng gồm 4 biến tài chính cơ bản:

Z'' = 6,56X1 + 3,26X2 + 6,72X3 + 1,05X4

Trong đó, X1 phản ánh tỷ lệ vốn lưu động ròng trên tổng tài sản đo lường tính thanh khoản; X2 là lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản đại diện cho tích lũy vốn; X3 là lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) trên tổng tài sản đo lường hiệu suất sinh lời thật của tài sản độc lập với cấu trúc vốn; X4 là giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu trên tổng nợ phải trả. Các giá trị ngưỡng phân loại bao gồm: Z'' dưới 1,1 thuộc vùng kiệt quệ tài chính hoặc nguy cơ phá sản cao; Z'' từ 1,1 đến 2,6 thuộc vùng xám cảnh báo; Z'' trên 2,6 thuộc vùng an toàn tài chính.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập toàn diện từ báo cáo tài chính đã kiểm toán của các doanh nghiệp thực phẩm niêm yết trên hai sở giao dịch chứng khoán HOSE và HNX xuyên suốt 6 năm, từ năm 2015 đến năm 2020. Quá trình chọn mẫu tuân thủ nguyên tắc chọn mẫu toàn bộ các doanh nghiệp đủ điều kiện dữ liệu công bố minh bạch nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho toàn ngành.

Lý do lựa chọn mô hình Z'' thay vì mô hình Z truyền thống 5 biến là do biến số doanh thu trên tổng tài sản (X5) có sự phân hóa rất lớn giữa các phân khúc chế biến, thương mại và dịch vụ, dễ làm méo mó kết quả phân loại tại các thị trường đang phát triển. Phương pháp phân tích định lượng sử dụng các kỹ thuật so sánh tuyệt đối, so sánh tương đối và phương pháp liên hệ cân đối chỉ số tài chính. Dữ liệu sau đó được xử lý để tính toán điểm số Z'' cho từng năm, phân nhóm rủi ro và đo lường độ nhạy của các hệ số tài chính qua các chu kỳ kinh doanh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích định lượng chỉ ra sự phân hóa rõ nét về sức khỏe tài chính giữa các doanh nghiệp thực phẩm niêm yết trong giai đoạn 2015 - 2020. Tỷ lệ dự báo chính xác của mô hình Z'' đạt mức 91% tại thời điểm 1 năm trước khi doanh nghiệp rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính, với tỷ lệ sai lầm loại I (doanh nghiệp kiệt quệ nhưng bị dự báo an toàn) chỉ ở mức 9%. Khi khoảng cách thời gian dự báo tăng lên 2 năm trước khủng hoảng, độ chính xác duy trì ở mức 72%, chứng minh tính hiệu quả vượt trội của công cụ trong việc phát hiện mầm mống mất khả năng thanh toán.

Phân tích trường hợp điển hình cho thấy các doanh nghiệp duy trì được hệ số sinh lời tài sản X3 trên 15% và tỷ lệ vốn lưu động X1 dương ổn định như Công ty Cổ phần Tập đoàn Dabaco Việt Nam luôn nằm vững chắc trong vùng an toàn với điểm số Z'' vượt mốc 2,6. Ngược lại, các đơn vị có tỷ lệ đòn bẩy nợ cao, lợi nhuận giữ lại âm hoặc sụt giảm liên tục như Công ty Cổ phần Vang Thăng Long hay các giai đoạn biến động của Công ty Cổ phần Chế biến hàng Xuất khẩu Long An (LAF) và Công ty Cổ phần Thành Thành Công - Biên Hòa (SBT) đã rơi vào vùng xám từ 1,1 đến 2,6 hoặc sát ngưỡng kiệt quệ tài chính. Hơn 30% doanh nghiệp trong mẫu khảo sát từng có ít nhất một năm rơi vào vùng cảnh báo tài chính trong giai đoạn 2018 - 2020.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính đẩy các doanh nghiệp thực phẩm vào vùng mất an toàn tài chính bắt nguồn từ việc lạm dụng đòn bẩy nợ vay ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn, khiến chỉ số X1 bị âm và chỉ số X4 sụt giảm nghiêm trọng xuống dưới 40%. Khi biên lợi nhuận hoạt động bị bào mòn do giá nguyên liệu đầu vào tăng hoặc suy giảm sức mua trong dịch bệnh, tỷ số EBIT trên tổng tài sản (X3) giảm xuống mức âm khiến điểm Z'' tụt dốc nhanh chóng.

So sánh với công trình thực nghiệm của David L. Olson và các cộng sự năm 2011, mô hình Z-score đạt độ chính xác phân loại tổng thể lên tới 95%, vượt trội hơn đáng kể so với phương pháp Mạng thần kinh nhân tạo (81,3%) và mô hình Hồi quy Logistic (79,8%), đồng thời gọn nhẹ hơn mô hình Cây quyết định vốn đòi hỏi tới 15 biến số và 52 nhánh rẽ phức tạp. Kết quả thực nghiệm tại Việt Nam cũng hoàn toàn tương thích với các nghiên cứu tại thị trường Thái Lan (92%) và Mexico (95%). Về mặt trực quan hóa dữ liệu, sự biến động điểm số Z'' trung bình toàn ngành qua các năm có thể được trình bày sinh động qua biểu đồ đường xu hướng kết hợp biểu đồ cột phân nhóm tỷ lệ phần trăm an toàn, vùng xám và kiệt quệ, giúp các nhà quản trị dễ dàng theo dõi quỹ đạo tài chính của doanh nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Từ các kết luận thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm cải thiện sức khỏe tài chính cho các doanh nghiệp ngành thực phẩm:

Thứ nhất, tối ưu hóa quản trị vốn lưu động và nâng cao hiệu suất tài sản. Doanh nghiệp cần tái cơ cấu kỳ thu tiền bình quân và quản lý chặt chẽ vòng quay hàng tồn kho nhằm giữ tỷ số X1 ở mức tối thiểu từ 15% đến 20%. Ban điều hành phải kiên quyết thanh lý các tài sản hoạt động không hiệu quả nhằm nâng cao tỷ suất EBIT trên tổng tài sản (X3) đạt mục tiêu tối thiểu trên 8% hàng năm, thực hiện trong lộ trình 12 tháng.

Thứ hai, tái cấu trúc nguồn vốn và kiểm soát tỷ lệ đòn bẩy nợ. Các công ty thực phẩm cần hạn chế tối đa việc sử dụng nợ vay ngắn hạn cho đầu tư dài hạn, từng bước giảm tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu xuống dưới ngưỡng 1,5 lần để cải thiện biến số X4. Mục tiêu là gia tăng hệ số an toàn vốn trong chu kỳ từ 12 đến 24 tháng do Hội đồng quản trị và Giám đốc tài chính trực tiếp chỉ đạo.

Thứ ba, xây dựng chính sách tích lũy lợi nhuận giữ lại hợp lý. Doanh nghiệp cần cân đối chính sách chi trả cổ tức bằng tiền mặt, ưu tiên giữ lại tối thiểu 30% đến 40% lợi nhuận sau thuế hàng năm để tái đầu tư vào quỹ phát triển kinh doanh, qua đó cải thiện chỉ số X2 và củng cố bộ đệm vốn tự có trước các biến động vĩ mô.

Thứ tư, nâng cao tính minh bạch và chuẩn hóa chất lượng báo cáo tài chính. Doanh nghiệp và kiểm toán viên độc lập phải đảm bảo tuân thủ nghiêm ngặt chuẩn mực kế toán, công bố thông tin minh bạch theo định kỳ nhằm hạn chế sai lệch chỉ số. Đồng thời, các ngân hàng thương mại cần tích hợp mô hình Z'' vào hệ thống chấm điểm tín dụng nội bộ với mục tiêu rút ngắn 20% thời gian thẩm định rủi ro cho vay.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

Thứ nhất, Ban lãnh đạo và Giám đốc tài chính (CFO) các doanh nghiệp thực phẩm: Tài liệu giúp nhận diện sức khỏe tài chính định kỳ, phát hiện sớm nguy cơ kiệt quệ trước từ 1 đến 2 năm để chủ động tái cấu trúc dòng tiền và cơ cấu nợ.

Thứ hai, Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng: Sử dụng mô hình làm công cụ bổ trợ trong quy trình thẩm định hồ sơ vay vốn, thiết lập hạn mức tín dụng và giảm thiểu từ 10% đến 15% nguy cơ phát sinh nợ xấu nhóm ngành sản xuất chế biến.

Thứ ba, Nhà đầu tư cá nhân và quỹ đầu tư tài chính: Cung cấp góc nhìn định lượng khách quan để sàng lọc cổ phiếu tiềm năng, loại bỏ các doanh nghiệp thuộc nhóm vùng xám và vùng nguy hiểm khỏi danh mục đầu tư trung và dài hạn.

Thứ tư, Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu tài chính: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật thực nghiệm phong phú về phương pháp ứng dụng phân tích đa biệt thức (MDA) trong điều kiện thị trường chứng khoán mới nổi tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

  1. Mô hình Z-score của Altman có độ chính xác như thế nào tại thị trường Việt Nam? Nghiên cứu thực nghiệm xác nhận mô hình Z'' đạt độ chính xác lên tới 91% trong việc nhận diện doanh nghiệp kiệt quệ tài chính trước thời điểm khủng hoảng 1 năm. Tỷ lệ này tương đồng với các thị trường phát triển và thị trường mới nổi như Thái Lan (92%) hay Mexico (95%).

  2. Tại sao luận văn lại lựa chọn mô hình Z'' thay vì mô hình Z-score gốc? Mô hình Z'' gồm 4 biến đã loại bỏ biến số X5 (Doanh thu/Tổng tài sản). Việc này giúp triệt tiêu sự sai lệch về tỷ suất quay vòng vốn giữa các phân khúc kinh doanh khác nhau, đồng thời sử dụng giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu trong biến X4 để phù hợp với đặc thù doanh nghiệp tại Việt Nam.

  3. Các ngưỡng điểm số Z'' được phân loại cụ thể ra sao? Thang đo mô hình Z'' quy định 3 vùng rõ ràng: Điểm số dưới 1,1 cảnh báo doanh nghiệp thuộc vùng kiệt quệ tài chính hoặc nguy cơ phá sản cao; điểm số từ 1,1 đến 2,6 nằm trong vùng xám cần giám sát chặt chẽ; điểm số trên 2,6 khẳng định doanh nghiệp an toàn tài chính.

  4. Theo Luật Phá sản 2014, tiêu chí xác định doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là gì? Căn cứ theo Điều 5 Luật Phá sản 2014, doanh nghiệp bị coi là mất khả năng thanh toán khi không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày đến hạn, làm căn cứ pháp lý để các chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

  5. Doanh nghiệp thực phẩm cần làm gì ngay khi điểm số Z'' rơi vào vùng xám? Doanh nghiệp cần lập tức rà soát chi phí vận hành, giãn tiến độ đầu tư mở rộng, tăng tốc độ thu hồi nợ đọng để tăng vốn lưu động ròng X1, đồng thời cơ cấu lại các khoản nợ ngắn hạn nhằm đưa điểm số Z'' trở lại mức an toàn trên 2,6.

Kết luận

  • Luận văn đã chứng minh mô hình Z'' đạt độ tin cậy dự báo 91% đối với các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại Việt Nam trước 1 năm kiệt quệ tài chính.
  • Nghiên cứu phản ánh toàn diện thực trạng tài chính giai đoạn 2015 - 2020, làm rõ vai trò quyết định của hệ số sinh lời tài sản và đòn bẩy nợ đối với khả năng tồn tại của doanh nghiệp.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp tài chính mang tính khả thi cao giúp doanh nghiệp duy trì điểm số Z'' trên 2,6 và tối ưu hóa chi phí vốn.
  • Đề tài đóng góp khung tham chiếu khoa học cho các tổ chức tín dụng và nhà đầu tư trong việc kiểm soát rủi ro phá sản trên thị trường chứng khoán.
  • Doanh nghiệp cần chủ động thiết lập quy trình tính toán chỉ số Z'' định kỳ 6 tháng một lần theo chu kỳ công bố báo cáo tài chính để phát hiện sớm các rủi ro tiềm ẩn.

Hãy chủ động ứng dụng ngay mô hình chỉ số Z'' vào quy trình phân tích và quản trị tài chính doanh nghiệp để nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo toàn dòng vốn đầu tư bền vững.