CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, ĐÓNG GÓP VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Tổng quan về phá sản 2. Khái niệm, nhận định về phá sản của doanh nghiệp “ Mỗi một quốc gia riêng biệt tùy theo trình độ phát triển và điều kiện kinh tế - xã hội sẽ có các quy định về phá sản công ty hay doanh nghiệp khác nhau và có những đặc trưng riêng. Ví dụ như ở Nhật, do nguyên nhân lịch sử của xã hội Nhật Bản dẫn đến việc hệ thống pháp luật về phá sản doanh nghiệp tại quốc gia này được quy định trong trong nhiều luật chứ không phải một bộ luật, cụ thể là các bộ luật: Luật Phá sản (1922); Bộ luật thương mại (1938); Luật về thoả hiệp (1922; 2000); Luật về tổ chức lại công ty (1952), Bộ luật về phục hồi dân sự (1999; 2000).
Còn tại Hoa Kỳ, phá sản được quy định trong hai chương luật đó là chương 7 thanh lý và chương 11 tái tổ chức. Luật phá sản của Hoa Kỳ khá khoan hồng, với mục đích để bảo vệ các cá nhân và doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng không trả được nợ, từ đó tạo điều kiện để các doanh nghiệp nhỏ phát triển bằng việc khuyến khích các doanh nghiệp này chấp nhận rủi ro khi kinh doanh. Tại Pháp, hiện tại quy định về phá sản của Pháp được quy định tại Luật ngày 25-01-1985 của Pháp (được sửa đổi theo Luật Phá sản ngày 20-10- 1994). Một trong những đặc trưng của pháp luật phá sản hiện đại của Pháp là khuyến khích sự sống sót của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.
Các quyền yêu cầu Toà án tuyên bố phá sản và sự phân biệt thứ tự ưu tiên các quyền của chủ nợ đối với người mắc nợ được phân định rõ trong pháp luật về phá sản tại Pháp.” “ Tại Việt Nam, người ta sử dụng khá nhiều từ ngữ để mô tả trạng thái phá sản của doanh nghiệp như: vỡ nợ, phá sản, khánh tận,.Xét theo định nghĩa trong từ điển Việt Nam “phá sản” được hiểu là việc rơi vào tình trạng không còn tài sản và thường là vỡ nợ do kinh doanh bị thua lỗ, thất bại; còn “vỡ nợ” được hiểu là là bị thua lỗ, thất bại liên tục trong buôn bán hay kinh doanh, đã phải bán toàn bộ tài sản mà vẫn không thể đủ để trả nợ. Như vậy, trong cách hiểu thông thường, khái niệm phá sản là để chỉ cho một sự việc đã rồi, sự việc “phải bán hết tài sản mà vẫn không đủ trả nợ”. Còn xét riêng đối với Từ điển Luật học phá sản lại được hiểu là là “tình trạng một chủ thể (cá nhân, pháp nhân) mất khả năng thanh toán nợ đến hạn”. Xét theo 8 nhận định này, khái niệm phá sản chỉ mới xác định được một tình trạng có thể xảy ra đối với các chủ thể bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán.
Như vậy có thể nói, “phá sản” được hiểu bằng việc “mất khả năng thanh toán”. “ Trong tiếng Anh, những thuật ngữ bankruptcy, insolvency diễn đạt khái niệm phá sản và mất khả năng thanh toán. Trong vài trường hợp người ta sử dụng hai thuật ngữ là những từ có cùng ý nghĩa tương tự nhau. Tuy vậy, có nhận định cho rằng, insolvency là thuật ngữ liên quan đến tình trạng tài chính, trong khi đó bankruptcy lại là thuật ngữ liên quan thuần tuý về pháp lý.” Cụ thể, từ insolvency được dịch trong tiếng Việt là mất khả năng thanh toán, nói lên tình trạng tài chính của doanh nghiệp.
Tình trạng mất khả năng thanh toán này có thể xác định theo phương thức dựa trên cân đối tài sản - nợ cho thấy tài sản còn lại của doanh nghiệp không đủ để thanh toán nợ hoặc dựa vào việc doanh nghiệp không còn khả năng thanh toán nợ đã đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu. Khi một doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán (insolvency) thì nó có thể được thực hiện các thủ tục phục hồi hoặc bị thanh lý. Còn từ bankruptcy thì được dịch sát nghĩa trong tiếng Việt là các thủ tục pháp lý được thực hiện nhằm xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán. Từ các nhận định đã trình bày ở trên dễ dàng thấy được về mặt pháp lý, có thể hiểu phá sản theo hai khía cạnh sau: Thứ nhất, phá sản là khi tổ chức kinh doanh bị mất khả năng thanh toán và bị cơ quan nhà nước ra quyết định tuyên bố phá sản.
Sau quyết định này là việc tổ chức kinh doanh chấm dứt hoạt động. Thứ hai, có thể hiểu theo khía cạnh thủ tục pháp lý, phá sản liên quan đến việc một tổ chức kinh doanh thực hiện các thủ tục pháp lý với mục đích xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán của tổ chức kinh doanh này. Luật phá sản và pháp luật có liên quan quy định thủ tục pháp lý về phá sản, thủ tục này được tiến hành từ khi có dấu hiệu tổ chức kinh doanh đó lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán và quá trình giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán được thực hiện có thể đưa đến 9 những hệ quả khác nhau là phục hồi tổ chức kinh doanh hoặc thanh lý tài sản và chấm dứt hoạt động của tổ chức kinh doanh. “ Trong pháp luật Việt Nam, không giống như văn bản luật quy định về phá sản của Việt Nam trước đây khi không đưa ra định nghĩa chính xác cho khái niệm phá sản, Luật Phá sản năm 2014 đã đề cập đến khái niệm mang tính pháp lý về phá sản, theo đó, “Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản”.
Dễ dàng nhận thấy được, khái niệm về phá sản ở trên đề cập phá sản theo khía cạnh quyết định của tòa án, mà không phải là quá trình ban hành để ra được quyết định đó hay thủ tục phá sản. Như vậy, doanh nghiệp được xem là phá sản khi xảy ra đồng thời việc mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản, đồng nghĩa với việc theo quy định của Luật này có thể hiểu những doanh nghiệp không đảm bảo khả năng thanh toán chưa được gọi là phá sản.” Cũng theo Điều 5 của Luật Phá sản này, “chủ nợ (không có bảo đảm và có bảo đảm một phần), người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 3 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn thanh toán, hoặc phải thực hiện nghĩa vụ trả lương nhưng doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho các khoản này”. Ngoài ra, các chủ thể khác của doanh nghiệp, hợp tác xã như người đại diện theo pháp luật, chủ doanh nghiệp, chủ tịch hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng thành viên đều có thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ. Tóm lại, có thể nhận thấy được để công nhận một doanh nghiệp phá sản tại thị trường Việt Nam, nếu chỉ căn cứ theo quy định của pháp luật, cụ thể là của Luật Phá sản 2014 và các quy định khác có liên quan về thủ tục phá sản thì số lượng doanh nghiệp bị công nhận phá sản là rất ít.
Đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất có số lượng lao động lớn kèm theo đó là các thủ tục phá sản lại càng khó khăn hơn do việc phá sản của doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến nhiều mặt của xã hội. Tiêu chí xác định tình trạng phá sản Theo Tiến sĩ Dương Kim Thế Nguyên (2017), có các tiêu chí xác định tình trạng phá sản như sau: Tiêu chí định lượng: doanh nghiệp không còn khả năng thanh toán là việc doanh nghiệp không thực hiện được việc thanh toán một khoản nợ đến hạn có giá trị tối thiểu theo quy định của pháp luật. Ví dụ: theo luật Singapore số tiền tối thiểu này là 10.000 Đô la Singapore vào năm 2005, còn tại Liên bang Nga số tiền tối thiểu này đối với pháp nhân được quy định là 100. Ưu điểm của tiêu chí này là việc đã thực hiện loại trừ các khoản nợ quá nhỏ của doanh nghiệp mà mất khả năng thanh toán được.
Mặc dù vậy, nhược điểm của tiêu chí này là không đánh giá được đúng lý do gây lên việc doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán nhất thời do nguyên nhân khác nhâu gây nên. Tiêu chí kế toán: dựa vào số liệu kế toán của doanh nghiệp, một doanh nghiệp có tổng giá trị tài sản nợ lớn hơn tổng giá trị tài sản có bị đánh giá là phá sản. Ưu điểm của tiêu chí này là việc nhận định được tình trạng tài chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên, hiển nhiên rằng khi tiến hành thủ tục phá sản của doanh nghiệp việc thực hiện kiểm toán BCTC là cần thiết, đây là một điểm khó khăn của tiêu chí này.
Ngoài ra, tiêu chí này không đúng khi giá trị sổ sách tài sản của doanh nghiệp có thể bằng hoặc hơn giá trị của nợ nhưng các tài sản này không dễ dàng chuyển thành tiền để thanh toán nợ. Tiêu chí dòng tiền: Tiêu chí này đánh giá đến dòng tiền thu được của doanh nghiệp dùng để trả nợ, không chú ý đến doanh nghiệp có tài sản hiện có đủ để trả nợ hay không mà đến việc hiện kim của doanh nghiệp từ các tài sản hiện tại đủ để đảm bảo việc trả nợ hay không. Tiêu chí đang được dùng để nhận đình tình trạng phá sản của doanh nghiệp theo Luật phá sản 2014 là tiêu chí dòng tiền và có áp dụng thêm tiêu chí định lượng nhưng không phải giá trị khoản nợ và mà là thời gian trễ hạn trả nợ đến hạn. Nguyên nhân dẫn đến phá sản doanh nghiệp Việc bị rơi vào tình trạng phá sản của một doanh nghiệp có thể do nhiều nguyên nhân gây ra.
Theo nghiên cứu vào năm 1998 của Holland nhận định rằng có hai loại thất bại kinh doanh cơ bản: thứ nhất là thất bại thảm khốc và thứ hai là thất bại do thiếu thành công.