Đặt vấn đề Tính khả dụng [9] là mức độ mà một hệ thống máy tính cho phép người dùng trong một bối cảnh sử dụng cụ thể có thể đạt được những mục tiêu nhất định với cảm giác hài lòng. Đánh giá tính khả dụng (tính dễ sử dụng) là một phần quan trọng của quá trình thiết kế giao diện người dùng. Đánh giá tính khả dụng bao gồm các phương pháp để đo lường các khía cạnh của khả năng sử dụng giao diện người dùng hệ thống. Tuy nhiên, việc đánh giá có thể tốn kém về thời gian và nguồn lực con người, do đó cần lựa chọn phương pháp để đánh giá khả năng sử dụng phù hợp với đặc trưng của hệ thống sao cho tiết kiệm chi phí về thời gian, nguồn lực, con người.2! Tổng quan về tính khả dụng của hệ thống 1.1! Định nghĩa Tính khả dụng [5] là một thuộc tính chất lượng của hệ hống thể hiện ở mức độ dễ sử dụng khi con người tương tác với giao diện hệ thống.
Tính khả dụng bao gồm tính dễ sử dụng, tính hiệu quả và cuối cùng là sự hài lòng của người dùng cuối. Tính khả dụng không phải là một thuộc tính đơn lẻ, nó bao gồm một tập hợp các thuộc tính: o! Thiết kế trực quan: Người dùng gần như không mất thời gian để tìm hiểu kiến trúc của hệ thống. Để đảm bảo tính chất này hệ thống cần được thiết kế trực quan, nhìn vào người dùng có thể hiểu ngay để thực hiện nhiệm vụ của mình họ cần phải đi đến đâu và làm gì. o! Tính dễ học: tốc độ nhanh chóng mà một người dùng có thể hoàn thành các nhiệm vụ cơ bản cho dù họ chưa từng thấy giao diện hệ thống trước đó o! Hiệu quả của việc sử dụng: tốc độ nhanh chóng mà một người dùng có kinh nghiệm có thể hoàn thành các nhiệm vụ.
o! Tính dễ nhớ: sau khi xem hệ thống, người dùng có thể nhớ đủ để sử dụng hiệu quả ở lần xem tiếp theo. o! Khả năng chống lỗi và bảo mật: Mức độ thường xuyên mà người dùng gây ra lỗi khi sử dụng hệ thống, mức độ nghiêm trọng của lỗi và cách người dùng quay lại trạng thái trước lỗi. o! Mức độ hài lòng của người dùng đối với hệ thống. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2! Các hoạt động đánh giá tính dễ sử dụng của hệ thống Đánh giá khả năng sử dụng bao gồm một chuỗi các hoạt động như sau: o! Capture: Thu thập dữ liệu về khả năng sử dụng, ví dụ: Thời gian hoàn thành nhiệm vụ, các sai sót, vi phạm nguyên tắc, các đánh giá chủ quan.
o! Analysis: Phân tích, diễn giải dữ liệu khả năng sử dụng để xác định các vấn đề về khả năng sử dụng trong giao diện hệ thống. o! Critique (Phê bình): đề xuất giải pháp hoặc đưa ra các cải tiến để giảm thiểu các vấn đề.3! Phân loại các phương pháp đánh giá khả năng sử dụng Dựa theo phân loại của Balbo [9] chúng ta có năm lớp phương thức đánh giá khả năng sử dụng dưới đây: Kiểm thử (Testing): phương pháp này yêu cầu các ứng viên tham gia một cuộc kiểm thử. Người dùng sẽ thao tác một số nhiệm vụ đã xác định trước. Dựa vào kết quả công việc để xác định các vấn đề về khả năng sử dụng của hệ thống.
Phương pháp đánh giá khả năng sử dụng này yêu cầu việc ghi nhận các hành động của người dùng khi họ thao tác với hệ thống. Điều này có thể thực hiện bởi một người đánh giá bằng cách trực tiếp xem cách người dùng thao tác với hệ thống và ghi lại. hoặc cũng có thể bằng cách xem đoạn phim về phiên làm việc. Kiểm duyệt (Inspection): Một quá trình kiểm duyệt về tính khả dụng là phương pháp đánh giá theo đó một người đánh giá sẽ xem xét các khía cạnh khả dụng của một thiết kế giao diện người dùng xem có phù hợp với một tập các hướng dẫn không.
Các hướng dẫn có thể là các quy định rất cụ thể dựa trên các nguyên tắc chung. Không giống như các phương pháp đánh giá tính khả dụng khác, phương pháp kiểm duyệt dựa trên phán đoán của người đánh giá. Suốt quá trình xem xét, người đánh giá cố gắng để mô phỏng quá trình giải quyết vấn đề của người dùng khi họ thực hiện các nhiệm vụ trên giao diện cụ thể. Tại mỗi bước của một nhiệm vụ, người kiểm tra đánh giá xem người sử dụng sẽ thực hiện bước đó hoàn thành hay thất bại.
Từ đó, người đánh giá có thể đưa ra một tài liệu đầy đủ về quá trình phân tích. Điều tra (Inquiry): Tương tự như các cách tiếp cận kiểm tra tính khả dụng, các phương pháp điều tra yêu cầu phản hồi từ người dùng và thường được sử dụng trong quá trình kiểm tra tính khả dụng. Tuy nhiên, trọng tâm không phải là việc nghiên cứu các nhiệm vụ cụ thể hoặc đo lường hiệu quả. Thay vào đó, mục tiêu của các phương pháp này là thu thập những cảm nhận chủ quan (tức là, sở thích hay ý kiến) về các khía cạnh khác nhau của một giao diện người dùng.
Người đánh giá cũng sử dụng phương pháp điều 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tra, chẳng hạn như khảo sát, bảng câu hỏi và phỏng vấn, thu thập dữ liệu bổ sung sau khi một hệ thống được đưa vào sử dụng; điều này là hữu ích cho việc cải thiện giao diện cho phiên bản tương lai. Ngoài ra, người đánh giá sử dụng phương pháp điều tra để đánh giá nhu cầu sớm trong quá trình thiết kế. Các phương pháp điều tra thay đổi tùy theo việc người đánh giá tương tác với một người dùng hoặc một nhóm người sử dụng hay người dùng báo cáo các trải nghiệm của họ bằng cách sử dụng bảng câu hỏi hoặc logs sử dụng, có thể kết hợp với ảnh chụp màn hình. Mô hình phân tích (Analytical modeling): tức là đánh giá hệ thống dựa trên mô hình của giao diện thiết kế qua đó tao ra các dự đoán về khả năng sử dụng.
Phương pháp này bổ sung các kỹ thuật đánh giá cho phương pháp Testing. Với một số đại diện hoặc mô hình của giao diện người dùng và/hoặc người sử dụng, các phương pháp này cho phép người đánh giá dự đoán khả năng sử dụng một cách không tốn kém. Phương pháp này bổ trợ cho phương pháp Analytical modeling. Giả lập bổ sung cho các phương pháp truyền thống, và cũng giống như mô hình hóa phân tích, có thể được xem như là vốn dĩ đã hỗ trợ phân tích tự động.
Sử dụng các mô hình của người dùng hoặc giao diện người dùng, các cách tiếp cận này giả lập tương tác của người dùng và báo cáo kết quả tương tác này, ví dụ theo dạng biểu mẫu báo cáo đo lường hiệu năng hoặc báo cáo thao tác trên giao diện. Người đánh giá có thể chạy giả lập với nhiều tham số khác nhau để tìm hiểu cách cân bằng các thành phần trên giao diện người dùng, từ đó lựa chọn cách thể hiện tối ưu nhất. Giả lập cũng được dùng để tự động sinh ra dữ liệu hành vi tổng hợp để phân tích dữ liệu với các kĩ thuật phân tích nhật ký sử dụng (log), hoặc phát lại sự kiện trên giao diện. Vì thế, giả lập có thể xem, ở khía cạnh nào đó, như là hỗ trợ bắt sự kiện tự động.
Các phương pháp đánh giá tính khả dụng trong lớp phương thức testing, inspection và inquiry phù hợp với việc xách định các vấn đề khả năng sử dụng cụ thể qua đó ta đánh giá tổng kết chung về khả năng sử dụng. Các phương thức Analytical modeling và Simulation là các kỹ thuật đánh giá tính khả dụng cho phép người đánh giá dự đoán khả năng sử dụng của người dùng và các mô hình giao diện. Các công nghệ phần mềm được sử dụng trong thực tế có ảnh hưởng lớn đến ba phương pháp đầu tiên. Ngược lại hai kỹ thuật cuối, Analytical modeling và Simulation, khá tương tự các kỹ thuật đánh giá hiệu năng được sử dụng để phân tích hiệu năng của các hệ thống máy tính.4! Phạm vi nghiên cứu của đề tài 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn trình bày một cuộc khảo sát rộng rãi các phương pháp đánh giá khả năng sử dụng , sau đó tập trung vào phân tích hai phương pháp phổ biến của phương pháp kiểm duyệt là đánh giá dựa trên kinh nghiệm và đánh giá thăm dò (cognitive walkthrough).
Luận văn xác định các khía cạnh của việc đánh giá tính dễ sử dụng bằng hai kỹ thuật này, áp dụng vào đánh giá tính dễ sử dụng của hệ thống cổng thông tin điện tử chính phủ Việt nam. Cuối cùng là đề xuất các cải tiến cho việc thiết kế giao diện để hệ thống cổng thông tin điện tử hoàn thiện và phục vụ tốt hơn cho cộng đồng. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 2! Phương pháp kiểm duyệt để đánh giá tính khả dụng của hệ thống 2.1! Phương pháp kiểm duyệt Kiểm duyệt khả năng sử dụng [2] là một tập hợp các phương pháp trong đó người đánh giá thẩm định hoặc kiểm tra các khía cạnh liên quan đến tính khả dụng của một giao diện người dùng. Những người kiểm duyệt tính khả dụng có thể là các chuyên gia, các nhà tư vấn phát triển phần mềm có chuyên môn đặc biệt (chẳng hạn kiến thức về một dạng giao diện người dùng cụ thể nào đó), người dùng cuối cùng có kiến thức về nội dung hoặc công việc liên quan, hoặc có các chuyên môn khác.2! Các hoạt động của quá trình kiểm duyệt Về cơ bản, kiểm duyệt tính khả dụng nhằm tìm các vấn đề liên quan đến tính khả dụng trong một bản thiết kế giao diện người dùng, sau đó đề xuất các lựa chọn để khắc phực các vấn đề này và cả thiện tính khả dụng của bản thiết kế.
Điều này có nghĩa là việc kiểm duyệt tính khả dụng thường được tiến hành khi bản thiết kế giao diện đã hoàn thành và tính khả dụng của nó với người dùng cần được đánh giá. Các hoạt động trong quá trình kiểm duyệt gồm: •! Xác định các vấn đề liên quan đến tính khả dụng. •! Đánh giá tính khả dụng. •! Đào tạo và xây dựng đội thiết kế nhằm cải thiện các vấn đề về tính khả dụng.1! Xác định các vấn đề liên quan đến tín khả dụng Các vấn đề liên quan đến tính khả dụng có thể được định nghĩa như các đặc tính của giao diện người dùng vốn có thể làm giảm tính khả dụng của hệ thống đối với người dùng cuối.
Tính khả dụng là một khái niệm khá rộng lớn, về cơ bản khái niệm này nói đến tính dễ hiểu và dễ sử dụng của hệ thống với người dùng.